Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT ngày 28/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 56A-2026/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT ngày 28/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 56A-2026/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Trước đây bà V khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung và được nhận bằng đất nhưng tại phiên tòa hôm nay bà V xin thay đổi ý kiến là nhận bằng giá trị như sau |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Duy Thuấn
2. Bà Đặng Thị Thu Hằng.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Công Bình – Thư ký Tòa án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị
Xuân Linh Byă - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 317/2025/TLPT-DS ngày 06/10/2025 về việc “Yêu
cầu chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng tín dụng". Do bản án dân sự sơ thẩm số
105/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột
(Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 466/2025/QĐ-PT ngày
05/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 419/2025/QĐ-PT ngày
31/12/2025 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn:
- Bà Phạm Thị V, sinh năm 1974; Địa chỉ: 2 H, tổ A, khối A, phường B, tỉnh
Đắk Lắk – Vằng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà V: Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Hẻm C H, phường T, tỉnh Đắk Lắk - Vằng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).Có
đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 56A/2026/DS-PT
Ngày: 28 - 01 - 2026
V/v: Yêu cầu chia tài sản chung và
tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Công M – Chủ tịch hội đồng quản
trị, Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Như T – Giám đốc Chi nhánh L1,
Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: Số A L, phường B, tỉnh Đăk Lăk.
-Người được ủy quyền lại: Ông Vũ Công N - Trưởng phòng kiểm soát rủi ro-
Chi nhánh L1, Ngân hàng TMCP S.
Địa chỉ: Số A L, phường B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
2.Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1980; Địa chỉ: K, phường B, tỉnh Đắk
Lắk; (Trước đây là: K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;). Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Trần Minh T1, sinh năm 1993; Địa
chỉ: Thôn D, xã D, tỉnh Đắk Lắk; (Trước đây là: Thôn D, xã E, huyện C, tỉnh Đắk
Lắk) – Vắng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1989 và ông Hồ Phúc Q, sinh năm 1979.
Cùng nơi cư trú: Thôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk; (Trước đây là: Thôn B, xã E, huyện K,
tỉnh Đắk Lắk) – Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Trần Văn C, sinh năm 1986; Địa
chỉ: Số nhà A, ngõ D, đường H, phường T, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
-Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986 và ông Trương Tiến D, sinh năm 1980; cùng địa
chỉ: A Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Đều Vắng mặt.
-Ông Hồ Phúc Q; Địa chỉ: Thôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk; (Trước đây là: Thôn B, xã E,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk).
Đại diện theo ủy quyền của ông Q: Ông Trần Văn C; địa chỉ: Số nhà A, ngõ D,
đường H, phường T, thành phố Hà Nội – Vắng mặt.
-Ông Vũ Văn N2, sinh năm 1981 và bà Đặng Thị C1; cùng địa chỉ: C N, phường B,
tỉnh Đắk Lắk - Vắng (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
-Văn phòng C2. Địa chỉ: D L, phường B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1; Địa chỉ: A L, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Công N -Trưởng phòng kiểm soát rủi ro - Chi
nhánh L1, Ngân hàng TMCP S Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Phạm Thị V và đại diện theo ủy quyền của bà V là ông
Nguyễn Quốc B trình bày:
3
Giữa bà Phạm Thị V, Nguyễn Thị Phương L và bà Nguyễn Thị Thu H là bạn
làm ăn với nhau từ rất lâu năm còn bà L và bà H là chị em ruột. Vào ngày 15/7/2019
bà Phạm Thị V có nhận chuyển nhượng phần góp chung của vợ chồng ông Vũ Văn
N2, bà Đặng Thị C1 với bà Nguyễn Thị N1, ông Trương Tiến D và bà Nguyễn Thị
Phương L theo Văn bản thỏa thuận ngày 26/5/2017 gồm có bà Nguyễn Thị N1, ông
Trương Tiến D (Bên A) còn bên B có bà Nguyễn Thị Phương L và ông Vũ Văn N2,
gồm các thửa đất:
Thửa đất số 109, tờ bản đồ 89, diện tích 2086m
2
theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443149 do
UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
Thửa đất số 171, tờ bản đồ 89, diện tích 200,2m
2
theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443150 do
UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
Thửa đất số 172, tờ bản đồ 89, diện tích 1257,2m
2
theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443148 do
UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
Bà V nhận chuyển nhượng phần của ông N2, bà C1 với số tiền
1.700.000.000đồng, thỏa thuận nhận chuyển nhượng một phần của 03 thửa đất chứ
không nhận chuyển nhượng cụ thể thửa đất nào. Bà V đã trả đủ số tiền trên cho vợ
chồng ông N2 bằng hình thức trả tiền mặt và có sự đồng ý của bà N1, ông D và bà L
được thể hiện phần dưới của văn bản có chữ ký của các bên.
Ngày 18/8/2020, giữa bà V với vợ chồng ông D, bà N1 thỏa thuận với nhau về
việc bà V mua lại toàn bộ phần vốn góp của vợ chồng ông D, bà N1 liên quan đến 03
thửa đất trên và bà V đã trả hết tiền cho vợ chồng ông D theo 04 “Giấy nộp tiền”ngày
18/8/2020, tổng số tiền chuyển cho vợ chồng ông D: 1.876.932.000đồng. Tiếp đến,
sau ngày 18/8/2020 bà V bán lại toàn bộ phần vốn góp đã mua của vợ chồng ông D
cho bà H nên ngày 21/8/2020 giữa bà V, bà L với bà H cùng nhau xác lập “Văn bản
thỏa thuận” và đến ngày 14/01/2022 bà H mới trả hết tiền cho bà V số tiền nợ trên
theo Sao kê Ngân hàng bà H chuyển khoản trả 1.200.000.000đ và 500.000.000đ đưa
tiền mặt trả cho bà V nên phần này bà H được quyền sỡ hữu.
Vì vậy, Ngày 21/8/2020, giữa bà V, bà Nguyễn Thị Phương L và bà Nguyễn
Thị Thu H cùng nhau lập Văn bản thỏa thuận tại Văn phòng C2 (không nhớ tên) và
cả 03 thống nhất ra quán cà phê (không nhớ tên) có cả bà N1 để cùng kí văn bản thỏa
thuận tại đây. Bà V không biết văn bản thỏa thuận này lập thành mấy bản nhưng tất
cả nội dung văn bản đều do chị em bà H soạn và đưa cho bà V kí. Sau khi các bên kí
xong thì bà H đưa cho bà V 01 bản có ghi ngày 21/8/2020 còn lại là bà H và bà L giữ.
Nội dung cả 03 người thống nhất như sau: Chúng tôi cùng nhau góp chung một
khoản tiền, mỗi người một phần bằng nhau để nhận chuyển nhượng các thửa đất của
ông Trương Tiến D và bà Nguyễn Thị N1, cụ thể:
4
Thửa đất số 109, tờ bản đồ 89 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443149 do UBND TP ., tỉnh Đắk
Lắk cấp ngày 05/10/2015; Thửa đất số 171, tờ bản đồ 89 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443150
do UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015 và Thửa đất số 172, tờ bản đồ 89
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số: CB 443148 do UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
Bà V, bà L và bà H cùng thỏa thuận: Để cho bà H là người đại diện cho các
đồng sử dụng đứng tên với tư cách là bên nhận chuyển nhượng trong hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nói trên. Hơn nữa, bà H được
quyền thay mặt bà V và bà L làm các thủ tục cần thiết để đăng ký sang tên các quyền
sử dụng đất nói trên tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật. Đồng thời,
bà H được đại diện cho các đồng sử dụng chúng tôi đứng tên trên các giấy chứng
nhận Quyền sử dụng đất nói trên. Sau khi hoàn thành thủ tục sang tên giấy chứng
nhận Quyền sử dụng đất, chúng tôi đồng ý cử bà H đại diện cho chúng tôi đứng ra
vay vốn tại ngân hàng.
Sau đó theo thỏa thuận, sau khi 03 thửa đất đã sang tên cho bà H thì bà H đem
03 thửa đất ra thế chấp tại Ngân hàng S1 chi nhánh L1 vay với số tiền khoảng là
1.830.000.000đồng mỗi người phải chịu nợ số tiền 610.000.000đồng như bà H ghi
vào tờ giấy ngày 05/9/2020. Thỏa thuận vay mỗi người 610 triệu/03 người, tổng cộng
1.830.000.000đồng không thỏa thuận bằng văn bản 03 bên nhưng bà H viết cho bà V
bằng tờ giấy ghi bằng mực đỏ, không kí tên. Mục đích vay để trả tiền 03 thửa đất giải
chấp từ ngân hàng ra còn thiếu. Sau khi bà H vay tiền của ngân hàng về thì bà H
không đưa cho bà V số tiền 610.000.000đồng này, vì các bên đã khấu trừ nợ với nhau
nên bà V không có ý kiến gì với số tiền này.
Thực tế, sau này bà H đã thế chấp 3 thửa đất trên vay của Ngân hàn T3 - Chi
nhánh L1 theo Hợp đồng tín dụng số 202025613965 ký ngày 04/9/2020, số tiền vay:
5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) và theo Hợp đồng tín dụng số 202327214325 ký
ngày 11/9/2023, số tiền vay: 5.500.000.000 đồng. Số tiền này khi bà H vay thì không
thông báo cho bà V biết và bà H cũng không đưa cho bà V số tiền nào.
Tuy nhiên, đến nay chị em bà Nguyễn Thị Phương L và bà Nguyễn Thị Thu H
đã cấu kết với nhau để tạo ra những khoản nợ ảo (không có thật) giữa hai chị em với
nhau, nhằm tẩu tán tài sản, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà V. Do vậy, để đảm
bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bà V nên bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án thụ lý giải
quyết: Phân chia tài sản chung theo đúng văn bản đã thỏa thuận. Cụ thể, 03 thửa đất
chia thành 03 phần, gồm bà V, bà H và bà L mỗi người một phần bằng nhau. Phần bà
V sẽ nhận là một thửa đất số 171, tờ bản đồ 89, diện tích 202,2m
2
theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB
443150 do UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015, theo diện tích đo thực tế
là 1885,8m
2
. Nếu không chia bằng đất thì tôi yêu cầu bà H trả cho bà V giá trị đất
bằng tiền với số tiền theo kết quả định giá tài sản của Tòa án.
5
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dung đất giữa vợ chồng bà N1 với
bà H và các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà H với Ngân hàng
TMCP S thì bà V không có yêu cầu, ý kiến gì.
Đối với lời khai của ông Vũ Văn N2: Là không đúng, không khách quan, ông
N2 là người có đầy đủ năng lực hành vi phải nhận thức được ông chuyển nhượng đất
cho bà V thì ông mới tự viết, ký văn bản thỏa thuận và nhận tiền chuyển nhượng từ
bà V dưới sự chứng kiến của bà L và bà N1.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà V và đại diện theo ủy quyền của bà V trình bày:
Trước đây bà V khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung và được nhận bằng
đất nhưng tại phiên tòa hôm nay bà V xin thay đổi ý kiến là nhận bằng giá trị như
sau: Tổng giá trị tranh chấp đối với thửa đất số 109 + thửa đất số 171 + thửa đất số
172 + tài sản gắn liền với đất = 5.822.300.162 đồng : 3 = 1.940.766.000 đồng
Vậy, cần buộc bà Nguyễn Thị Phương L với bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ
trả cho bà V số tiền 1.940.766.000đồng.
Về hợp đồng tín dụng thi bà V không có ý kiến gì.
2. Đ điện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thu H là ông Trần Văn C trình
bày:
Bà H và bà L là chị em ruột với nhau còn vợ chồng bà N1, D và bà V không có
quan hệ gì.
Bà H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị V yêu cầu phân
chia tài sản chung là thửa đất số 109, 171, 172, tờ bản đồ số 89 tại phường T, thành
phố B. Vì đây không phải là tài sản chung của bà V, bà L và bà H. Đây là tài sản
riêng thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q,
có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ vợ chồng bà Nguyễn Thị N1 và ông Trương
Tiến D. Về Văn bản thỏa thuận 3 bên ký giữa bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị
Phương L và bà Phạm Thị V thì bà H xác nhận 3 bên có ký văn bản này tại quán cà
phê ngày ký văn bản này bà H không nhớ rõ mà bà H xác định sau ngày bà H đã nhận
chuyển nhượng từ bà N1 là ngày 21/8/2020. Mục đích ký văn bản trên để 03 bên
chung vốn với 3 thửa đất trên và trong thỏa thuận các bên thỏa thuận bà H đứng ra
vay vốn ngân hàng, thỏa thuận số tiền vay gốc, lãi suất phát sinh. Thực tế văn bản
thỏa thuận 3 bên không thực hiện nên không có cụ thể số tiền vay, gốc, lãi. Bà V và
bà L không góp tiền cho bà H.
Văn bản thỏa thuận này không ghi ngày tháng năm và các bên đã hủy ngang
không thực hiện, vì bà V và bà L không góp tiền như thỏa thuận. Do tin tưởng bà V
nên bà H đã không yêu cầu hủy và không thu hồi Văn bản thỏa thuận mà bà V cầm.
Trong Văn bản thỏa thuận các bên thỏa thuận nếu có vay vốn Ngân hàng thì các bên
sẽ có thỏa thuận cụ thể về số tiền vay, trả gốc và lãi phát sinh. Thực tế thỏa thuận này
đã không phát sinh vì các bên không thực hiện Văn bản thỏa thuận. Do vậy mới
không có thỏa thuận cụ thể về số tiền vay, trả gốc và lãi phát sinh. Bà H đề nghị bà V
6
cung cấp tài liệu chứng cứ về việc bà V đã góp tiền mua đất với bà H và tài liệu,
chứng cứ chứng minh bà V có trả tiền gốc và lãi vay với Ngân hàng.
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà Nguyễn Thị Thu H và ông
Hồ Phúc Q có ký thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng S1 chi nhánh L1. Toàn bộ tiền
gốc và tiền lãi đều do vợ chồng bà H, ông Q chi trả từ năm 2020 cho đến nay. Vì là
tài sản riêng của mình nên bà H và ông Q chưa bao giờ yêu cầu bà V hay bà L phải
thanh toán tiền gốc và tiền lãi Ngân hàng cùng mình. Từ các lý do nêu trên, bà H đề
nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
đòi chia tài sản chung của bà Phạm Thị V.
Đối với văn bản thỏa thuận ngày 26/5/2017 giữa bà Nguyễn Thị N1, ông Trương
Tiến D và có bà Nguyễn Thị Phương L và ông Vũ Văn N2 đối với 03 thửa đất nêu
trên. Sau đó ông N2, bà C1 bán cho bà V ngày 15/7/2019 là mối quan hệ riêng của
các bên. Vì trong văn bản này chỉ thể hiện bà V nhận tiền của ông N2, bà C1. Lúc
này giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên của vợ chồng bà N1 có thế
chấp vay vốn ngân hàng S. Sau đó được xóa thế chấp ngày 19/8/2020, bà N1 xóa thế
chấp để chuyển nhượng cho bà H, trong hồ sơ của ngân hàng chứng cứ tất toán thể
hiện: Người nộp tiền do bà Phạm Thị V, tổng số tiền là 1.876.932.000đồng, số tiền
này không khớp với số tiền bà V trình bày. Có thể sau khi mối quan hệ giữa bà V, bà
N1, bà L đã giải quyết xong nên bà N1 mới bán cho 01 mình bà H. Bà V cung cấp
bản gốc Văn bản thỏa có ghi ngày, tháng, năm bằng bút mực thì bà H không đồng ý
văn bản này. Đối với tờ giấy ghi ngày 05/9/2020 trên tờ giấy oli kẻ giấy học sinh do
bà V cung cấp không đủ cơ sở để chứng minh bà V có góp tiền chung mua đất với bà
H.
Về ý kiến bà V nói không biết bà H vay 05 tỷ đồng mà các bên chỉ thỏa thuận
vay 1.830.000.000đồng, tôi cho rằng bà V không biết là đúng vì bà V không có trả
tiền gốc, tiền lãi không thỏa thuận cụ thể số tiền vay nên không biết. Mặc dù với giấy
ghi ngày 05/9/2020 trên tờ giấy oli kẻ giấy học sinh do bà V cung cấp trùng với ngày
bà H ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh L1 thì bà V phải biết
bà H vay số tiền 05 tỷ đồng. Nên bản chất bà V không tham gia vay tiền của ngân
hàng cùng với bà H, không trả tiền gốc, lãi cùng với bà Hiền từ ngày 05/9/2020 cho
đến nay. Nếu có thì yêu cầu bà V cung cấp chứng cứ chứng minh.
Nay, bà V yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung là 03 thửa đất thì bà H không
đồng ý với yêu cầu của bà V vì đây là tài sản riêng của vợ chồng bà H, ông Q đã thế
chấp nên cần phải đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1.
Đối với văn bản thỏa thuận ngày 26/5/2017 tại văn phòng C2 cuối trang 6 có
chữ viết tay của ông Vũ Văn N2 và bà Đặng Thị C1 thể hiện: “Ngày 15/7/2017 ông
N2, bà C1 đã nhận của bà V 1,7 tỷ để chuyển nhượng một trong số 03 lô đất” không
có chữ ký của bà V và giữa bà V và vợ chồng ông N2, C1 không có văn bản thỏa
thuận. Nếu có thì bà V có thể khởi kiện vợ chồng N2, bà C1 thành vụ án khác. Bà V
đi khởi kiện giao nộp chứng cứ về việc có sự khác nhau giữa các chứng cứ mà đã bà
7
giao nộp cho Tòa án, cụ thể: Tại văn bản thỏa thuận kèm theo đơn khởi kiện (bút lục
17), văn bản thỏa thuận ghi ngày 21/8/2020 bằng mực tươi, phần chữ kí của các bên
là photo, bút lục số 17 này có nét viết khác với bản gốc của văn bản thỏa thuận mà bà
V đã giao nộp cho tòa án ngày 18/5/2024 nên bà V có sự ngụy tạo làm giả chứng cứ
khởi kiện này.
Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1, bà H và ông Q
có ý kiến: Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1 khởi kiện vợ chồng bà H theo các hợp
đồng tín dụng và các hợp đồng thế chấp nêu trên là hoàn toàn đúng. Hiện nay vợ
chồng bà H còn nợ của Ngân hàng số tiền gốc 8,7 tỷ đồng. Nguyện vọng của vợ
chồng bà H, ông Q chấp nhận thanh toán cho N3 hang số tiền trên. Về lãi trong hạn
và quá hạn: Đề nghị Ngân hàng xem xét, miễm giảm lãi cho vợ chồng bà H, ông Q.
Nếu vợ chồng bà H, ông Q không trả được số tiền nêu trên thì Ngân hàng được
quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
Về đất và tài sản trên đất vợ chồng bà H nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà N1
vẫn giữ nguyên hiện trạng như hiện nay và không thay đổi gì. Phần định giá tài sản
của Hội đồng định giá thì vợ chồng bà H đồng ý với kết quả của Hội đồng định giá
ngày 02/01/2025.
3. Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Phương L là ông Trần Minh
T1 trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà V yêu cầu phân chia tài sản chung đối với 03
thửa đất, gồm thửa đất số 109, 171 và 172 tờ bản đồ số 89, tương đương với 1/3 diện
tích là 1,781,8m
2
đất, bà L có ý kiến: Các thửa đất trên đều đứng tên bà H, bà L
không quản lý, sử dụng, không có quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất trên. Việc
bà V khởi kiện bà L với vai trò là bị đơn là không đúng, đề nghị Tòa án xác định lại
tư cách tham gia tố tụng của bà L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bà L
không đồng ý với nội dung và yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị V, về việc yêu cầu
phân chia tài sản chung đối với 03 thửa đất số 109,171 và 172 tờ bản đồ số 89, tương
đương với 1/3 diện tích là 1,781,8m
2
đất, bởi: Trước đây, vào năm 2020 được biết bà
Nguyễn Thị Thu H có mua 03 thửa đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là
thửa đất số 109, 171 và 172, diện tích cụ thể bao nhiêu thì bà L không nhớ rõ. Vì mối
quan hệ làm ăn chung với bà V và là chị em với bà H nên bà H có hỏi bà L và bà V
có muốn góp vốn mỗi người khoảng 2 tỷ để mua chung 03 thửa đất với bà H không.
Qua tìm hiểu thì được biết bà H mua bán, nhận chuyển nhượng 03 thửa đất trên của
bà N1 và bà L cũng muốn đầu tư vào 03 thửa đất này để kiếm lợi nhuận. Đối với văn
bản thoả thuận đề ngày 21/8/2020 mà bà V cung cấp cho Toà án là tại thời điểm đó
chúng tôi có làm văn bản thoả thuận để góp vốn với bà H. Tuy nhiên, bà L nhớ tại
thời điểm đó, các bên chưa ghi ngày tháng cụ thể trên văn bản thoả thuận vì ba bên
thống nhất khi nào góp đủ tiền cho bà H thì sẽ ghi thời gian cụ thể vào, bà L chỉ nhớ
thời điểm ghi giấy là sau khi bà H đã nhận chuyển nhượng đất từ bà N1. Tuy nhiên
sau đó, vì chúng tôi không thoả thuận được giá trị góp vốn và sau này sợ mua bán
khó nên bà L không góp vốn cho bà H như thoả thuận. Theo lời khai và hồ sơ khởi

8
kiện của bà V tại Toà án, đối với các thửa đất số 109, 171 và 172 tờ bản đồ số 89 theo
03 giấy chứng nhận mà bà V cung cấp thì không phải là tài sản chung của bà L và bà
V vì thực tế chúng tôi chưa thực hiện việc góp vốn như văn bản mà bà V cung cấp.
4. Ông Vũ Công N là đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S- Chi
nhánh L1 trình bày:
Theo hồ sơ đang được lưu trữ tại S1, tháng 08/2020 bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ
Phúc Q đã nhận chuyển nhượng các tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233), số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) và
số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) cùng do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015 từ bà Nguyễn Thị N1 và ông Trương Tiến D.
Để mua được các tài sản này, bà H và ông Q đã đề nghị Ngân hàng S1 chi
nhánh L1 tài trợ cho vay số tiền 5.000.000.000 đồng (bằng chữ: Năm tỷ đồng chẵn).
Đến 31/8/2020, bên mua và bên bán hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng theo quy
định của Pháp luật. Sau khi thẩm định, xem xét các điều kiện cấp tín dụng, Ngân
hàng S1 đã đồng ý cho bà H, ông Q vay số tiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng
chẵn). Chi tiết khoản cấp tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số 202025613965 ký
ngày 04/9/2020; Số tiền vay: 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Nhận nợ vay lần 1
ngày 05/09/2020 theo giấy nhận nợ số LD2024900095 số tiền 4.160.000.000 đồng;
nhận nợ vay lần 2 ngày 08/09/2020 theo giấy nhận nợ số LD2025200228 số tiền
840.000.000 đồng; Thời hạn vay: 20 năm, ngày đáo hạn 05/09/2040; Mục đích sử
dụng vốn: Tiêu dùng chuyển nhượng bất động sản; Lãi suất (%/năm, năm = 365
ngày), lãi suất 03 tháng đầu tiên là 12.6%/năm; Phương thức trả nợ: Lãi trả định kỳ
01 tháng/lần vào ngày 05, vốn gốc trả định kỳ 12 tháng/ lần vào ngày 05. Kỳ trả lãi
đầu tiên là ngày 05/10/2020, kỳ trả nợ gốc đầu tiên là ngày 05/09/2021, kỳ trả nợ
cuối cùng là ngày 05/09/2040, số tiền vốn gốc trả mỗi kỳ là 250.000.000 đồng.
Về Tài sản bảo đảm: Để đảm bảo nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng tín dụng
nêu trên, vợ chồng bà H đã thế chấp cho Ngân hàng S1 04 tài sản là:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 109, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.086m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lăk theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành phố B
cấp ngày 05/10/2015. Người đứng tên Giấy chứng nhận bà Nguyễn Thị Thu H theo
đính chính sang tên ngày 31/8/2020. Ngày 31/8/2020 Ngân hàng S1 định giá tài sản
với giá 2.336.000.000 đồng.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 171, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.002,2m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành phố B
cấp ngày 05/10/2015. Người đứng tên Giấy chứng nhận bà Nguyễn Thị Thu H theo
9
đính chính sang tên ngày 31/8/2020. Ngày 31/8/2020 Ngân hàng S1 định giá tài sản
với giá 2.242.000.000 đồng.
Tài sản 3: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 172, tờ
bản đồ số 89, diện tích 1.257,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành phố B
cấp ngày 05/10/2015. Người đứng tên Giấy chứng nhận bà Nguyễn Thị Thu H theo
đính chính sang tên ngày 31/8/2020. Ngày 31/8/2020 Ngân hàng S1 định giá tài sản
với giá 1.408.000.000 đồng.
Tài sản nêu trên được xác lập giao dịch thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số
430/2020/HĐTCngày 04/9/2020, số công chứng 013105, quyển số 09/TP/CC-
SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B vào lúc 14 giờ 30 phút ngày
04/09/2020.
Tài sản 4: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 416a, tờ
bản đồ số 03, diện tích 245m
2
đất ở tại nông thôn, địa chỉ tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AP 748987 (số vào sổ H00271) do UBND
huyện K cấp ngày 25/10/2009. Người đứng tên Giấy chứng nhận ông Hồ Phúc Q và
bà Nguyễn Thị Thu H theo đính chính sang tên ngày 18/8/2017. Giao dịch thế chấp
được xác lập theo Hợp đồng thế chấp số 429/2020/HĐTC ngày 07/9/2020, số công
chứng 013163, quyển số 09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao
dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K lúc
14 giờ 00 phút ngày 07/09/2020. Ngày 31/8/2020 Ngân hàng S1 định giá tài sản với
giá 1.214.000.000 đồng.
Ngày 22/08/2023 vợ chồng bà H, ông Q có kí kết tiếp Hợp đồng tín dụng số
202327181428 với Ngân hàng S1, số tiền Ngân hàng S1 giải ngân là 3.200.000.000
đồng theo giấy nhận nợ số LD2325600839 ngày 13/09/2023; Mục đích vay: Đầu tư
sản xuất nông nghiệp; Thời hạn vay: 01 năm, ngày đáo hạn 13/09/2024; Lãi suất 03
tháng đầu tiên là 11%/năm, lãi suất hiện tại là 9.4%/năm. Trường hợp chậm trả gốc,
lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và được tính trên phần vốn gốc quá
hạn. Trường hợp chậm trả lãi, lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi
chậm trả. Phương thức trả nợ: Vốn gốc và lãi được trả vào cuối kỳ (ngày 13/9/2024).
Tài sản đảm bảo bao gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất số 338, tờ bản đồ số 89, diện tích 4923,6m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 883806 (số vào sổ CH-
010135) do UBND thành phố B cấp ngày 07/08/2015. Được đăng ký thay đổi cơ sở
pháp lý sang tên cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/7/2017. Giao dịch thế chấp được
xác lập theo Hợp đồng thế chấp số 205/2023/HĐTC ngày 13/9/2023, số công chứng
10
012712, quyển số 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao
dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B.
Theo đề nghị của vợ chồng bà H, ngày 11/09/2023 Ngân hàng S1 đã thực hiện
thu nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản nợ tổng số tiền vốn gốc đã thu là
5.000.000.000 đồng; tổng số tiền lãi phát sinh từ ngày 05/9/2020 đến 11/09/2023 đã
thu là 1.807.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm lẻ bảy triệu đồng chẵn).
Trước khi tất toán khoản vay nêu trên, trong ngày 11/9/2023 Ngân hàng S1 và
vợ chồng bà H đã ký thỏa thuận sửa đổi bổ sung 02 Hợp đồng thế chấp để đảm bảo
cho nghĩa vụ phát sinh theo khoản vay mới. Đối với Hợp đồng tín dụng số
202327214325 ký ngày 11/9/2023: Cụ thể, ngày 11/9/2023 Ngân hàng S1 và vợ
chồng bà H đã ký thỏa thuận sửa đổi bổ sung HĐTC số 430/2020/HĐTC- 02, số công
chứng 012632, quyển số 09/2023 TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2
và Thỏa thuận sửa đổi bổ sung HĐTC số 429/2020/HĐTC- 01, số công chứng
012633, quyển số 09/2023 TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Nghĩa
vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số
202327214325 ký ngày 11/9/2023, chi tiết khoản vay như sau:
- Số tiền vay: 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ đồng); Ngày nhận nợ vay:
12/09/2023 theo giấy nhận nợ số LD2325500061; Thời hạn vay: 01 năm, ngày đáo
hạn 12/09/2024; Mục đích sử dụng vốn: Đầu tư sản xuất nông nghiệp; Lãi suất
(%/năm, năm = 365 ngày): Lãi suất 03 tháng đầu tiên là 11%/năm. Lãi suất các kỳ
tiếp theo được áp dụng thả nổi. Lãi suất hiện tại của khoản nợ là 9.4%/ năm; Phương
thức trả nợ: Vốn gốc và lãi được trả vào ngày đáo hạn 12/9/2024.
Từ các nội dung trình bày ở trên có thể thấy, bà H ông Q đã vay Ngân hàng S1
số tiền 5.000.000.000 đồng để mua tài sản của bà Nguyễn Thị N1 ông Trương Tiến
D, cụ thể tài sản là 03 Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất theo
Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB
443149 (số vào sổ CH-010233), số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) và số số CB
443148 (số vào sổ CH-010232) cùng do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015.
Bên mua và bên bán đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy
định của Pháp luật. Sau đó, bà H ông Q đã thế chấp hợp pháp cho S1 để vay vốn.
Khoản vay mua đất ngày 05/9/2020 đã được bà H ông Q trả hết nợ vào ngày
11/9/2023 và hiện nay các Tài sản sản thế chấp đang được thế chấp hợp pháp tại
Ngân hàng S1 để đảm bảo cho nghĩa vụ nợ của bà H ông Q theo Hợp đồng tín dụng
số 202327214325 ký ngày 11/9/2023. Hiện nay bà V khởi kiện phân chia tài sản
chung với bà H và bà L thì Ngân hàng không biết và không thể biết việc giữa bà V và
bà H có hay không có sự thỏa thuận mua bán chung các tài sản này. Mặt khác, theo
hồ sơ chứng cứ có trong vụ án, các tài sản thế chấp được bà Nguyễn Thị Thu H và
ông Hồ Phúc Q nhận chuyển nhượng hợp pháp. Giao dịch thế chấp giữa Ngân hàng
S1 với bà H ông Q tuân thủ đầy đủ các quy định của Pháp luật nên cần được bảo vệ
trong mọi trường hợp. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xem xét
và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
11
Đối với khoản vay này của vợ chồng bà H đã quá hạn nên Ngân hàng tiến
hàng khởi kiện buộc vợ chồng bà H phải trả tổng cộng số tiền 10.589.112.232 đồng.
Trong đó 8,7 tỷ đồng tiền gốc và lãi suất 1.889.112.232 đồng và tiếp tục chịu lãi từ
ngày 20/6/2025 cho đến trả xong nợ.
Nếu bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q không trả được nợ thì tài sản đã
thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số 205/2023/HĐTC ngày 13/9/2023, số công chứng
012712, quyển số 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao
dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B
ngày 13/09/2023; Hợp đồng thế chấp số 430/2020/HĐTC ngày 04/9/2020, số công
chứng 013105, quyển số 09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao
dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B
vào ngày 04/09/2020 và Hợp đồng thế chấp số 429/2020/HĐTC ngày 07/9/2020, số
công chứng 013163, quyển số 09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2.
Giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện
K ngày 07/09/2020 thì ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án Dân sự có
thẩm quyền phát mãi tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi
hành án.
5. Ông Nguyễn Văn N4 trình bày tại bản tự khai và đơn từ chối tham gia tố
tụng và đề nghị xét xử vắng mặt ngày 29/10/2024 (BL 269 và 269a):
Tôi (Vũ Văn N2), bà Nguyễn Thị N1 và chồng Trương Tiến D, bà Nguyễn Thị
Phương L có mua chung 03 thửa đất: Tờ bản đồ 89, diện tích 2086m
2
tại phường T,
Tp .; Thửa đất số 171, tờ bản đồ 89, diện tích 200,2m
2
và Tờ bản đồ 89, diện tích
1257,2m
2
tại phường T, Tp .. 03 thửa đất trên đều có thời gian sử dụng đất đến năm
2043 và là đất trồng cây lâu năm. Mỗi người góp để mua 03 thửa đất là
1.333.333.000đồng, các bên đồng ý cử bà Nguyễn Thị N1 kí hợp đồng chuyển
nhượng các tài sản nói trên với bên chuyển nhượng là ông Lê Quang M1 và Nguyễn
Thị N1 theo hợp đồng chuyển nhượng lập tại Văn phòng C2. Các bên đồng ý cử bà
N1 liên hệ với Ngân hàng làm thủ tục thế chấp các tài sản ghi tại Điều 1 của văn bản
này để vay số tiền 2 tỷ đồng. Thời gian góp vốn mua là ngày 26/5/2017, cả ba người
mua chung 03 thửa đất, không phân ra ai lấy thửa đất nào. Ngày 15/7/2019 tôi đồng ý
bán lại phần của tôi cho bà Nguyễn Thị Phương L, với giá 1,5 tỷ đồng nhưng bà L
nhờ tôi ghi tên bán cho bà Phạm Thị V tôi không biết mặt. Bà Nguyễn Thị Phương L
là người trả tiền mặt cho tôi. Từ khi bán 03 thửa đất cho bà L cho đến nay tôi hết
trách nhiệm với 03 thửa đất nêu trên. Trong thời gian mua 03 thửa đất trên vợ tôi là
bà Đặng Thị C1 không tham gia chỉ khi bà L yêu cầu lúc nhận tiền thì tôi mới nhờ vợ
ký. Hiện nay vụ kiện giữa bà Phạm Thị V, bà Nguyễn Thị Phương L và bà Nguyễn
Thị Thu H tôi không liên quan gì nên từ chối tham gia tố tụng.
6. Tại đơn trình bày ngày 14/8/2024 bà Nguyễn Thị N1 trình bày:
Tôi được biết bà bà Phạm Thị V khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung với bà
Nguyễn Thị Thu H và bà Nguyễn Thị Phương L do các bên có ký chung một Văn
12
bản thỏa thuận. Trong Văn bản thỏa thuận này tôi có ký tên với tư cách là người làm
chứng. Vì vậy, tôi xin xác nhận thông tin về Văn bản này như sau: Tháng 8/2020, sau
khi đã ký công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 03 thửa đất cho
bà Nguyễn Thị Thu H thì tôi có được nhờ ký làm chứng cho Văn bản thỏa thuận giữa
bà Phạm Thị V, bà Nguyễn Thị Phương L và bà Nguyên Thị Thu H1. Văn bản thỏa
thuận này được ký tại quan café trên đường N, thành phố B. Trên văn bản tôi ký làm
chứng không ghi rõ ngày tháng năm. Tôi chỉ nhớ là ký sau ngày 21/08/2020 - ngày
tôi ký công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị
Thu H. Văn bản thỏa thuận giữa 3 bên được ký sau khi tôi và bà H đã thực hiện xong
thủ tục chuyển nhượng và tôi đã nhận đủ tiền chuyển nhượng từ bà H. Sau khi ký
thỏa thuận 3 bên, giữa bà V, bà L và bà H có thực hiện việc góp tiền chung hay
không thì tôi không biết và không được chứng kiến. Tôi chỉ biết tại ngày ký thỏa
thuận 3 bên còn để trống ngày tháng năm và không có việc góp tiền vào thời điểm ký
thỏa thuận.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk
Lắk) đã quyết định:
Căn cứ Điều 4, Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản
1 Điều 39, Điều 72, Điều 74, Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157,
Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 244 và
Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 207; Điều 208, Điều 209, Điều 216, Điều 218, Điều 219; Điều
220; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 321; Điều 322; Điều 326 Bộ
luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 4; Điều 56; khoản 1 Điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, ngày
29/12/2006 của Chính Phủ quy định về giao dịch bảo đảm;
- Áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Điều 26 và Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận đơn yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của bà Phạm Thị V.
Xác định: Thửa đất số 109, tờ bản đồ số 89, diện tích 2.086m2, đất trồng cây
lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vi đất số CB 443149
(số vào sổ CH-010233) do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho
bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020; Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 89, diện tích
2.002,2m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền vi đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020 và thửa đất số 172,
tờ bản đồ số 89, diện tích 1.257,2m2, đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
13
nhà ở và tài sản khác gắn liền vi đất số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do
UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày
31/8/2020, là tài sản chung của bà Phạm Thị V; bà Nguyễn Thị Phương L và bà
Nguyễn Thị Thu H.Tổng giá trị tài sản là 5.822.300.000 đồng.
+ Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H tiếp tục quản lý, sử dụng: Thửa đất số 109, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.086m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền vi đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành
phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020;
Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 89, diện tích 2.002,2m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ
tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vi đất số CB 443150 (số vào sổ CH-
010234) do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị
Thu H ngày 31/8/2020 và thửa đất số 172, tờ bản đồ số 89, diện tích 1.257,2m2 đất
trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vi đất số CB
443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến
động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải thanh toán lại cho bà Phạm Thị V số tiền
chia tài sản chung là 1.940.767.000đồng.
Thời hạn thanh toán theo trình tự thi hành án Dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS
năm 2015.
[2]. Tách ra khỏi vụ án đối vi phần của bà Nguyễn Thị Phương L góp chung là
1.940.767.000đồng.
[3]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S.
[3.1]. Buộc vợ chồng ông Hồ Phúc Q và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả Ngân
hàng Thương Mại Cổ phần S tổng số tiền là 10.589.112.232 đồng. Trong đó
8.700.000.000đồng tiền gốc và lãi suất tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 1.889.112.232
đồng.
Kể từ ngày 20/6/2025 vợ chồng ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H còn phải
tiếp tục chịu li suất phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng và Khế ưc nhận nợ đ ký
kết vi Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ gốc.
Thời hạn trả: Theo trình tự thi hành án Dân sự.
[3.2]. Về tài sản thế chấp:
Khi nào vợ chồng ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán hết tổng
khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng th Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S có trách
nhiệm trả lại bản gốc các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị
Thu H bao gồm:
14
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền vi đất số BT 883806 (số vào sổ CH-010135) do UBND thành phố B cấp ngày
07/08/2015, biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/7/2017, thửa đất
số 338, tờ bản đồ số 89, diện tích 4923,6m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền vi đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 109, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.086m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền vi đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 171, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.002,2m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền vi đất số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 172, tờ
bản đồ số 89, diện tích 1.257,2m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Trả lại bản gốc các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Thu
H và ông Hồ Phúc Q: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 748987 (số vào sổ
H00271) do UBND huyện K cấp ngày 25/10/2009, biến động cho ông Hồ Phúc Q và
bà Nguyễn Thị Thu H ngày 18/8/2017, thửa đất số 416a, tờ bản đồ số 03, diện tích
245m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nếu bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q không trả được nợ thì tài sản đ
thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số 205/2023/HĐTC ngày 13/9/2023, số công chứng
012712, quyển số 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2; Hợp
đồng thế chấp số 430/2020/HĐTC ngày 04/9/2020, số công chứng 013105, quyển số
09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2 và Hợp đồng thế chấp số
429/2020/HĐTC ngày 07/9/2020, số công chứng 013163, quyển số 09/TP/CC-
SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2 thì Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S có
quyền đề nghị cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản theo quy
định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng
cáo và quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự.
Ngày 03/7/2025, bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q kháng cáo toàn bộ
Bản án sơ thẩm số 105/2025/DSST ngày 19/6/2025 của TAND khu vực I- Đắk Lắk,
với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bác toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên
đơn bà Phạm Thị V.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nội dung đơn khởi kiện; ông Hồ Phúc
Q, bà Nguyễn Thị Thu H giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự vắng
15
mặt tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày tại cấp sơ thẩm, không cung
cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan
điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã tuân thủ đầy đủ và thực hiện đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ, tài liệu được thu thập có
trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H. Giữ nguyên bản
án dân sự sơ thẩm số 105/2025/DSST ngày 19/6/2025 của TAND khu vực 1 – Đắk
Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H làm
trong hạn luật định; đồng thời đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét,
giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt
hoặc vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự đúng theo quy định tại Điều 296 Bộ luật
tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H, Hội
đồng xét xử xét thấy:
Về việc xem xét phân tích, đánh giá chứng cứ của cấp sơ thẩm. Cấp sơ thẩm
phân tích, đánh giá chứng cứ thông qua lời khai của người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn với nội dung: “Ngày 18/8/2020, bà V mua lại của vợ chồng ông D,
bà N1 toàn bộ phần vốn góp của vợ chồng ông D liên quan đến 03 thửa đất trên và
bà V đ trả hết tiền cho vợ chồng ông D theo 04 “Giấy nộp tiền” ngày 18/8/2020,
tổng số tiền chuyển cho vợ chồng ông D: 1.876.932.000 đồng. Sau đó bà V bán lại
phần này cho bà H vi giá 1.700.000.000 đồng”. Nhưng không có chứng cứ chứng
minh như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên cũng như sự
thừa nhận có mua và có bán là đánh giá chứng cứ chưa xác thực. Tuy nhiên, việc
phân tích, đánh giá chứng cứ với nội dung trên không làm thay đổi bản chất của vụ
việc và các chứng cứ có thật do các đương sự cung cấp có trong hồ sơ vụ án. Bởi lẽ,
chứng cứ xác thực chủ sở hữu của các thửa đất số 109, 171, 172, tờ bản đồ số 89
minh chứng qua thời gian cụ thể:
Ngày 26/5/2017, bà Nguyễn Thị N1 và ông Trương Tiến D (bên A); Bà Nguyễn
Thị Phương L (bên B) và ông Vũ Văn N2 (Bên C) cùng ký kết Văn bản thỏa thuận
tại Văn phòng C2 số 00001305/quyển số 05/2027/ TP/CC-SCC/HĐGD, với nội
dung: Bên A; bên B và bên C cùng là những người nhận chuyển nhượng các thửa đất
16
số 109, 171, 172, tờ bản đồ số 89, các thửa đất đã được cấp Giấy CNQSDĐ và tọa
lạc tại thành phố B, mỗi người góp số tiền 1.333.333.000 đồng để nhận chuyển
nhượng; Đồng ý cử bà Nguyễn Thị N1 đứng ra kí kết hợp đồng chuyển nhượng và
đứng tên trên các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Được Chi nhánh văn phòng
đăng kí đất đai thành phố B cập nhật thông tin chủ sở hữu quyền sử dụng đất mang
tên bà Nguyễn Thị N1 vào ngày 30/5/2017 đối với 03 thửa đất nói trên.
Chứng cứ là xác nhận của ông Vũ Văn N2 thể hiện tại trang 06 của Văn bản
thỏa thuận số công chứng số 00001305/quyển số 05/2027/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
26/5/2017 do ông Vũ Văn N2 có viết với nội dung: “Tôi đồng ý bán 03 lô đất cho
chị Phạm Thị V. Từ nay tôi không liên quan đến 03 lô đất theo văn bản thỏa thuận.
Hôm nay ngày 15/7/2019 Tôi Vũ Văn N2 có nhận của chị Phạm Thị V, sinh năm
1974. Số nhà B H, P. T, thành phố B. Có nhận 1.500.000.000 đồng cho 03 lô đất
trong đó 1/3 là của tôi và cộng 200.000.000đồng của bà Nguyễn Thị Phương L vào
ngày 30/5/2019. Nếu có g sai tôi xin chịu trách nhiệm trưc pháp luật”.
Ngoài ra, nguyên đơn bà Phạm Thị V cung cấp chứng cứ chứng minh ngày
18/8/2020 có chuyển khoản cho ông Trương Tiến D 04 lần với tổng số tiền là
1.876.932.000 đồng và khẳng định đây là tiền bà V chuyển tiền cho ông D để nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất nói trên. Trên cơ sở đó, giữa
bà V, bà Nguyễn Thị Phương L và bà Nguyễn Thị Thu H đã lập văn bản thỏa thuận
thống nhất cùng nhau góp chung tiền, mỗi người một phần bằng nhau để nhận
chuyển nhượng các thửa đất của ông Trương Tiến D và bà Nguyễn Thị N1, đồng ý
để bà H là người đại diện cho các đồng sử dụng đất đứng tên với tư cách là bên nhận
chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đồng ý cử bà
H đại diện đứng ra vay vốn tại ngân hàng. Các bên lập văn bản thỏa thuận có sự
chứng kiến của bà Nguyễn Thị N1 là người chuyển nhượng quyền sử dụng 03 thửa
đất trên. Bà N5 xác nhận ký vào văn bản thỏa thuận sau ngày 21/8/2020 là sau ngày
bà V chuyển tiền cho ông D.
Như vậy, đã có căn cứ rõ ràng chứng minh quyền sở hữu chung quyền sử dụng
đất giữa các bên bà Nguyễn Thị Thu H, bà Phạm Thị V và bà Nguyễn Thị Phương L
đối với các thửa đất số 109, 171, 172 tờ bản đồ 89; thửa đất số 109 theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB
443149 do UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015; Thửa đất số 171,
tờ bản đồ 89 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số: CB 443150 do UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày
05/10/2015 và Thửa đất số 172, tờ bản đồ 89 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443148 do UBND
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
Về phía bà Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Phương L cho
rằng; Văn bản thoả thuận đề ngày 21/8/2020 mà bà V cung cấp cho Toà án là tại thời
điểm đó các bên có làm văn bản thoả thuận để cùng nhau góp vốn nhưng các bên
chưa ghi ngày tháng cụ thể trên văn bản thoả thuận vì ba bên thống nhất khi nào góp
17
đủ tiền thì sẽ ghi thời gian cụ thể vào. Do không thoả thuận được giá trị góp vốn và
sợ mua bán khó nên các bên không góp vốn như thoả thuận nhưng tại phiên tòa sơ
thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm bị đơn không cung cấp chứng cứ chứng minh có
sự hủy bỏ văn bản thỏa thuận của các bên bà Nguyễn Thị Thu H, bà Phạm Thị V và
bà Nguyễn Thị Phương L về việc cùng chung quyền sở hữu đối với 03 thửa đất trên.
Đồng thời trong văn bản thỏa thuận cũng không thể hiện nội dung tại thời điểm lập
biên bản không ghi thời gian vào biên bản do chưa góp đủ tiền.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Không có căn
cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn; cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ Phúc Q
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ
Phúc Q. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2025/DSST ngày 19/6/2025 của
Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Căn cứ Điều 207; Điều 208, Điều 209, Điều 216, Điều 218, Điều 219; Điều
220; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 321; Điều 322; Điều 326 Bộ luật
dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội
về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[2.1] Chấp nhận đơn yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của bà Phạm Thị V.
Xác định: Thửa đất số 109, tờ bản đồ số 89, diện tích 2.086m
2
, đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 443149 (số
vào sổ CH-010233) do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho bà
Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020; Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 89, diện tích
2.002,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020 và thửa đất số 172,
tờ bản đồ số 89, diện tích 1.257,2m
2
,
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do
UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày
31/8/2020, là tài sản chung của bà Phạm Thị V; bà Nguyễn Thị Phương L và bà
Nguyễn Thị Thu H.Tổng giá trị tài sản là 5.822.300.000 đồng.
18
+ Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H tiếp tục quản lý, sử dụng: Thửa đất số 109, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.086m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành
phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020;
Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 89, diện tích 2.002,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ
tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 443150 (số vào sổ CH-
010234) do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị
Thu H ngày 31/8/2020 và thửa đất số 172, tờ bản đồ số 89, diện tích 1.257,2m
2
đất
trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB
443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến
động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải thanh toán lại cho bà Phạm Thị V số tiền
chia tài sản chung là 1.940.767.000đồng.
Thời hạn thanh toán theo trình tự thi hành án Dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền li của
số tiền còn phải thi hành án theo mức li suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS
năm 2015.
[2.2] Tách ra khỏi vụ án đối với phần của bà Nguyễn Thị Phương L góp chung
là 1.940.767.000đồng.
[3] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S.
[3.1] Buộc vợ chồng ông Hồ Phúc Q và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả Ngân
hàng Thương Mại Cổ phần S tổng số tiền là 10.589.112.232 đồng. Trong đó
8.700.000.000đồng tiền gốc và lãi suất tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 1.889.112.232
đồng.
Kể từ ngày 20/6/2025 vợ chồng ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H còn phải
tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký
kết với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ gốc.
Thời hạn trả: Theo trình tự thi hành án Dân sự.
[3.2] Về tài sản thế chấp:
Khi nào vợ chồng ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán hết tổng
khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S có trách
nhiệm trả lại bản gốc các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Thu
H bao gồm:
19
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BT 883806 (số vào sổ CH-010135) do UBND thành phố B cấp ngày
07/08/2015, biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/7/2017, thửa đất
số 338, tờ bản đồ số 89, diện tích 4923,6m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường
T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 109, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.086m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 171, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.002,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 172, tờ
bản đồ số 89, diện tích 1.257,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Trả lại bản gốc các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Thu
H và ông Hồ Phúc Q: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 748987 (số vào sổ
H00271) do UBND huyện K cấp ngày 25/10/2009, biến động cho ông Hồ Phúc Q và
bà Nguyễn Thị Thu H ngày 18/8/2017, thửa đất số 416a, tờ bản đồ số 03, diện tích
245m
2
đất ở tại nông thôn, địa chỉ tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nếu bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q không trả được nợ thì tài sản đã
thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số 205/2023/HĐTC ngày 13/9/2023, số công chứng
012712, quyển số 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2; Hợp
đồng thế chấp số 430/2020/HĐTC ngày 04/9/2020, số công chứng 013105, quyển số
09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2 và Hợp đồng thế chấp số
429/2020/HĐTC ngày 07/9/2020, số công chứng 013163, quyển số 09/TP/CC-
SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2 thì Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S có
quyền đề nghị cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản theo quy
định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án.
[4] Về án phí Dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:
[4.1] Về án phí Dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng phân chia tài sản chung:
- Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm 70.223.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 11.988.000đồng tiền chi phí phí xem xét thẩm
định tại chỗ, đo đạc bằng máy và định giá tài sản.
20
- Trả lại cho bà Phạm Thị V chi phí tố tụng 11.988.000đồng sau khi thu được từ
bà Nguyễn Thị Thu H.
- Trả lại cho bà Phạm Thị V số tiền tạm ứng án phí là 36.000.000 đồng đã nộp
theo biên lai số 0004530 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[4.2] Về án phí Dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng của Tranh chấp hợp đồng tín
dụng:
- Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm số
tiền 118.589.112.000 đồng.
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí là 58.816.000 đồng do
Phan Thị Huyền T2 đã nộp theo biên lai số 0013978 ngày 25/10/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột.
- Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q phải chịu án chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ là 3.000.000đồng.
- Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ
3.000.000 đồng sau khi thu được từ bà Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật THADS th người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7,7a và điều 9 Luật THADS;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ Phúc Q mỗi
người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền
300.000 đồng mỗi người đã nộp tạm ứng án phí lần lượt tại các biên lai số 0000471
(bà Nguyễn Thị Thu H nộp), 0000472 (bà Nguyễn Thị Thu H nộp thay ông Hồ Phúc
Q) cùng ngày 28/5/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1 - Đắk Lắk; (Đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị My My
21
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm