Bản án số 58/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 58/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 58/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 58/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: õ Minh L khởi kiên bà Nguyễn Thị MInh T về HĐMBTS
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG NAI Độc lập – Tự do Hạnh phúc
Bản án số: 58/202/DS-PT
Ngày: 22-01-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào
Bà Phan Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thanh Minh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Đặng Hoàng Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 723/2025/TLPT-DS ngày 12 tháng 12 năm
2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
Do Bản án thẩm số: 208/2025/DS-ST ngày 06-9-2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 1- Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 733/2025/QĐ-PT
ngày 29 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Minh L, sinh năm 1993; địa chỉ trú: Tổ dân
phố G, K, tỉnh Đắk Lắk (địa chỉ cũ: Tổ dân phố G, thị trấn K, huyện K, tỉnh
Đắk Lắk) Huỳnh Thị Lệ Đ, sinh năm 1993; địa chỉ trú: Thôn T, D,
tỉnh Đắk Lắk ịa chỉ cũ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Đăng Q, ông Phạm
Hội Tiến K, cùng địa chỉ liên hệ: 1429 đường V, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh
(địa chỉ cũ: 1429 đường V, V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh); người
đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 15/4/2024, ngày 21/3/2024);
ông Q có mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1997; địa chỉ thường trú:
374/5, tổ I, khu phố I, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: 374/5, tổ I, khu phố
I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) ông Nguyễn Đức T1, sinh năm
1995; địa chỉ thường trú: Tổ F, ấp Đ, T, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: Tổ F, ấp
Đ, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974;
2
địa chỉ cư trú: E Cư xá P, khu phố D, phường T, tỉnh Đồng Nai là người đại diện
theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29/5/2025); có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Võ Minh L, bà Huỳnh Thị Lệ Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện quá trình tố tụng ông Trần Đăng Q
ông Phạm Hội Tiến K người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày:
Ngày 16/7/2023, ông Minh L, bà Huỳnh Thị Lệ Đ Hợp đồng
tiêu thụ nông sản với Nguyễn Thị Thu T, ông Nguyễn Đức T1. Nội dung
chính của hợp đồng: T, ông T1 bán cho ông L, Đ trái Sầu Riêng T3 (đặc
điểm nhận diện là: Cơm lên màu, bội ngọt, da xanh gai nhím), số lượng: 300 tấn
(ba trăm tấn), với giá là: 84.000 đồng/kg đối với Loại I; 69.000 đồng/kg với
Loại II; 44.000 đồng/kg với Loại III. Tổng giá trị toàn bộ hàng hóa nông sản
trên ước tính là 20.000.000.000 đồng. Thời gian giao hàng: Từ ngày 09/8/2023
đến ngày 30/9/2023.
Ngay sau khi hợp đồng trên, ông L, Đ đã đặt cọc trước cho T,
ông T1 số tiền là 1.800.000.000 đồng để T, ông T1 chuẩn bị Sầu Riêng Thái
cho ông L, bà Đ.
Đến thời điểm giao nhận hàng (09/8/2023), T, ông T1 không bàn giao
Sầu Riêng T3 đúng như thỏa thuận của hợp đồng. Sau đó, ông L, Đ đã liên
hệ, yêu cầu bà T, ông T1 giao hàng (Sầu Riêng T) nhưng cả hai đều không thực
hiện. Nhận thấy, hành vi không giao hàng đúng đầy đủ của T, ông T1 đã
vi phạm nghĩa vụ của Hợp đồng tiêu thụ nông sản được ký kết vào ngày
16/7/2023, dẫn đến ông L, Đ cũng không đủ Sầu riêng để giao cho đối tác
theo đúng thỏa thuận nên ông L, bà Đ yêu cầu bà T, ông T1 phải trả cho ông L,
Đ tổng số tiền 7.200.000.000 đồng bao gồm tiền đặt cọc phạt cọc theo
thỏa thuận tại Điều 4 của Hợp đồng nêu trên. Tuy nhiên, T, ông T1 chỉ mới
hoàn trả lại cho ông L, Đ số tiền đặt cọc 1.800.000.000 đồng theo Biên
nhận tiền ngày 26/8/2023, số tiền phạt cọc T, ông T1 không thanh toán ông
L, bà Đ theo đúng thỏa thuận của Hợp đồng.
Yêu cầu khởi kiện: Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Nguyễn Đức T1
nghĩa vụ liên đới trả cho ông Minh L Huỳnh Thị Lệ Đ số tiền bphạt
cọc là 5.400.000.000 đồng do vi phạm Hợp đồng tiêu thụ nông sản ngày
16/7/2023 đủ một lần ngay sau khi phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Ngày 16/7/2023, ông T1, T ông L, Đ cùng thỏa thuận Hợp
đồng tiêu thụ nông sản. Phía ông L, bà Đ tạm ứng số tiền 1.800.000.000
đồng, tạm ứng là việc bên có nghĩa vụ trả tiền hàng trả trước một khoản tiền cho
bên quyền. Đây việc thực hiện trước một phần nghĩa vụ, cụ thể chuyển
giao trước một phần khoản tiền của hợp đồng cho ông T1, bà T.
3
Trong hợp đồng đã mô tả cụ thể việc tạm ứng và phạt hợp đồng, không có
thỏa thuận nào về cọc. Cụ thể tại Điều 4 của hợp đồng đã quy định về phạt hợp
đồng khi vi phạm về: Mức phạt về slượng; mức phạt về không đảm bảo
thời gian; mức phạt về sai phạm địa điểm.
Như vậy, Hợp đồng tiêu thụ nông sản được kết giữa các bên không
bất cứ thỏa thuận về cọc, phạt cọc bên ông L, Đ đã ghi tại Điều 2 của
Hợp đồng tiêu thụ nông sản tạm ứng trả trước giá trị hợp đồng là
1.800.000.000 đồng.
Sau khi hợp đồng, ông T1, bà T đã giao cho ông L, Đ 01 đợt hàng
nhưng bị phía ông L, Đ không chấp nhận cho rằng chất lượng cơm sầu
riêng không đạt và chủ động đề nghị các bên chấm dứt hợp đồng đã ký.
Theo đó, ngày 26/8/2023, hai bên thống nhất chấm dứt hợp đồng đã ký,
bên ông T1, T trả lại số tiền tạm ứng 1.800.000.000 đồng, do bên ông L
viết giấy nên đã cố tình ghi thành chữ cọc làm sai lệch bản chất vấn đề, sau này
đã dùng giấy viết tay này đánh tráo khái niệm để khởi kiện ông T1, bà T.
Hơn nữa, cho nội dung của Giấy viết tay ngày 26/8/2023 do ông L
viết, có ng chữ cọc hay không cũng đã thể hiện ý chí của ông L, Đ
chấm dứt thực hiện Hợp đồng tiêu thụ nông sản chấp nhận nhận lại số tiền
1.800.000.000 đồng là tạm ứng hay cọc cho ông T1, T không còn bất
cứ tranh chấp nào liên quan đến Hợp đồng tiêu thụ nông sản mà các bên đã ký.
Việc các bên mua bán được chị Thị Bảo T4, hàng xóm, bạn buôn của
ông L, Đ môi giới, T4 đã nhận tiền phí môi giới cho hợp đồng này
150.000.000 đồng, trong số tiền này ông L được môi giới T4 đền
50.000.000 đồng.
Như vậy ông L, Đ đã nhận một lần hàng của T, ông T1, được bồi
thường tiền môi giới, đã đồng ý chấm dứt hợp đồng. Các bên đã hoàn thành
nghĩa vụ, chấm dứt các quyền liên quan đến hợp đồng.
vậy đơn khởi kiện của ông Minh L, Huỳnh Thị Lệ Đ không
sở, không chấp nhận nội dung khởi kiện của ông Minh L, Huỳnh
Thị Lệ Đ.
Tại Bản án Dân sthẩm số: 208/2025/DS-ST ngày 06-9-2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 3- Đồng Nai các Điều 422, 430 Bộ luật Dân sự; Điều 37
Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Minh L Huỳnh
Thị Lệ Đ về việc buộc Nguyễn Thị Thu T ông Nguyễn Đức T1 nghĩa
vụ liên đới trả cho ông Minh L Huỳnh Thị Lệ Đ số tiền bị phạt cọc
5.400.000.000 đồng do vi phạm Hợp đồng tiêu thụ nông sản ngày 16/7/2023.
4
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10/9/2025, nguyên đơn ông Võ Minh L, bà Huỳnh Thị Lệ Đ kháng
cáo đề ngh Tòa án cp phúc thm sa bản án thẩm theo hướng chp nhn
yêu cu khi kin của nguyên đơn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia
phiên tòa phúc thẩm:
Về thủ tục ttụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy
định của pháp luật từ khi thụ đến khi xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
đúng thành phần, đảm bảo vô khách quan, trình tự phiên tòa được Hội đồng
xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của nh theo quy định của
pháp luật.
Về đxuất đường lối giải quyết vụ án: Tòa án cấp thẩm xét xử đúng
quy định, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Minh L, Huỳnh Thị
Lệ Đ làm trong thời hạn luật định đã đóng tạm ứng án phí nên được xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Võ Minh L, Huỳnh Thị Lệ Đ nhận thấy:
Ngày 16/7/2023, Minh L, Huỳnh Thị Lệ Đ với Nguyễn Thị Thu
T và ông Nguyễn Đức T1 ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản, nội dung chính của
hợp đồng mua bán Sầu Riêng Thái, số lượng 300 tấn, thời gian giao hàng từ
ngày 09/8/2023 đến ngày 30/9/2023, tổng giá trị hàng hóa nông sản ước tính 20
tỷ đồng; ông L Đ chuyển trước cho ông T1 T số tiền 1.800.000.000 đồng.
Nguyên đơn kháng cáo cho rằng số tiền 1.800.000.000 đồng tiền cọc do bị
đơn vi phạm nên phải phạt cọc. Nhận thấy, tại Điều 2 của Hợp đồng quy
định:“Bên A ứng trước cho bên B (nếu có), vốn cọc 1.800.000.000 đồng.
Nguyên đơn cho rằng số tiền 1.800.000.000 đồng tiền đặt cọc, còn bị đơn xác
định tiền trả trước của hợp đồng. Xét thấy, tại Điều 37 Nghị định
21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định: Trường hợp một bên
trong hợp đồng giao cho bên kia một khoản tiền các bên không xác định
tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì số tiền này được coi tiền trả trước”.
Hợp đồng giữa các bên không có thỏa thuận nào về việc đặt cọc, phạt cọc; trong
Điều 2 của Hợp đồng chỉ thỏa thuận về tiền ứng trước. Do vậy, nguyên đơn
cho rằng số tiền 1.800.000.000 đồng là tiền đặt cọc là không có cơ sở.
5
[3] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về phạt cọc: Tại Điều 4 của Hợp
đồng quy định:“Mức phạt vi phạm hợp đồng về số lượng, giá cả, thời gian
địa điểm, phạt 1 đền 3 . Thấy rằng, trong thời hạn thực hiện hợp đồng, ngày
26/8/2023, ông L viết giấy biên nhận cho bà T, ông T1, nội dung giấy biên nhận
thể hiện:“Nay hai bên không hợp tác với nhau bên B không đủ số lượng Sầu
Riêng giao Bên A. Nên bên B đã chuyển trả lại cho bên A số tiền
1.800.000.000 đồng Bên A đã nhận đủ tiền”. Như vậy, theo thỏa thuận trên
thì trong thời hạn thực hiện hợp đồng, các bên đã thỏa thuận không hợp tác với
nhau và trả lại tiền, đồng thời không phải thực hiện nghĩa vụ nào khác, đây được
xem thỏa thuận chấm dứt hợp đồng giữa các bên theo quy định tại Điều 422
của Bộ luật Dân sự 2015. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
[4] Từ những nhận định trên không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cáp sơ thẩm xác định đúng.
[6] Án phí dân s phúc thm: Kháng cáo ca nguyên đơn ông Võ Minh L,
Huỳnh Thị Lệ Đ không được chp nhn nên mỗi người phi chu 300.000
đồng, được tro tin tm ứng án phí đã nộp.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Minh L, bà Huỳnh
Thị Lệ Đ.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 208/2025/DS-ST ngày 06-9-2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đồng Nai.
Căn cứ các Điều 422, 430 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Minh L Huỳnh
Thị Lệ Đ về việc buộc Nguyễn Thị Thu T ông Nguyễn Đức T1 nghĩa
vụ liên đới trả cho ông Minh L Huỳnh Thị Lệ Đ số tiền bị phạt cọc
5.400.000.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm triệu đồng) do vi phạm Hợp đồng tiêu thụ
nông sản ngày 16/7/2023.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Minh L, Huỳnh Thị Lệ Đ phải
chịu án phí là 113.400.000 đồng (Một trăm mười ba triệu, bốn trăm nghìn đồng),
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.700.000 đồng (Năm mươi sáu
triệu, bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002630 ngày 04/3/2024 của Chi
6
cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay Phòng Thi
hành án dân sKhu vực 1- Đồng Nai. Ông Minh L, Huỳnh Thị Lệ Đ còn
phải nộp tiếp số tiền án phí 56.700.000 đồng (Năm mươi sáu triệu, bảy trăm
nghìn đồng).
3. Án phí dân s phúc thm: Ông Minh L, Huỳnh Thị Lệ Đ mỗi
người phải chịu án phí s tin 300.000 đồng được tr vào tin tm ng án phí
đã nộp theo Biên lai 0008505 ngày 18/11/2025 và Biên lai 0007398 ngày
11/11/2025 ca Phòng Thi hành án dân s Khu vc 3 Đồng Nai.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND Khu vực 1;
- Phòng THADS Khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Nhung
7
8
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phan Thị Thu Hương Phạm Thị Xuân Đ1 Đỗ Thị N
9
10
11
12
13
14
15
16
Tải về
Bản án số 58/2026/DS-PT Bản án số 58/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 58/2026/DS-PT Bản án số 58/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất