Bản án số 6/2026/LĐ-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 6/2026/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 6/2026/LĐ-ST ngày 21/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 6/2026/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/08/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị Nga yêu cầu Công ty cổ phần Quảng An I đóng bảo hiếm các loại.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 6/2026/LĐ-ST Bản án số 6/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 6/2026/LĐ-ST Bản án số 6/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 6/2026/LĐ-ST
Ngày: 21-8-2026
V/v “Tranh chấp
về bảo hiểm xã hội”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích
Bà Bùi Thị Lý Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Anh Thi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà
Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét
xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 57/2026/TLST- LĐ ngày 05 tháng 6 năm
2026 về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo
hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
1012/2026/QĐXXST-LĐ ngày 16 tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số
1005/QĐST-LĐ ngày 23 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1992, CCCD số: ************ cấp
ngày 09/01/2022. Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố Đà Nẵng, Số điện thoại:
0934786473. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc O, sinh năm
1980 và bà Huỳnh Thị Phương G, sinh năm 1981 (theo giấy ủy quyền ngày 20/7/2026).
(Bà G có mặt tại phiên tòa)
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần C1; Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp T, xã H, huyện
T, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh); Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu
Văn T, chức vụ: Tổng Giám đốc. (Vắng mặt tại phiên tòa)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C; Đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Kim H
- Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: B - B N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện
theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hoàng Y, sinh năm 1983; CCCD số: ************ cấp
ngày 17/4/2024 - Chức vụ: Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 (Theo giấy ủy
quyền số 548/GUQ-BHXH ngày 30/6/2026); Địa chỉ: B - B N, phường H, thành phố
Đà Nẵng. (Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2
- Ông Lưu Thanh T1, sinh ngày: 18/9/1987 - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh I -
Công ty Cổ phần C2 tại Đà Nẵng; Địa chỉ: Đường H, phường N, thành phố Đà Nẵng.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện ngày 11/01/2026 và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình
bày:
Bà Phạm Thị N vào làm việc tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng
từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 6 năm 2024. Trong quá trình làm việc bà Phạm Thị N
luôn chấp hành nội quy, quy định của Công ty, với công việc là nhân viên bán vé xe
buýt. Đến thời điểm 6/2024 bà N nghỉ việc nhưng Công ty vẫn chưa đóng Bảo hiểm xã
hội cho bà N từ 07/2019 đến tháng 06/2024 (Theo công văn số 766/BHXH - BPQLT
ngày 12/8/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở H1). Cụ thể như sau:
- Cộng các khoản nợ bảo hiểm là 37.346.500 đồng. Trong đó: nợ BHXH là
30.262.500 đồng; nợ BHYT là 4.554.000 đồng; nợ BHTN là 2.024.000 đồng; nợ
BHTNLĐ, BNN là 506.000 đồng.
- Lãi phát sinh tính đến ngày 21/8/2026 là 13.025.596 đồng. Trong đó lãi BHXH
là 10.556.576 đồng; lãi BHYT là 1.746.263 đồng; lãi BHTN là 578.201 đồng, lãi
BHTNLĐ,BNN là 144.556 đồng.
Tổng cộng là: 50.372.096 đồng (Năm mươi triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn,
không trăm chín mươi sáu đồng y).
Nay bà Phạm Thị N yêu cầu Công ty Cổ phần C1 có trách nhiệm đóng tiền nợ
bảo hiểm xã hội cho bà Phạm Thị N theo số tiền thực tế hiện nay do Bảo hiểm xã hội
cơ sở Hòa C cung cấp, để thực hiện chốt sổ Bảo hiểm cho bà N.
*Bị đơn Công ty Cổ phần C1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử,
Quyết định hoãn phiên toà) nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ phần
C1 không đến Tòa án để tham gia các phiên họp, hòa giải... và các phiên tòa theo các
thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lưu Thanh T1 - Giám đốc Chi
nhánh II Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Quyết định hoãn phiên toà) nhưng ông Lưu Thanh T1 không đến Tòa án để tham
gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,….và
3
các phiên tòa theo các thông báo của Tòa án và cũng không có ý kiến trình bày đối với
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở H1 có ý kiến:
Tại Công văn số 553/BHXH-BPQLT ngày 30/6/2026 người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C trình bày:
Bà Phạm Thị N có thời gian tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), tham gia
bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-
BNN) tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng từ tháng 12/2017 đến tháng
5/2020 (30 tháng) và từ tháng 8/2022 đến tháng 06/2024 (23 tháng) do BΗΧΗ Cơ sở
Hòa C trực tiếp thu. Tính đến 30/6/2026, đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN,
BHTNLĐ- BNN cho người lao động và hoàn thành việc trích chuyển các khoản đóng
bảo hiểm nêu trên đến hết tháng 06/2019.
Tại Công văn số 766/BHXH-BPQLT ngày 12/8/2026 của Bảo hiểm xã hội cơ sở
Hòa C đã xác nhận cụ thể tình trạng nợ bảo hiểm của bà Phạm Thị N tính đến ngày
21/8/2026 thì tổng số tiền mà Công ty Cổ phần C1 còn nợ liên quan đến bà Phạm Thị
N (bao gồm BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN) là 37.346.500 đồng. Trong đó:
nợ BHXH là 30.262.500 đồng; nợ BHYT là 4.554.000 đồng; nợ BHTN là 2.024.000
đồng; nợ BHTNLĐ, BNN là 506.000 đồng. Và số tiền lãi chậm đóng tính đến ngày
21/8/2026 là 13.025.596 đồng, trong đó lãi BHXH là 10.556.576 đồng; lãi BHYT là
1.746.263 đồng; lãi BHTN là 578.201 đồng, lãi BHTNLĐ,BNN là 144.556 đồng.
Tổng cộng là: 50.372.096 đồng (Năm mươi triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn,
không trăm chín mươi sáu đồng y)
* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án gồm:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố
tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Theo đó, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật từ thụ lý cho
đến phiên toà xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng khác: Nguyên đơn và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C kể từ khi thụ lý vụ
án cho đến tại phiên tòa là đúng pháp luật, bị đơn Công ty Cổ phần C1 và người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Giám đốc Chi nhánh II Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng
không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật;
- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 48, Điều 168 Bộ luật Lao động; Điều
9, Điều 13, Điều 39, Điều 41 Luật bảo hiểm xã hội; khoản 1 Điều 13, Điều 15 Luật Bảo
hiểm y tế tuyên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, buộc Công ty Cổ phần C1 phải nộp số tiền 50.372.096 đồng tại Bảo hiểm xã hội
4
cơ sở Hòa C để thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm xã hội và giải quyết các chế độ liên
quan cho bà Phạm Thị N và tiếp tục chịu lãi suất chậm đóng theo quy định pháp luật về
bảo hiểm xã hội và các quy định pháp luật có liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét,
thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần C1 thực hiện nghĩa vụ đóng
các khoản bảo hiểm bắt buộc còn thiếu trong thời gian bà làm việc tại Chi nhánh II -
Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng, để cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận quá trình đóng
và giải quyết các chế độ bảo hiểm cho bà. Do đó, xác định đây là vụ án “Tranh chấp về
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp”.
Theo điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp về bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm các tranh chấp quy định tại Điều 32 của Bộ luật này. Trường hợp tranh chấp
phát sinh từ hoạt động của chi nhánh, nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi tổ chức
có chi nhánh giải quyết theo điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 hoạt động tại Đà Nẵng; nguyên đơn lựa chọn
Tòa án nơi chi nhánh hoạt động để khởi kiện. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
[2] Về người tham gia tố tụng và việc xét xử vắng mặt:
Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 là đơn vị phụ thuộc của Công ty Cổ phần C1,
không có tư cách pháp nhân độc lập. Do đó, Công ty Cổ phần C1 là bị đơn trong vụ án.
Ông Lưu Thanh T1 là Giám đốc Chi nhánh I - Công ty Cổ phần C1 tại Đà Nẵng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa ông T1 tham gia tố tụng với tư cách người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và ông Lưu Thanh T1
nhưng những người này không đến Tòa án tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến, tài
liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa, bị đơn và
ông Lưu Thanh T1 tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai và
không có lý do chính đáng, Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa C có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến
hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5
[3] Về yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N:
Bà Phạm Thị N trình bày bà bắt đầu làm việc tại Chi nhánh I - Công ty Cổ phần
C1 tại Đà Nẵng từ tháng 12/2017, công việc là nhân viên bán vé xe buýt. Trong quá
trình làm việc, giữa bà N và Công ty có xác lập quan hệ lao động. Đến tháng 6/2024,
bà N nghỉ việc.
Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội,
quá trình tham gia bảo hiểm của bà N có thời gian Công ty chưa thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định. Việc Công ty chưa hoàn thành
nghĩa vụ đóng bảo hiểm dẫn đến quá trình đóng bảo hiểm của bà N chưa được xác nhận
đầy đủ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.
Theo Điều 168 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động và người lao
động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo
quy định của pháp luật. Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có
trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo khoản 3 Điều 48 Bộ luật
Lao động năm 2019.
Theo Điều 13 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người sử dụng lao động có trách
nhiệm đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động, thực hiện đầy
đủ trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội theo quy định và phối hợp với cơ quan bảo hiểm
xã hội trong việc xác nhận quá trình đóng bảo hiểm cho người lao động. Người sử dụng
lao động không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm đóng bảo hiểm mà
gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thì phải bồi thường theo
quy định của pháp luật.
Do đó, việc Công ty Cổ phần C1 chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng các khoản
bảo hiểm bắt buộc cho bà Phạm Thị N là không đúng quy định pháp luật, làm ảnh hưởng
đến quyền lợi về bảo hiểm của bà N. Yêu cầu của bà N về việc buộc Công ty thực hiện
nghĩa vụ đóng số tiền bảo hiểm còn thiếu để cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận quá trình
đóng và giải quyết chế độ cho bà là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về số tiền Công ty phải đóng:
Tại Công văn số 766/BHXH-BPQLT ngày 12/8/2026, Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa
C xác nhận số tiền Công ty Cổ phần C1 còn phải đóng liên quan đến bà Phạm Thị N là
37.346.500 đồng, gồm: BHXH 30.262.500 đồng; BHYT 4.554.000 đồng; BHTN
2.024.000 đồng; BHTNLĐ, BNN 506.000 đồng; tiền lãi chậm đóng tính đến thời điểm
cơ quan bảo hiểm xã hội xác định là 13.025.596 đồng. Tổng cộng 50.372.096 đồng.
Đây là số liệu do cơ quan chuyên môn trực tiếp quản lý việc thu, đóng bảo hiểm
xã hội xác nhận và cung cấp cho Tòa án. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng
không có ý kiến phản đối, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh đã hoàn thành
nghĩa vụ đóng số tiền nêu trên. Vì vậy, có cơ sở xác định Công ty Cổ phần C1 còn nghĩa
6
vụ đóng số tiền 50.372.096 đồng cho cơ quan bảo hiểm xã hội theo xác nhận của cơ
quan chuyên môn.
Hội đồng xét xử không có cơ sở xác định số tiền trên là khoản tiền bà N được nhận
trực tiếp. Đây là khoản nghĩa vụ đóng bảo hiểm của người sử dụng lao động, được nộp
vào cơ quan bảo hiểm xã hội để ghi nhận quá trình tham gia bảo hiểm và bảo đảm giải
quyết quyền lợi bảo hiểm cho bà N.
Đối với khoản tiền lãi chậm đóng, cơ quan bảo hiểm xã hội đã xác định số tiền lãi
tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2026 là 13.025.596 đồng. Vì vậy, cần buộc Công ty thực
hiện nghĩa vụ nộp số tiền này cùng với số tiền bảo hiểm còn thiếu theo xác nhận của cơ
quan bảo hiểm xã hội.
Đối với thời gian và số liệu chi tiết của quá trình đóng bảo hiểm, việc xác định cụ
thể từng tháng, từng loại bảo hiểm được thực hiện theo hồ sơ quản lý của cơ quan bảo
hiểm xã hội. Trường hợp sau thời điểm cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận mà Công ty
tiếp tục chậm đóng thì Công ty còn phải thực hiện nghĩa vụ đóng và tiền chậm đóng
phát sinh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm.
[5] Đối với ông Lưu Thanh T1:
Nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho người lao động thuộc trách nhiệm của Công ty Cổ
phần C1 với tư cách người sử dụng lao động. Ông Lưu Thanh T1 là Giám đốc Chi nhánh
I nhưng không phải là người có nghĩa vụ độc lập đối với khoản tiền bà N yêu cầu. Vì
vậy, Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm riêng của ông T1 trong vụ án này.
[6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Phạm Thị N, buộc Công ty Cổ phần C1 thực hiện nghĩa vụ đóng số tiền bảo hiểm còn
thiếu theo xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội và tiếp tục chịu lãi suất chậm đóng
theo quy định pháp luật là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và
quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí:
Bà Phạm Thị N là người lao động khởi kiện yêu cầu người sử dụng lao động thực
hiện nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm a
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Yêu cầu của bà N được chấp nhận, Công ty Cổ phần C1 phải chịu án phí lao động
sơ thẩm có giá ngạch theo Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Giá trị nghĩa vụ được chấp nhận là 50.372.096 đồng. Án phí được tính 3% là
1.511.162,88 đồng, làm tròn 1.511.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 32, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 227, Điều
7
228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ Điều 168, khoản 3 Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2019;
Căn cứ Điều 13, Điều 40 và các quy định có liên quan của Luật Bảo hiểm xã hội
số 41/2024/QH15; các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,
bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N đối với Công ty Cổ phần C1
về việc “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp”.
Buộc Công ty Cổ phần C1 phải đóng các khoản bảo hiểm còn thiếu cho bà Phạm
Thị N, theo mã số bảo hiểm xã hội 4820604778, tại Bảo hiểm xã hội cơ sở H1, với tổng
số tiền theo xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Hòa Cường là 50.372.096 đồng (Năm
mươi triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn không trăm chín mươi sáu đồng), gồm: Tiền
BHXH: 30.262.500 đồng; Tiền BHYT: 4.554.000 đồng; Tiền BHTN: 2.024.000 đồng;
Tiền BHTNLĐ, BNN: 506.000 đồng; T2 lãi chậm đóng tính đến ngày 21 tháng 8 năm
2025 là: 13.025.596 đồng.
Công ty Cổ phần C1 có trách nhiệm thực hiện việc đóng số tiền nêu trên cho cơ
quan bảo hiểm xã hội để cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận thời gian đóng bảo hiểm và
giải quyết các chế độ bảo hiểm có liên quan cho bà Phạm Thị N theo quy định pháp
luật.
Kể từ thời điểm cơ quan bảo hiểm xã hội xác định số tiền nêu trên đến khi Công
ty T3 hoàn thành nghĩa vụ đóng, Công ty Cổ phần C1 còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa
vụ đóng và nộp tiền chậm đóng phát sinh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm thất nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan.
2. Về án phí lao động sơ thẩm:
Bà Phạm Thị N được miễn án phí lao động sơ thẩm.
Công ty Cổ phần C1 phải chịu 1.511.000 đồng (Một triệu năm trăm mười một
nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
8
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 2 -Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 2 -Đà Nẵng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trương Thị Hai
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 6/2026/LĐ-ST Bản án số 6/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 6/2026/LĐ-ST Bản án số 6/2026/LĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất