Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT ngày 28/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 56A-2026/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT ngày 28/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng
Quan hệ pháp luật: Các tranh chấp dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 56A-2026/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trước đây bà V khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung và được nhận bằng đất nhưng tại phiên tòa hôm nay bà V xin thay đổi ý kiến là nhận bằng giá trị như sau
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Duy Thuấn
2. Bà Đặng Thị Thu Hằng.
Thư ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Công nh Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Th
Xuân Linh Byă - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
thẩm công khai ván thụ số: 317/2025/TLPT-DS ngày 06/10/2025 về việc “Yêu
cầu chia tài sản chung, tranh chấp hợp đồng tín dụng". Do bản án dân sự thẩm s
105/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột
(Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 466/2025/QĐ-PT ngày
05/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 419/2025/QĐ-PT ngày
31/12/2025 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn:
- Phạm Thị V, sinh năm 1974; Địa chỉ: 2 H, tổ A, khối A, phường B, tỉnh
Đắk Lắk Vằng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của V: Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Hẻm C H, phường T, tỉnh Đắk Lắk - Vằng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).Có
đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ngân hàng TMCP S; Địa ch: 2 N, phường X, thành ph H Chí Minh.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 56A/2026/DS-PT
Ngày: 28 - 01 - 2026
V/v: Yêu cầu chia tài sản chung
tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Người đại din theo pháp lut: Ông Dương Công M Ch tch hội đồng qun
tr, Ngân hàng TMCP S.
Địa ch: 2 N, phường X, thành ph H Chí Minh.
Người đại din theo y quyn: Ông Nguyễn Như T Giám đốc Chi nhánh L1,
Ngân hàng TMCP S
Địa ch: S A L, phường B, tnh Đăk Lăk.
-Người được y quyn li: Ông Công N - Trưởng phòng kim soát ri ro-
Chi nhánh L1, Ngân hàng TMCP S.
Địa ch: S A L, phường B, tỉnh Đắk Lk - Vng mt.
2.Bị đơn:
- Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1980; Địa chỉ: K, phường B, tỉnh Đắk
Lắk; (Trước đây là: K, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;). Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của L: Ông Trần Minh T1, sinh năm 1993; Địa
chỉ: Thôn D, D, tỉnh Đắk Lắk; (Trước đây là: Thôn D, E, huyện C, tỉnh Đắk
Lắk) Vắng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1989 ông Hồ Phúc Q, sinh năm 1979.
Cùng nơi cư trú: Thôn B, E, tỉnh Đắk Lắk; (Trước đây là: Thôn B, E, huyện K,
tỉnh Đắk Lắk) Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của H: Ông Trần Văn C, sinh năm 1986; Địa
chỉ: Số nhà A, ngõ D, đường H, phường T, thành phố Hà Nội - Vắng mặt.
3.Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan
-Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1986 ông Trương Tiến D, sinh năm 1980; cùng địa
chỉ: A Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk Đều Vắng mặt.
-Ông Hồ Phúc Q; Địa chỉ: Thôn B, E, tỉnh Đắk Lắk; (Trước đây là: Thôn B, E,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk).
Đại diện theo ủy quyền của ông Q: Ông Trần Văn C; địa chỉ: Số nhà A, ngõ D,
đường H, phường T, thành phố Hà Nội Vắng mặt.
-Ông Văn N2, sinh năm 1981 Đặng Thị C1; cùng địa chỉ: C N, phường B,
tỉnh Đắk Lắk - Vắng (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
-Văn phòng C2. Địa chỉ: D L, phường B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
- Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1; Đa ch: A L, phường B, tỉnh Đắk Lk.
Người đại din theo y quyn: Ông Vũ Công N -Trưởng phòng kim soát ri ro - Chi
nhánh L1, Ngân hàng TMCP S Vng mt.
- Người kháng cáo: Bà Nguyn Th Thu H và ông H Phúc Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn Phạm Thị V đại diện theo ủy quyền của V ông
Nguyễn Quốc B trình bày:
3
Giữa Phạm Thị V, Nguyễn Thị Phương L Nguyễn Thị Thu H bạn
làm ăn với nhau từ rất lâu năm còn L H chị em ruột. Vào ngày 15/7/2019
Phạm Thị V nhận chuyển nhượng phần góp chung của vợ chồng ông Văn
N2, Đặng Thị C1 với Nguyễn Thị N1, ông Trương Tiến D Nguyễn Thị
Phương L theo Văn bản thỏa thuận ngày 26/5/2017 gồm Nguyễn Thị N1, ông
Trương Tiến D (Bên A) còn bên B Nguyễn Thị Phương L ông Văn N2,
gồm các thửa đất:
Thửa đất số 109, tờ bản đ89, diện tích 2086m
2
theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443149 do
UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
Thửa đất số 171, tbản đồ 89, diện tích 200,2m
2
theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443150 do
UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
Thửa đất số 172, tờ bản đồ 89, diện tích 1257,2m
2
theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443148 do
UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
V nhận chuyển nhượng phần của ông N2, C1 với số tiền
1.700.000.000đồng, thỏa thuận nhận chuyển nhượng một phần của 03 thửa đất ch
không nhận chuyển nhượng cụ thể thửa đất nào. V đã trả đủ số tiền trên cho vợ
chồng ông N2 bằng hình thức trả tiền mặt sự đồng ý của bà N1, ông D bà L
được thể hiện phần dưới của văn bản có chữ ký của các bên.
Ngày 18/8/2020, giữa V với vợ chồng ông D, N1 thỏa thuận với nhau về
việc bà V mua lại toàn bộ phần vốn góp của vợ chồng ông D, bà N1 liên quan đến 03
thửa đất trên và bà V đã trả hết tiền cho vợ chồng ông D theo 04 “Giấy nộp tiền”ngày
18/8/2020, tổng số tiền chuyển cho vợ chồng ông D: 1.876.932.000đồng. Tiếp đến,
sau ngày 18/8/2020 V bán lại toàn bộ phần vốn góp đã mua của vợ chồng ông D
cho H nên ngày 21/8/2020 giữa V, L với H cùng nhau xác lập Văn bản
thỏa thuận” và đến ngày 14/01/2022 bà H mới trả hết tiền cho V số tiền nợ trên
theo Sao Ngân ng H chuyển khoản trả 1.200.000.000đ và 500.000.000đ đưa
tiền mặt trả cho bà V nên phần nàyH được quyền sỡ hữu.
vậy, Ngày 21/8/2020, giữa V, Nguyễn Thị Phương L Nguyễn
Thị Thu H cùng nhau lập Văn bản thỏa thuận tại Văn phòng C2 (không nhớ tên)
cả 03 thống nhất ra quán cà phê (không nhớ tên) có cả bà N1 để cùng kí văn bản thỏa
thuận tại đây. V không biết văn bản thỏa thuận này lập thành mấy bản nhưng tất
cả nội dung văn bản đều do chị em H soạn đưa cho bà V kí. Sau khi các bên kí
xong thì bà H đưa cho bà V 01 bản có ghi ngày 21/8/2020 còn lại là bà H và bà L giữ.
Nội dung cả 03 người thống nhất như sau: Chúng tôi cùng nhau góp chung một
khoản tiền, mỗi người một phần bằng nhau đnhận chuyển nhượng các thửa đất của
ông Trương Tiến D và bà Nguyễn Thị N1, cụ thể:
4
Thửa đất số 109, tờ bản đồ 89 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443149 do UBND TP ., tỉnh Đắk
Lắk cấp ngày 05/10/2015; Thửa đất số 171, tờ bản đồ 89 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443150
do UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015 Thửa đất số 172, tờ bản đồ 89
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số: CB 443148 do UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
V, L H cùng thỏa thuận: Để cho H người đại diện cho các
đồng sử dụng đứng tên với cách bên nhận chuyển nhượng trong hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nói trên. Hơn nữa, bà H được
quyền thay mặt bà V L làm các thủ tục cần thiết để đăng ký sang tên các quyền
sử dụng đất nói trên tại quan thẩm quyền theo quy định pháp luật. Đồng thời,
H được đại diện cho các đồng sử dụng chúng tôi đứng tên trên các giấy chứng
nhận Quyền sdụng đất nói trên. Sau khi hoàn thành thủ tục sang tên giấy chứng
nhận Quyền sử dụng đất, chúng tôi đồng ý cử H đại diện cho chúng tôi đứng ra
vay vốn tại ngân hàng.
Sau đó theo thỏa thuận, sau khi 03 thửa đất đã sang tên cho H thì H đem
03 thửa đất ra thế chấp tại Ngân hàng S1 chi nhánh L1 vay với số tiền khoảng
1.830.000.000đồng mỗi người phải chịu nợ số tiền 610.000.000đồng như H ghi
vào tờ giấy ngày 05/9/2020. Thỏa thuận vay mỗi người 610 triệu/03 người, tổng cộng
1.830.000.000đồng không thỏa thuận bằng văn bản 03 bên nhưng H viết cho V
bằng tờ giấy ghi bằng mực đỏ, không kí tên. Mục đích vay để trả tiền 03 thửa đất giải
chấp tngân hàng ra còn thiếu. Sau khi H vay tiền của ngân hàng về thì H
không đưa cho bà V số tiền 610.000.000đồng này, vì các bên đã khấu trừ nợ với nhau
nên bà V không có ý kiến gì với số tiền này.
Thực tế, sau này H đã thế chấp 3 thửa đất trên vay của Ngân hàn T3 - Chi
nhánh L1 theo Hợp đồng tín dụng số 202025613965 ngày 04/9/2020, số tiền vay:
5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 202327214325
ngày 11/9/2023, số tiền vay: 5.500.000.000 đồng. Số tiền này khi H vay thì không
thông báo cho bà V biết và H cũng không đưa cho bà V số tiền nào.
Tuy nhiên, đến nay chị em bà Nguyễn Thị Phương L Nguyễn Thị Thu H
đã cấu kết với nhau để tạo ra những khoản nợ ảo (không thật) giữa hai chị em với
nhau, nhằm tẩu tán tài sản, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà V. Do vậy, để đảm
bảo quyền, lợi ích hợp pháp của V nên V khởi kiện yêu cầu Tòa án thụ giải
quyết: Phân chia tài sản chung theo đúng văn bản đã thỏa thuận. Cụ thể, 03 thửa đất
chia thành 03 phần, gồmV, bà H và bà L mỗi người một phần bằng nhau. Phần bà
V sẽ nhận một thửa đất số 171, tờ bản đồ 89, diện tích 202,2m
2
theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: CB
443150 do UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015, theo diện tích đo thực tế
1885,8m
2
. Nếu không chia bằng đất thì tôi yêu cầu H trả cho V giá trị đất
bằng tiền với số tiền theo kết quả định giá tài sản của Tòa án.
5
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dung đất giữa vợ chồng N1 với
bà H các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà H với Ngân hàng
TMCP S thì bà V không có yêu cầu, ý kiến gì.
Đối với lời khai của ông Văn N2: không đúng, không khách quan, ông
N2 người đầy đủ năng lực hành vi phải nhận thức được ông chuyển nhượng đất
cho V thì ông mới tự viết, văn bản thỏa thuận nhận tiền chuyển nhượng từ
bà V dưới sự chứng kiến của L và bà N1.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà V và đại diện theo ủy quyền của bà V trình bày:
Trước đây V khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản chung được nhận bằng
đất nhưng tại phiên tòa hôm nay V xin thay đổi ý kiến nhận bằng giá trị như
sau: Tổng giá trị tranh chấp đối với thửa đất số 109 + thửa đất số 171 + thửa đất số
172 + tài sản gắn liền với đất = 5.822.300.162 đồng : 3 = 1.940.766.000 đồng
Vậy, cần buộc bà Nguyễn Thị Phương L với bà Nguyễn Thị Thu H có nghĩa vụ
trả cho bà V số tiền 1.940.766.000đồng.
Về hợp đồng tín dụng thi bà V không có ý kiến gì.
2. Đ điện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Thu H ông Trần Văn C trình
bày:
Bà H và bà L chị em ruột với nhau còn vợ chồng bà N1, D và bà V không có
quan hệ gì.
H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị V yêu cầu phân
chia tài sản chung thửa đất s109, 171, 172, tờ bản đồ số 89 tại phường T, thành
phố B. đây không phải tài sản chung của V, L H. Đây tài sản
riêng thuộc quyền sử dụng của vợ chồng Nguyễn Thị Thu H ông HPhúc Q,
nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ vợ chồng bà Nguyễn Thị N1 ông Trương
Tiến D. Về Văn bản thỏa thuận 3 n giữa Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị
Phương L Phạm Thị V thì H xác nhận 3 n văn bản này tại quán cà
phê ngày ký văn bản nàyH không nhớ rõ mà bà H xác định sau ngày bà H đã nhận
chuyển nhượng từ N1 ngày 21/8/2020. Mục đích văn bản trên để 03 bên
chung vốn với 3 thửa đất trên trong thỏa thuận các bên thỏa thuận H đứng ra
vay vốn ngân hàng, thỏa thuận số tiền vay gốc, lãi suất phát sinh. Thực tế văn bản
thỏa thuận 3 bên không thực hiện nên không cụ thể số tiền vay, gốc, lãi. V và
bà L không góp tiền cho bà H.
Văn bản thỏa thuận này không ghi ngày tháng năm các bên đã hủy ngang
không thực hiện, bà V L không góp tiền như thỏa thuận. Do tin ởng V
nên H đã không yêu cầu hủy không thu hồi Văn bản thỏa thuận mà V cầm.
Trong Văn bản thỏa thuận các bên thỏa thuận nếu vay vốn Ngân hàng tcác bên
sẽ có thỏa thuận cụ thể về số tiền vay, trả gốc và lãi phát sinh. Thực tế thỏa thuận này
đã không phát sinh c bên không thực hiện Văn bản thỏa thuận. Do vậy mới
không có thỏa thuận cụ thể về số tiền vay, trả gốc và lãi phát sinh. Bà H đề nghị bà V
6
cung cấp tài liệu chứng cứ về việc V đã góp tiền mua đất với H tài liệu,
chứng cứ chứng minh bà V có trả tiền gốc và lãi vay với Ngân hàng.
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà Nguyễn Thị Thu H ông
Hồ Phúc Q thế chấp để vay vốn tại Ngân hàng S1 chi nhánh L1. Toàn bộ tiền
gốc tiền lãi đều do vợ chồng H, ông Q chi trả từ năm 2020 cho đến nay.
tài sản riêng của mình nên H ông Q chưa bao giờ yêu cầu V hay L phải
thanh toán tiền gốc tiền lãi Ngân hàng cùng mình. Từ các lý do nêu trên, H đề
nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
đòi chia tài sản chung của bà Phạm Thị V.
Đối với văn bản thỏa thuận ngày 26/5/2017 giữa Nguyễn Thị N1, ông Trương
Tiến D Nguyễn Thị Phương L ông Văn N2 đối với 03 thửa đất nêu
trên. Sau đó ông N2, C1 bán cho V ngày 15/7/2019 mối quan hệ riêng của
các bên. trong văn bản này chỉ thể hiện V nhận tiền của ông N2, C1. Lúc
này giấy chứng nhận quyền sdụng đất vẫn đứng tên của vợ chồng N1 thế
chấp vay vốn ngân hàng S. Sau đó được xóa thế chấp ngày 19/8/2020, bà N1 xóa thế
chấp để chuyển nhượng cho H, trong hồ của ngân hàng chứng cứ tất toán thể
hiện: Người nộp tiền do bà Phạm Thị V, tổng số tiền 1.876.932.000đồng, số tiền
này không khớp với số tiền V trình bày. Có thể sau khi mối quan hệ giữa bà V, bà
N1, L đã giải quyết xong nên bà N1 mới bán cho 01 mình H. V cung cấp
bản gốc Văn bản thỏa ghi ngày, tháng, năm bằng bút mực thì bà H không đồng ý
văn bản này. Đối với tờ giấy ghi ngày 05/9/2020 trên tgiấy oli kẻ giấy học sinh do
V cung cấp không đủ cơ sở để chứng minh bà V có góp tiền chung mua đất với bà
H.
Về ý kiến V nói không biết H vay 05 tỷ đồng mà các bên chthỏa thuận
vay 1.830.000.000đồng, tôi cho rằng V không biết đúng bà V không trả
tiền gốc, tiền lãi không thỏa thuận cụ thể số tiền vay nên không biết. Mặc dù với giấy
ghi ngày 05/9/2020 trên tờ giấy oli kẻ giấy học sinh do bà V cung cấp trùng với ngày
bà H ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh L1 thì bà V phải biết
H vay số tiền 05 tỷ đồng. Nên bản chất V không tham gia vay tiền của ngân
hàng cùng với H, không trả tiền gốc, lãi cùng với Hiền từ ngày 05/9/2020 cho
đến nay. Nếu có thì yêu cầu bà V cung cấp chứng cứ chứng minh.
Nay, V yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung 03 thửa đất thì H không
đồng ý với yêu cầu của V vì đây tài sản riêng của vợ chồng H, ông Q đã thế
chấp nên cần phải đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1.
Đối với văn bản thỏa thuận ngày 26/5/2017 tại văn phòng C2 cuối trang 6
chữ viết tay của ông Văn N2 Đặng Thị C1 thể hiện: Ngày 15/7/2017 ông
N2, bà C1 đã nhận của V 1,7 tỷ để chuyển nhượng một trong s03 đất” không
chcủa V giữa V và vợ chồng ông N2, C1 không văn bản thỏa
thuận. Nếu thì V thkhởi kiện vợ chồng N2, C1 thành vụ án khác. V
đi khởi kiện giao nộp chứng cứ vviệc sự khác nhau giữa các chứng cứ mà đã
7
giao nộp cho Tòa án, cụ thể: Tại văn bản thỏa thuận kèm theo đơn khởi kiện (bút lục
17), văn bản thỏa thuận ghi ngày 21/8/2020 bằng mực tươi, phần chữ của các bên
là photo, bút lục số 17 này có nét viết khác với bản gốc của văn bản thỏa thuận mà bà
V đã giao nộp cho tòa án ngày 18/5/2024 nên V sự ngụy tạo làm giả chứng cứ
khởi kiện này.
Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1, bà H ông Q
ý kiến: Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh L1 khởi kiện vợ chồng H theo các hợp
đồng tín dụng các hợp đồng thế chấp nêu trên hoàn toàn đúng. Hiện nay vợ
chồng H còn nợ của Ngân hàng số tiền gốc 8,7 tỷ đồng. Nguyện vọng của vợ
chồng H, ông Q chấp nhận thanh toán cho N3 hang số tiền trên. Về lãi trong hạn
quá hạn: Đề nghị Ngân hàng xem xét, miễm giảm lãi cho vợ chồng H, ông Q.
Nếu vợ chồng H, ông Q không trả được số tiền nêu trên thì Ngân hàng được
quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
Về đất và tài sản trên đất vợ chồng H nhận chuyển nhượng của vợ chồng N1
vẫn giữ nguyên hiện trạng như hiện nay không thay đổi gì. Phần định giá tài sản
của Hội đồng định giá thì vợ chồng H đồng ý với kết quả của Hội đồng định giá
ngày 02/01/2025.
3. Đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị Phương L ông Trần Minh
T1 trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà V yêu cầu phân chia tài sản chung đối với 03
thửa đất, gồm thửa đất số 109, 171 172 tờ bản đồ số 89, tương đương với 1/3 diện
tích 1,781,8m
2
đất, L ý kiến: Các thửa đất trên đều đứng tên H, L
không quản lý, sử dụng, không quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất trên. Việc
V khởi kiện L với vai trò bị đơn không đúng, đề nghị Tòa án xác định lại
cách tham gia tố tụng của L người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. L
không đồng ý với nội dung và yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị V, về việc yêu cầu
phân chia tài sản chung đối với 03 thửa đất số 109,171 và 172 tờ bản đồ số 89, tương
đương với 1/3 diện tích là 1,781,8m
2
đất, bởi: Trước đây, vào năm 2020 được biết bà
Nguyễn Thị Thu H mua 03 thửa đất tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
thửa đất số 109, 171 và 172, diện tích cụ thể bao nhiêu thì L không nhớ rõ. Vì mối
quan hệ làm ăn chung với V là chị em với H nên H hỏi L V
muốn góp vốn mỗi người khoảng 2 tỷ để mua chung 03 thửa đất với H không.
Qua tìm hiểu tđược biết H mua bán, nhận chuyển nhượng 03 thửa đất trên của
N1 và bà L cũng muốn đầu vào 03 thửa đất này để kiếm lợi nhuận. Đối với văn
bản thoả thuận đề ngày 21/8/2020 V cung cấp cho Toà án tại thời điểm đó
chúng tôi làm văn bản thoả thuận đgóp vốn với H. Tuy nhiên, L nhớ tại
thời điểm đó, các bên chưa ghi ngày tháng cụ thể trên văn bản thoả thuận vì ba bên
thống nhất khi nào góp đủ tiền cho H thì sẽ ghi thời gian cụ thể vào, L chỉ nhớ
thời điểm ghi giấy sau khi H đã nhận chuyển nhượng đất từ N1. Tuy nhiên
sau đó, chúng tôi không thoả thuận được giá trị góp vốn sau này sợ mua bán
khó nên bà L không góp vốn cho H như thoả thuận. Theo lời khai hồ sơ khởi
8
kiện của bà V tại Toà án, đối với các thửa đất số 109, 171 và 172 tờ bản đồ số 89 theo
03 giấy chứng nhận mà V cung cấp thì không phải là tài sản chung của L và
V vì thực tế chúng tôi chưa thực hiện việc góp vốn như văn bản mà bà V cung cấp.
4. Ông Công N đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S- Chi
nhánh L1 trình bày:
Theo hồ sơ đang được lưu trữ tại S1, tháng 08/2020 bà Nguyễn Thị Thu Hông Hồ
Phúc Q đã nhận chuyển nhượng các i sản Quyền sdụng đất tài sản gắn liền
với đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233), số CB 443150 (số vào sổ CH-010234)
số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) cùng do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015 từ bà Nguyễn Thị N1 và ông Trương Tiến D.
Để mua được các tài sản này, H ông Q đã đề nghị Ngân hàng S1 chi
nhánh L1 tài trợ cho vay số tiền 5.000.000.000 đồng (bằng chữ: Năm tỷ đồng chẵn).
Đến 31/8/2020, bên mua bên bán hoàn tất các thủ tục chuyển nhượng theo quy
định của Pháp luật. Sau khi thẩm định, xem xét các điều kiện cấp tín dụng, Ngân
hàng S1 đã đồng ý cho H, ông Q vay stiền 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng
chẵn). Chi tiết khoản cấp tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng số 202025613965
ngày 04/9/2020; Số tiền vay: 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Nhận nợ vay lần 1
ngày 05/09/2020 theo giấy nhận nợ số LD2024900095 số tiền 4.160.000.000 đồng;
nhận nợ vay lần 2 ngày 08/09/2020 theo giấy nhận nợ số LD2025200228 số tiền
840.000.000 đồng; Thời hạn vay: 20 năm, ngày đáo hạn 05/09/2040; Mục đích sử
dụng vốn: Tiêu dùng chuyển nhượng bất động sản; Lãi suất (%/năm, năm = 365
ngày), lãi suất 03 tháng đầu tiên 12.6%/năm; Phương thức trả nợ: Lãi trả định kỳ
01 tháng/lần vào ngày 05, vốn gốc trả định kỳ 12 tháng/ lần vào ngày 05. Kỳ trả lãi
đầu tiên ngày 05/10/2020, ktrả nợ gốc đầu tiên ngày 05/09/2021, kỳ trả nợ
cuối cùng là ngày 05/09/2040, số tiền vốn gốc trả mỗi kỳ là 250.000.000 đồng.
Về Tài sản bảo đảm: Để đảm bảo nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng tín dụng
nêu trên, vợ chồng bà H đã thế chấp cho Ngân hàng S1 04 tài sản là:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 109, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.086m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lăk theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành phố B
cấp ngày 05/10/2015. Người đứng tên Giấy chứng nhận Nguyễn Thị Thu H theo
đính chính sang tên ngày 31/8/2020. Ngày 31/8/2020 Ngân hàng S1 định giá tài sản
với giá 2.336.000.000 đồng.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 171, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.002,2m2 đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành phố B
cấp ngày 05/10/2015. Người đứng tên Giấy chứng nhận Nguyễn Thị Thu H theo
9
đính chính sang tên ngày 31/8/2020. Ngày 31/8/2020 Ngân hàng S1 định giá tài sản
với giá 2.242.000.000 đồng.
Tài sản 3: Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 172, tờ
bản đsố 89, diện tích 1.257,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành phố B
cấp ngày 05/10/2015. Người đứng tên Giấy chứng nhận Nguyễn Thị Thu H theo
đính chính sang tên ngày 31/8/2020. Ngày 31/8/2020 Ngân hàng S1 định giá tài sản
với giá 1.408.000.000 đồng.
Tài sản nêu trên được xác lập giao dịch thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số
430/2020/HĐTCngày 04/9/2020, số công chứng 013105, quyển số 09/TP/CC-
SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao dịch bảo đảm đã được đăng tại
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố B vào lúc 14 giờ 30 phút ngày
04/09/2020.
Tài sản 4: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 416a, tờ
bản đồ số 03, diện tích 245m
2
đất ở tại nông thôn, địa chỉ tại E, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AP 748987 (số vào sổ H00271) do UBND
huyện K cấp ngày 25/10/2009. Người đứng tên Giấy chứng nhận ông Hồ Phúc Q
Nguyễn Thị Thu H theo đính chính sang tên ngày 18/8/2017. Giao dịch thế chấp
được xác lập theo Hợp đồng thế chấp số 429/2020/HĐTC ngày 07/9/2020, số công
chứng 013163, quyển số 09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao
dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K lúc
14 giờ 00 phút ngày 07/09/2020. Ngày 31/8/2020 Ngân hàng S1 định giá tài sản với
giá 1.214.000.000 đồng.
Ngày 22/08/2023 vợ chồng H, ông Q kết tiếp Hợp đồng tín dụng số
202327181428 với Ngân hàng S1, số tiền Ngân hàng S1 giải ngân 3.200.000.000
đồng theo giấy nhận nợ số LD2325600839 ngày 13/09/2023; Mục đích vay: Đầu
sản xuất nông nghiệp; Thời hạn vay: 01 năm, ngày đáo hạn 13/09/2024; Lãi suất 03
tháng đầu tiên 11%/năm, lãi suất hiện tại 9.4%/năm. Trường hợp chậm trả gốc,
lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn được tính trên phần vốn gốc quá
hạn. Trường hợp chậm trả lãi, lãi suất chậm trả bằng 10%/năm nh trên slãi
chậm trả. Phương thức trả nợ: Vốn gốc và lãi được trả vào cuối kỳ (ngày 13/9/2024).
Tài sản đảm bảo bao gồm: Quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất số 338, tờ bản đồ số 89, diện tích 4923,6m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BT 883806 (số vào sổ CH-
010135) do UBND thành phố B cấp ngày 07/08/2015. Được đăng thay đổi sở
pháp lý sang tên cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/7/2017. Giao dịch thế chấp được
c lập theo Hợp đồng thế chấp số 205/2023/HĐTC ngày 13/9/2023, scông chứng
10
012712, quyển số 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao
dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B.
Theo đề nghị của vợ chồng H, ngày 11/09/2023 Ngân hàng S1 đã thực hiện
thu nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản nợ tổng số tiền vốn gốc đã thu
5.000.000.000 đồng; tổng số tiền lãi phát sinh từ ngày 05/9/2020 đến 11/09/2023 đã
thu là 1.807.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm lẻ bảy triệu đồng chẵn).
Trước khi tất toán khoản vay nêu trên, trong ngày 11/9/2023 Ngân hàng S1
vợ chồng H đã thỏa thuận sửa đổi bổ sung 02 Hợp đồng thế chấp để đảm bảo
cho nghĩa vụ phát sinh theo khoản vay mới. Đối với Hợp đồng tín dụng số
202327214325 ngày 11/9/2023: Cụ thể, ngày 11/9/2023 Ngân hàng S1 và vợ
chồng bà H đã ký thỏa thuận sửa đổi bổ sung HĐTC số 430/2020/HĐTC- 02, số công
chứng 012632, quyển số 09/2023 TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại n phòng C2
và Thỏa thuận sửa đổi bổ sung HĐTC số 429/2020/HĐTC- 01, số công chứng
012633, quyển số 09/2023 TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Nghĩa
vụ được bảo đảm toàn bộ nghĩa vụ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số
202327214325 ký ngày 11/9/2023, chi tiết khoản vay như sau:
- Số tiền vay: 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ đồng); Ngày nhận nợ vay:
12/09/2023 theo giấy nhận nợ số LD2325500061; Thời hạn vay: 01 năm, ngày đáo
hạn 12/09/2024; Mục đích sử dụng vốn: Đầu sản xuất nông nghiệp; Lãi suất
(%/năm, năm = 365 ngày): Lãi suất 03 tháng đầu tiên 11%/năm. Lãi suất các kỳ
tiếp theo được áp dụng thả nổi. Lãi suất hiện tại của khoản n9.4%/ năm; Phương
thức trả nợ: Vốn gốc và lãi được trả vào ngày đáo hạn 12/9/2024.
Từ các nội dung trình bày ở trên có thể thấy, bà H ông Q đã vay Ngân hàng S1
số tiền 5.000.000.000 đồng để mua tài sản của Nguyễn Thị N1 ông Trương Tiến
D, cụ thể tài sản 03 Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất theo
Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CB
443149 (số vào sổ CH-010233), số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) số số CB
443148 (số vào sCH-010232) cùng do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015.
Bên mua bên bán đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy
định của Pháp luật. Sau đó, H ông Q đã thế chấp hợp pháp cho S1 để vay vốn.
Khoản vay mua đất ngày 05/9/2020 đã được H ông Q trả hết nợ vào ngày
11/9/2023 hiện nay các Tài sản sản thế chấp đang được thế chấp hợp pháp tại
Ngân hàng S1 đđảm bảo cho nghĩa vụ nợ của H ông Q theo Hợp đồng tín dụng
số 202327214325 ngày 11/9/2023. Hiện nay V khởi kiện phân chia tài sản
chung với bà H và bà L thì Ngân hàng không biết và không thể biết việc giữa bà V
H hay không sự thỏa thuận mua bán chung các tài sản này. Mặt khác, theo
hồ chứng cứ trong vụ án, các tài sản thế chấp được Nguyễn Thị Thu H
ông Hồ Phúc Q nhận chuyển nhượng hợp pháp. Giao dịch thế chấp giữa Ngân hàng
S1 với H ông Q tuân thủ đầy đcác quy định của Pháp luật nên cần được bảo vệ
trong mọi trường hợp. Đề nghTòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xem xét
và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
11
Đối với khoản vay này của vợ chồng H đã quá hạn nên Ngân hàng tiến
hàng khởi kiện buộc vợ chồng H phải trả tổng cộng số tiền 10.589.112.232 đồng.
Trong đó 8,7 tỷ đồng tiền gốc lãi suất 1.889.112.232 đồng tiếp tục chịu lãi từ
ngày 20/6/2025 cho đến trả xong nợ.
Nếu Nguyễn Thị Thu H và ông Hồ Phúc Q không trả được nợ thì tài sản đã
thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số 205/2023/HĐTC ngày 13/9/2023, số công chứng
012712, quyển số 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao
dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B
ngày 13/09/2023; Hợp đồng thế chấp số 430/2020/HĐTC ngày 04/9/2020, số công
chứng 013105, quyển số 09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2. Giao
dịch bảo đảm đã được đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B
vào ngày 04/09/2020 và Hợp đồng thế chấp số 429/2020/HĐTC ngày 07/9/2020, số
công chứng 013163, quyển số 09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2.
Giao dịch bảo đảm đã được đăng tại Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện
K ngày 07/09/2020 thì ngân hàng quyền đề nghị quan thi hành án Dân sự
thẩm quyền phát mãi tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi
hành án.
5. Ông Nguyễn Văn N4 trình bày tại bản tự khai đơn từ chối tham gia tố
tụng và đề nghị xét xử vắng mặt ngày 29/10/2024 (BL 269 và 269a):
Tôi (Vũ Văn N2), Nguyễn Thị N1 chồng Trương Tiến D, bà Nguyễn Thị
Phương L mua chung 03 thửa đất: Tờ bản đồ 89, diện tích 2086m
2
tại phường T,
Tp .; Thửa đất số 171, tbản đồ 89, diện ch 200,2m
2
Tờ bản đồ 89, diện tích
1257,2m
2
tại phường T, Tp .. 03 thửa đất trên đều thời gian sử dụng đất đến năm
2043 đất trồng cây lâu năm. Mỗi người góp để mua 03 thửa đất
1.333.333.000đồng, các bên đồng ý cử bà Nguyễn Thị N1 kí hợp đồng chuyển
nhượng các tài sản nói trên với bên chuyển nhượng ông Quang M1 Nguyễn
Thị N1 theo hợp đồng chuyển nhượng lập tại Văn phòng C2. Các bên đồng ý cử
N1 liên hệ với Ngân hàng làm thủ tục thế chấp các i sản ghi tại Điều 1 của văn bản
này để vay stiền 2 tỷ đồng. Thời gian góp vốn mua ngày 26/5/2017, cả ba người
mua chung 03 thửa đất, không phân ra ai lấy thửa đất nào. Ngày 15/7/2019 tôi đồng ý
bán lại phần của tôi cho Nguyễn Thị Phương L, với g1,5 tỷ đồng nhưng L
nhờ tôi ghi tên bán cho bà Phạm Thị V tôi không biết mặt. Nguyễn Thị Phương L
người trả tiền mặt cho tôi. Từ khi bán 03 thửa đất cho L cho đến nay tôi hết
trách nhiệm với 03 thửa đất nêu trên. Trong thời gian mua 03 thửa đất trên vợ tôi là
Đặng Thị C1 không tham gia chỉ khi bà L yêu cầu lúc nhận tiền thì tôi mới nhờ vợ
ký. Hiện nay vụ kiện giữa Phạm Thị V, Nguyễn Thị Phương L và Nguyễn
Thị Thu H tôi không liên quan gì nên từ chối tham gia tố tụng.
6. Tại đơn trình bày ngày 14/8/2024 bà Nguyễn Thị N1 trình bày:
Tôi được biết bà Phạm Thị V khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung với
Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Thị Phương L do các bên chung một Văn
12
bản thỏa thuận. Trong Văn bản thỏa thuận này tôi có tên với tư cách người làm
chứng. Vì vậy, tôi xin xác nhận thông tin về Văn bản này như sau: Tháng 8/2020, sau
khi đã công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 03 thửa đất cho
Nguyễn Thị Thu H thì tôi có được nhờ ký làm chứng cho Văn bản thỏa thuận giữa
Phạm Thị V, Nguyễn Thị Phương L Nguyên Thị Thu H1. Văn bản thỏa
thuận này được tại quan café trên đường N, thành phố B. Trên văn bản tôi ký làm
chứng không ghi ngày tháng năm. Tôi chỉ nhớ sau ngày 21/08/2020 - ngày
tôi công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Nguyễn Thị
Thu H. Văn bản thỏa thuận giữa 3 bên được ký sau khi tôi và bà H đã thực hiện xong
thủ tục chuyển nhượng tôi đã nhận đủ tiền chuyển nhượng từ H. Sau khi
thỏa thuận 3 bên, giữa V, bà L H thực hiện việc góp tiền chung hay
không thì tôi không biết và không được chứng kiến. Tôi chỉ biết tại ngày thỏa
thuận 3 bên còn để trống ngày tháng năm và không có việc góp tiền vào thời điểm ký
thỏa thuận.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2025/DS-ST ngày 19/6/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (Nay Tòa án nhân dân khu vực 1 Đắk
Lắk) đã quyết định:
Căn cứ Điều 4, Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, đim a khon
1 Điều 39, Điều 72, Điều 74, Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điu 157,
Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 244 và
Điu 266 ca B lut t tng dân s.
- Căn cứ Điều 207; Điều 208, Điều 209, Điều 216, Điều 218, Điều 219; Điều
220; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điu 321; Điều 322; Điều 326 B
lut dân s năm 2015;
- Áp dụng Điều 4; Điều 56; khoản 1 Điều 58 Ngh định 163/2006/NĐ-CP, ngày
29/12/2006 ca Chính Ph quy định v giao dch bảo đảm;
- Áp dụng Điều 91, 95 Lut các t chc tín dng;
- Điều 26 Điều 27 ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca
Quc hi v án phí, l phí Tòa án.
Tuyên x:
[1]. Chp nhận đơn yêu cầu thay đổi đơn khởi kin ca bà Phm Th V.
Xác định: Thửa đất s 109, t bản đồ s 89, diện tích 2.086m2, đất trng cây
lâu năm, địa ch tại png T, thành ph B, tỉnh Đắk Lk theo Giy chng nhn
quyn s dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vi đất số CB 443149
(số vào sổ CH-010233) do UBND thành ph B cp ngày 05/10/2015, biến động cho
Nguyn Th Thu H ngày 31/8/2020; Thửa đất s 171, t bản đồ s 89, din tích
2.002,2m2 đất trồng cây lâu năm, đa chtại phưng T, thành ph B, tỉnh Đắk Lk
theo Giy chng nhn quyn s dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền vi đất số CB 443150 (số vào sCH-010234) do UBND thành ph B cp ngày
05/10/2015, biến động cho Nguyn Th Thu H ngày 31/8/2020 thửa đất s 172,
t bản đồ s 89, diện tích 1.257,2m2, đất trồng cây lâu năm, đa chtại phường T,
thành ph B, tnh Đắk Lk theo Giy chng nhn quyn s dụng đất quyền sở hữu
13
nhà tài sản khác gắn liền vi đất s CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do
UBND thành ph B cp ngày 05/10/2015, biến động cho bà Nguyn Th Thu H ngày
31/8/2020, tài sn chung ca Phm Th V; Nguyn Th Phương L
Nguyn Th Thu H.Tng giá tr tài sản là 5.822.300.000 đồng.
+ Giao cho bà Nguyn Th Thu H tiếp tc qun lý, s dng: Thửa đt s 109, t
bản đồ s 89, diện tích 2.086m2 đất trng cây lâu năm, địa chtại phường T, thành
ph B, tỉnh Đắk Lk theo Giy chng nhn quyn s dụng đất quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền vi đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành
ph B cp ngày 05/10/2015, biến động cho Nguyn Th Thu H ngày 31/8/2020;
Thửa đt s 171, t bản đồ s 89, diện tích 2.002,2m2 đất trồng cây lâu năm, đa ch
tại phường T, thành ph B, tỉnh Đắk Lk theo Giy chng nhn quyn s dụng đt
quyền shữu nhà tài sản khác gắn liền vi đất sCB 443150 (số vào sổ CH-
010234) do UBND thành ph B cp ngày 05/10/2015, biến động cho Nguyn Th
Thu H ngày 31/8/2020 thửa đất s 172, t bản đồ s 89, diện tích 1.257,2m2 đất
trồng cây lâu năm, địa chtại phường T, thành ph B, tỉnh Đắk Lk theo Giy chng
nhn quyn s dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền vi đất sCB
443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành ph B cp ngày 05/10/2015, biến
động cho bà Nguyn Th Thu H ngày 31/8/2020.
+ Buc Nguyn Th Thu H phi thanh toán li cho Phm Th V s tin
chia tài sản chung là 1.940.767.000đồng.
Thi hn thanh toán theo trình t thi hành án Dân s.
K t ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, hàng tháng bên phi thi hành án còn phi chu khon tin lãi ca
s tin còn phi thi hành án theo mc lãi suất quy định ti khoản 2 Điều 468 BLDS
năm 2015.
[2]. Tách ra khi v án đối vi phn ca bà Nguyn Th Phương L góp chung là
1.940.767.000đồng.
[3]. Chp nhn yêu cu khi kin ca Ngân hàng Thương Mại C phn S.
[3.1]. Buc v chng ông H Phúc Q Nguyn Th Thu H phi tr Ngân
hàng Thương Mại C phn S tng s tiền 10.589.112.232 đồng. Trong đó
8.700.000.000đồng tin gc và lãi sut tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 1.889.112.232
đồng.
Kể từ ngày 20/6/2025 v chng ông H Phúc Q, Nguyn Th Thu H còn phi
tiếp tc chịu li suất phát sinh theo các Hợp đồng tín dng và Khế ưc nhn n đ ký
kết vi Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ gốc.
Thi hn tr: Theo trình t thi hành án Dân s.
[3.2]. V tài sn thế chp:
Khi nào vợ chng ông H Phúc Q, bà Nguyn Th Thu H thanh toán hết tổng
khon n nêu trên cho Ngân hàng th Ngân hàng Thương Mại C phn S trách
nhiệm trả lại bản gc các giy chng nhn quyn s dụng đất cho Nguyn Th
Thu H bao gm:
14
Giy chng nhn quyn s dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền vi đất số BT 883806 (số vào sổ CH-010135) do UBND thành ph B cp ngày
07/08/2015, biến động sang tên cho Nguyn Th Thu H ngày 31/7/2017, thửa đất
s 338, t bản đồ s 89, diện tích 4923,6m2 đất trồng cây lâu năm, đa ch tại
phường T, thành ph B, tỉnh Đắk Lk theo.
Giy chng nhn quyn s dụng đất quyền shữu nhà tài sản khác gắn
liền vi đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành ph B cp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyn Th Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất s 109, t
bản đồ s 89, diện tích 2.086m2 đất trồng cây lâu năm, địa chtại phường T, thành
ph B, tỉnh Đắk Lk.
Giy chng nhn quyn s dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền vi đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành ph B cp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyn Th Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất s 171, t
bản đồ s 89, diện tích 2.002,2m2 đt trồng cây lâu năm, địa chtại phường T, thành
ph B, tỉnh Đắk Lk.
Giy chng nhn quyn s dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền vi đất số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành ph B cp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyn Th Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất s 172, t
bản đồ s 89, diện tích 1.257,2m2 đt trồng cây lâu năm, địa chtại phường T, thành
ph B, tỉnh Đắk Lk.
Trả lại bản gc các giy chng nhn quyn s dụng đất cho bà Nguyn Th Thu
H ông H Phúc Q: Giy chng nhn quyn s dụng đất sAP 748987 (số vào sổ
H00271) do UBND huyn K cp ngày 25/10/2009, biến động cho ông H Phúc Q
Nguyn Th Thu H ngày 18/8/2017, thửa đất s 416a, t bản đ s 03, din tích
245m2 đất tại nông thôn, địa chỉ tại xã E, huyn K, tỉnh Đắk Lk.
Nếu Nguyn Th Thu H ông H Phúc Q không tr đưc n thì tài sản đ
thế chp ti Hợp đồng thế chp s 205/2023/HĐTC ngày 13/9/2023, số công chng
012712, quyn s 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng ti Văn phòng C2; Hp
đồng thế chp s 430/2020/HĐTC ngày 04/9/2020, s công chng 013105, quyn s
09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng ti Văn phòng C2 Hợp đồng thế chp s
429/2020/HĐTC ngày 07/9/2020, s công chng 013163, quyn s 09/TP/CC-
SCC/HĐGD công chứng ti n phòng C2 thì Ngân hàng Thương Mại C phn S
quyền đề ngh quan thi hành án Dân s thm quyn phát mãi tài sn theo quy
định ca pháp luật để đảm bo cho vic thi hành án.
- Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên v án phí, chi phí t tng, quyn kháng
cáo và quyn yêu cầu thi hành án cho các đương sự.
Ngày 03/7/2025, bà Nguyn Th Thu H ông H Phúc Q kháng cáo toàn b
Bản án thẩm s 105/2025/DSST ngày 19/6/2025 ca TAND khu vc I- Đắk Lk,
vi nội dung: Đề ngh cp phúc thm xem xét bác toàn b đơn khởi kin ca nguyên
đơn bà Phm Th V.
Ti phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn gi nội dung đơn khởi kin; ông H Phúc
Q, Nguyn Th Thu H gi nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương s vng
15
mt ti phiên tòa vn gi nguyên quan điểm trình bày ti cấp thẩm, không cung
cp thêm tài liu, chng c gì mi.
Tại phiên tòa, đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lk phát biu quan
đim v vic gii quyết v án:
- V th tc t tng: Thm phánHội đồng xét x đã chấp hành đúng các quy
định ca B lut t tng dân s. Các đương s đã tuân thủ đầy đủ thc hiện đúng
quy định ca B lut t tng dân s.
- V nội dung: Qua phân tích đánh giá các chng c, tài liệu được thu thp
trong h sơ vụ án, kết qu tranh lun tại phiên tòa, đại din Vin kiểm sát đề ngh Hi
đồng xét x n cứ khoản 1 Điều 308, Điều 310 B lut t tng dân s. Không chp
nhn kháng cáo ca b đơn ông H Phúc Q, Nguyn Th Thu H. Gi nguyên bn
án dân s thẩm s 105/2025/DSST ngày 19/6/2025 ca TAND khu vc 1 Đắk
Lk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông HPhúc Q, Nguyễn Thị Thu H làm
trong hạn luật định; đồng thời đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét,
giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vắng mặt đơn xin xét xvắng mặt
hoặc vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự đúng theo quy định tại Điều 296 Bộ luật
tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Hồ Phúc Q, Nguyễn Thị Thu H, Hội
đồng xét xử xét thấy:
Về việc xem xét phân tích, đánh giá chứng cứ của cấp thẩm. Cấp thẩm
phân tích, đánh giá chứng cứ thông qua lời khai của người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn với nội dung: Ngày 18/8/2020, V mua lại của vợ chồng ông D,
N1 toàn bphần vốn góp của vợ chồng ông D liên quan đến 03 thửa đất trên
V đ trả hết tiền cho vợ chồng ông D theo 04 “Giấy nộp tiền” ngày 18/8/2020,
tổng số tiền chuyển cho vợ chồng ông D: 1.876.932.000 đồng. Sau đó V bán lại
phần này cho H vi giá 1.700.000.000 đồng”. Nhưng không chứng cứ chứng
minh như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên cũng như sự
thừa nhận mua bán đánh giá chứng cứ chưa xác thực. Tuy nhiên, việc
phân tích, đánh giá chứng cứ với nội dung trên không làm thay đổi bản chất của vụ
việc các chứng cứ thật do các đương sự cung cấp trong hồ vụ án. Bởi lẽ,
chứng cứ xác thực chủ sở hữu của các thửa đất số 109, 171, 172, tờ bản đồ số 89
minh chứng qua thời gian cụ thể:
Ngày 26/5/2017, bà Nguyễn Thị N1 và ông Trương Tiến D (bên A); Bà Nguyễn
Thị Phương L (bên B) ông Văn N2 (Bên C) cùng kết Văn bản thỏa thuận
tại Văn phòng C2 s 00001305/quyển số 05/2027/ TP/CC-SCC/HĐGD, với nội
dung: Bên A; bên B và bên C cùng là những người nhận chuyển nhượng các thửa đất
16
số 109, 171, 172, tờ bản đồ số 89, các thửa đất đã được cấp Giấy CNQSDĐ tọa
lạc tại thành phố B, mỗi người góp s tiền 1.333.333.000 đồng để nhận chuyển
nhượng; Đồng ý cử Nguyễn Thị N1 đứng ra kết hợp đồng chuyển nhượng
đứng tên trên các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Được Chi nhánh văn phòng
đăng đất đai thành phố B cập nhật thông tin chsở hữu quyền sử dụng đất mang
tên bà Nguyễn Thị N1 vào ngày 30/5/2017 đối với 03 thửa đất nói trên.
Chứng cứ xác nhận của ông Văn N2 thể hiện tại trang 06 của Văn bản
thỏa thuận số công chứng số 00001305/quyển số 05/2027/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
26/5/2017 do ông Văn N2 viết với nội dung: Tôi đồng ý bán 03 đất cho
chị Phạm Thị V. Từ nay tôi không liên quan đến 03 đất theo văn bản thỏa thuận.
Hôm nay ngày 15/7/2019 Tôi Văn N2 nhận của chị Phạm Thị V, sinh năm
1974. Số nhà B H, P. T, thành phố B. nhận 1.500.000.000 đồng cho 03 đất
trong đó 1/3 của tôi cộng 200.000.000đồng của Nguyễn Thị Phương L vào
ngày 30/5/2019. Nếu có g sai tôi xin chịu trách nhiệm trưc pháp luật”.
Ngoài ra, nguyên đơn Phạm Thị V cung cấp chứng cứ chứng minh ngày
18/8/2020 chuyển khoản cho ông Trương Tiến D 04 lần với tổng số tiền
1.876.932.000 đồng khẳng định đây tiền V chuyển tiền cho ông D để nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với 03 thửa đất nói trên. Trên sở đó, giữa
V, Nguyễn Thị Phương L và Nguyễn Thị Thu H đã lập văn bản thỏa thuận
thống nhất cùng nhau góp chung tiền, mỗi người một phần bằng nhau để nhận
chuyển nhượng các thửa đất của ông Trương Tiến D Nguyễn Thị N1, đồng ý
để bà H là người đại diện cho các đồng sử dụng đất đứng tên với tư cách là bên nhận
chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng ý cử
H đại diện đứng ra vay vốn tại ngân hàng. Các bên lập văn bản thỏa thuận sự
chứng kiến của Nguyễn Thị N1 người chuyển nhượng quyền sử dụng 03 thửa
đất trên. N5 xác nhận vào văn bản thỏa thuận sau ngày 21/8/2020 là sau ngày
bà V chuyển tiền cho ông D.
Như vậy, đã có căn cứ ràng chứng minh quyền sở hữu chung quyền sử dụng
đất giữa các bên bà Nguyễn Thị Thu H, Phạm Thị V Nguyễn Thị Phương L
đối với các thửa đất số 109, 171, 172 tờ bản đồ 89; thửa đất số 109 theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: CB
443149 do UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015; Thửa đất số 171,
tờ bản đồ 89 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số: CB 443150 do UBND TP ., tỉnh Đắk Lắk cấp ngày
05/10/2015 Thửa đất số 172, tờ bản đồ 89 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số: CB 443148 do UBND
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 05/10/2015.
Về phía Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ Phúc Q, Nguyễn Thị Phương L cho
rằng; Văn bản thoả thuận đề ngày 21/8/2020 mà bà V cung cấp cho Toà án là tại thời
điểm đó các bên làm văn bản thoả thuận để cùng nhau góp vốn nhưng các bên
chưa ghi ngày tháng cụ thể trên văn bản thoả thuận vì ba bên thống nhất khi nào góp
17
đủ tiền thì sẽ ghi thời gian cụ thể vào. Do không thoả thuận được giá trgóp vốn
sợ mua bán khó nên các bên không góp vốn như thoả thuận nhưng tại phiên tòa
thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm bị đơn không cung cấp chứng cứ chứng minh có
sự hủy bỏ văn bản thỏa thuận của các bên Nguyễn Thị Thu H, Phạm Thị V
Nguyễn Thị Phương L về việc cùng chung quyền sở hữu đối với 03 thửa đất trên.
Đồng thời trong văn bản thỏa thuận cũng không thể hiện nội dung tại thời điểm lập
biên bản không ghi thời gian vào biên bản do chưa góp đủ tiền.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Không căn
cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn; cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ Phúc Q
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ
Phúc Q. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 105/2025/DSST ngày 19/6/2025 của
Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Căn cứ Điều 207; Điều 208, Điều 209, Điều 216, Điều 218, Điều 219; Điều
220; Điều 317; Điều 318; Điều 319; Điều 320; Điều 321; Điều 322; Điều 326 Bộ luật
dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội
về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[2.1] Chấp nhận đơn yêu cầu thay đổi đơn khởi kiện của bà Phạm Thị V.
Xác định: Thửa đất số 109, tờ bản đồ số 89, diện tích 2.086m
2
, đất trồng cây lâu
năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CB 443149 (số
vào sổ CH-010233) do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho
Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020; Thửa đất số 171, tờ bản đồ số 89, diện tích
2.002,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020 và thửa đất số 172,
tờ bản đồ số 89, diện tích 1.257,2m
2
,
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất s CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do
UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho Nguyễn Thị Thu H ngày
31/8/2020, tài sản chung của Phạm Thị V; Nguyễn Thị Phương L
Nguyễn Thị Thu H.Tổng giá trị tài sản là 5.822.300.000 đồng.
18
+ Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H tiếp tục quản lý, sử dụng: Thửa đất số 109, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.086m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành
phố B cấp ngày 05/10/2015, biến động cho Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020;
Thửa đất số 171, tbản đồ số 89, diện tích 2.002,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa ch
tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CB 443150 (số vào sổ CH-
010234) do UBND thành phB cấp ngày 05/10/2015, biến động cho Nguyễn Thị
Thu H ngày 31/8/2020 thửa đất số 172, tờ bản đsố 89, diện tích 1.257,2m
2
đất
trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CB
443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành phố B cấp ngày 05/10/2015, biến
động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020.
+ Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải thanh toán lại cho Phạm Thị V số tiền
chia tài sản chung là 1.940.767.000đồng.
Thời hạn thanh toán theo trình tự thi hành án Dân sự.
Kể từ ngày đơn u cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án n phải chịu khoản tiền li của
số tiền còn phải thi hành án theo mức li suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS
năm 2015.
[2.2] Tách ra khỏi vụ án đối với phần của bà Nguyễn Thị Phương L góp chung
là 1.940.767.000đồng.
[3] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S.
[3.1] Buộc vợ chồng ông Hồ Phúc Q Nguyễn Thị Thu H phải trả Ngân
hàng Thương Mại Cổ phần S tổng số tiền 10.589.112.232 đồng. Trong đó
8.700.000.000đồng tiền gốc và lãi suất tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 1.889.112.232
đồng.
Kể từ ngày 20/6/2025 vợ chồng ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H còn phải
tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã
kết với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ gốc.
Thời hạn trả: Theo trình tự thi hành án Dân sự.
[3.2] Về tài sản thế chấp:
Khi nào vchồng ông Hồ Phúc Q, bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán hết tổng
khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S trách
nhiệm trả lại bản gốc các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Thu
H bao gồm:
19
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BT 883806 (số vào sổ CH-010135) do UBND thành phố B cấp ngày
07/08/2015, biến động sang tên cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/7/2017, thửa đất
số 338, tờ bản đồ số 89, diện tích 4923,6m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường
T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CB 443149 (số vào sổ CH-010233) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 109, tờ
bản đồ số 89, diện tích 2.086m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CB 443150 (số vào sổ CH-010234) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 171, tờ
bản đsố 89, diện tích 2.002,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu ntài sản khác gắn
liền với đất số CB 443148 (số vào sổ CH-010232) do UBND thành phố B cấp ngày
05/10/2015, biến động cho bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31/8/2020, thửa đất số 172, tờ
bản đồ s89, diện tích 1.257,2m
2
đất trồng cây lâu năm, địa chỉ tại phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Trả lại bản gốc các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Thu
H và ông Hồ Phúc Q: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 748987 (số vào sổ
H00271) do UBND huyện K cấp ngày 25/10/2009, biến động cho ông Hồ Phúc Q
Nguyễn Thị Thu H ngày 18/8/2017, thửa đất s416a, tờ bản đồ số 03, diện tích
245m
2
đất ở tại nông thôn, địa chỉ tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nếu Nguyễn Thị Thu H ông Hồ Phúc Q không trả được nợ thì tài sản đã
thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số 205/2023/HĐTC ngày 13/9/2023, số công chứng
012712, quyển số 09/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ng chứng tại Văn phòng C2; Hợp
đồng thế chấp số 430/2020/HĐTC ngày 04/9/2020, số công chứng 013105, quyển số
09/TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2 Hợp đồng thế chấp số
429/2020/HĐTC ngày 07/9/2020, số công chứng 013163, quyển số 09/TP/CC-
SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C2 thì Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S
quyền đề nghị quan thi hành án Dân sự thẩm quyền phát mãi tài sản theo quy
định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án.
[4] Về án phí Dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:
[4.1] Về án phí Dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng phân chia tài sản chung:
- Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm 70.223.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 11.988.000đồng tiền chi phí phí xem xét thẩm
định tại chỗ, đo đạc bằng máy và định giá tài sản.
20
- Trả lại cho Phạm Thị V chi phí tố tụng 11.988.000đồng sau khi thu được từ
Nguyễn Thị Thu H.
- Trả lại cho Phạm Thị V số tiền tạm ứng án phí 36.000.000 đồng đã nộp
theo biên lai số 0004530 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[4.2] Về án phí Dân sự thẩm chi phí tố tụng của Tranh chấp hợp đồng tín
dụng:
- Nguyễn Thị Thu H ông Hồ Phúc Q phải chịu án phí Dân sự thẩm số
tiền 118.589.112.000 đồng.
- Trả lại cho Ngân ng TMCP S số tiền tạm ng án phí 58.816.000 đồng do
Phan Thị Huyền T2 đã nộp theo biên lai số 0013978 ngày 25/10/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột.
- Nguyễn Thị Thu H ông Hồ Phúc Q phải chịu án chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ là 3.000.000đồng.
- Tr li cho Ngân hàng TMCP S s tin chi phí xem xét thm định ti ch
3.000.000 đồng sau khi thu được t bà Nguyn Th Thu H và ông H Phúc Q.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật THADS th người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7,7a và điều 9 Luật THADS;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Nguyễn Thị Thu H, ông Hồ Phúc Q mỗi
người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền
300.000 đồng mỗi người đã nộp tạm ứng án phí lần lượt tại các biên lai số 0000471
(bà Nguyễn Thị Thu H nộp), 0000472 (bà Nguyễn Thị Thu H nộp thay ông HPhúc
Q) cùng ngày 28/5/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1 - Đắk Lắk; (Đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị My My
21
Tải về
Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT Bản án số 56A-2026/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất