Bản án số 565/2019/DS-ST ngày 24/09/2019 của TAND TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 565/2019/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 565/2019/DS-ST ngày 24/09/2019 của TAND TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thủ Đức (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 565/2019/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/09/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số: 565/2019/DS-ST
Ngày: 24/9/2019
V/v tranh chấp đòi lại tiền cọc
và phạt cọc
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUẬN THỦ ĐỨC Độc Lập Tự Do – Hạnh Phúc
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hương
2. Bà Nguyễn Thị Lượng
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hiền Lương Thư Tòa án nhân dân quận
Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông
Cao Hùng Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 m 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử
thẩm công khai ván thụ số 267/2019/TLST-DS ngày 24/4/2019, về “Tranh chấp hợp
đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
374/2019/QĐST-DS ngày 06/8/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 243/2019/QĐST-
DS ngày 04/9/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy V, sinh năm 1980, địa chỉ: Đường X, phường
Y, qun T, Tnh phố H Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Tài H, sinh m
1995, địa chỉ: đường M, Phường C, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, người đại diện
theo ủy quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 03/6/2019). (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Ngô Thái Tùng T,
Luật thuộc Công ty Luật TNHH MTV Đ, Đoàn Luật Thành phố Hồ Chí Minh. (Có
mặt)
2. Bị đơn: Ông Thân Trọng H, sinh năm 1958, địa chỉ: Đường A, phường B, quận
T, Thành phố H Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Hoàng Mạnh H, sinh năm 1974, địa
chỉ: đường F, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản uquyền ny
16/5/2019) (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Cao S,
Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư H, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Trần Cung M, sinh năm 1986, địa chỉ: Đường X, phường Y, quận T, Thành
ph H Chí Minh. (Xin vắng mặt)
2. Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1960, địa chỉ: Đường A, phường B, quận T,
Thành ph H Chí Minh. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] - Theo Đơn khởi kiện, Đơn khởi kiện b sung cùng ngày 22/4/2019, Đơn
khởi kiện bổ sung ngày 03/7/2019 của nguyên đơn ông Nguyễn Huy V trình y của
người đại diện:
Ngày 08/8/2018, ông Nguyễn Huy V ông Thân Trọng H hợp đồng đặt
cọc, theo đó, ông H bán cho ông V một phần diện tích đất tại địa chỉ Đường A, phường
B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (thuộc thửa đất số 379 tờ bản đồ số 03) thuộc một
phần của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà số 4335/2004 cấp
ngày 29/9/2004, cập nhật biến động ngày 22/8/2016. Theo thỏa thuận thì giá mua bán
2.200.000.000 đồng và thanh toán theo tiến độ như sau:
Đặt cọc 200.000.000 đồng để đảm bảo giao kết hợp đồng, toàn bộ số tiền còn lại
được thanh toán như sau:
Thanh toán 1.500.000.000 đồng ngay khi hai bên ký hợp đồng công chứng
Thanh toán 500.000.000 đồng khi bên A bàn giao ranh đất hoàn tất thủ tục
chuyển đổi quyền sử dụng đất.
Sau khi hợp đồng được kết, ông V đã đặt cọc cho ông H 200.000.000 đồng
vào ngày 08/8/2018. Ngày 17/11/2018, ông H đề nghị nhận thêm 100.000.000 đồng tiền
cọc. Như vậy, tổng số tiền cọc ông H đã nhận là 300.000.000 đồng.
Sau nhiều lần liên hệ nhưng ông H vẫn cố tình không thực hiện các thủ tục theo
thỏa thuận để hoàn tất việc chuyển nhượng cho ông V. vậy, ông V khởi kiện yêu cầu
Tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 08/8/2018, buộc ông H trả toàn bộ tiền đặt cọc
đã nhận là 300.000.000 đồng và phạt số tiền vi phạm hợp đồng là 600.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Thân Trọng H trình bày:
Ngày 08/8/2018, ông Nguyễn Huy V ông H hợp đồng đặt cọc mua bán
nhà đất tại số Đường A, phường B, quận T, Thành phố HChí Minh, thuộc thửa đất số
379 tờ bản đồ số 03, thống nhất giá 2.200.000.000 đồng, đặt cọc 200.000.000 đồng. Thời
gian thực hiện hợp đồng mua bán khi bên B tiến hành giao dịch thành công mua bán
căn nhà số đường S, phường L, quận T.
Tuy nhiên, ngày 26/12/2018, ông V thông báo cho ông đề nghị thực hiện hợp
đồng mua bán cho rằng đã thanh toán đủ cho ông số tiền 300.000.000 đồng, ngày
09/2/2019 và ngày 07/3/2019, ông V lại tiếp tục thông báo yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp
đồng. Và sau đó ông nhận được thông báo của Tòa án việc ông V khởi kiện
Việc ông V khởi kiện yêu cầu ông H bồi thường 600.000.000 đồng ông H
không thực hiện hợp đồng không căn cứ, bởi lẽ căn cứ hợp đồng đặt cọc ngày
08/8/2018 thì khi nào ông V thực hiện giao dịch thành công mua bán căn nhà số đường S,
phường L, quận T thì hai bên mới tiến hành mua bán căn nhà trên. vậy, ông không
đồng ý bồi thường cho ông V số tiền 600.000.000 đồng yêu cầu tòa án tuyên buộc
ông V mất số tiền 300.000.000 đồng tiền cọc ông V không tuân thủ hợp đồng đặt cọc
3
ngày 08/8/2018, ông V chưa thực hiện giao dịch thành công mua n căn nhà số đường
S, phường L, quận T.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Cung M trình bày: thống nhất
với trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Huy V.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu N trình y: Thống
nhất với trình bày của bị đơn ông Thân Trọng H.
[2] Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn ông Nguyễn Huy V có người đại diện ông Nguyễn Ngọc Tài H giữ
yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Tòa án tuyên chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày
08/8/2018, buộc ông H trả toàn bộ tiền đặt cọc đã nhận 300.000.000 đồng phạt s
tiền vi phạm hợp đồng là 600.000.000 đồng.
Bà Ngô Thái Tùng T, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
trình y: sau khi đặt cọc, ông V, M đã thực hiện nghĩa vụ của mình, đã giao tiền cọc
300.000.000 đồng hợp đồng để bán căn nhà của mình. Việc bị đơn cho rằng do
nguyên đơn chưa bán nhà nên chưa thực hiện nghĩa vụ của mình là không có cơ sở, bởi lẽ
khi thỏa thuận mua n, ông V không nhu cầu mua nhà khi đó đưa vào nội dung
này để ông V bán nhà để tiền mua. Nội dung y không hiệu lực gia tăng
trách nhiệm của một bên, không quy định về thời gian thực hiện, rất hồ nên căn cứ
Điều 404 Bộ luật dân sự về giải thích hợp đồng thì nội dung này không có giá trị pháp lý.
Mục đích của hợp đồng việc mua bán, chuyển nhượng nhà, đất ông V đã thực hiện
xong nghĩa vụ của mình và đã nhiều lần thông báo cho ông H yêu cầu thực hiện hợp đồng
nhưng ông H không thực hiện. Căn cứ vào thỏa thuận của hợp đồng, ông V có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng buộc ông H phải trả tiền cọc 300.000.000 đồng chịu
phạt cọc 600.000.000 đồng. Về số tiền cọc, khi nhận tiền, ông H ghi nhận nhận
thêm 10.000.000 tiền cọc, nên tiền cọc tổng cộng là 300.000.000 đồng.
- Ông Hoàng Mạnh H đại diện cho bđơn ông Thân Trọng H đồng ý chấm dứt
hợp đồng nhưng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại tiền cọc và
phạt cọc đề nghị Tòa án không chấp nhận việc đòi lại tiền cọc 200.000.000 đồng của
nguyên đơn.
Ông Hoàng Cao S, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình y:
hợp đồng đặt cọc giữa hai bên giá trị pháp lý, hợp đồng quy định sự kiện pháp
việc ông V phải bán căn nhà của ông V. Sau khi ông V đặt cọc 200.000.000 đồng, đưa
100.000.000 đồng đsửa nhà thì cho rằng mình đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình
thông báo 3 văn bản cho ông H yêu cầu thực hiện hợp đồng, yêu cầu y là không căn
cứ, bởi lẽ ông V chưa thực hiện việc bán nhà của ông V. Về số tiền 100.000.000 đồng thì
hai bên không thỏa thuận nào về việc thay đổi nội dung hợp đồng đặt cọc. bên ông
V chấm dứt hợp đồng đặt cọc trái với thỏa thuận nên phải mất 200.000.000 tiền cọc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thu N đồng ý chấm dứt
hợp đồng nhưng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại tiền cọc và
phạt cọc đề nghị Tòa án không chấp nhận việc đòi lại tiền cọc 200.000.000 đồng của
nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm t nhân dân quận Thủ Đức phát biểu ý kiến xác định việc
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử; kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Viện kiểm sát đề nghị
4
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc chấm dứt hợp đồng, buộc các
bên giao trả cho nhau những đã nhận, cụ thể bị đơn trả cho nguyên đơn 300.000.000
đồng, không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c tài liệu trong hsơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa nguyên đơn ông Nguyễn Huy V bị đơn ông Thân Trọng
H được Hội đồng xét xử xác định lại Tranh chấp đòi tiền cọc phạt cọc, bị đơn ông
Thân Trọng H trú tại quận Thủ Đức, vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân quận Thủ Đức theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Cung M vắng mặt, đơn xin
xét xử vắng mặt, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng
mặt bà M.
Quan hệ tranh chấp giữa hai bên tranh chấp đòi lại tiền đặt cọc và phạt cọc từ
“Hợp đồng đặt cọc v/v đảm bảo kết thực hiện hợp đồng mua bán kết ngày
08/8/2018, giữa ông Nguyễn Huy V, người quyền lợi, nghĩa v liên quan Trần
Cung M bị đơn ông Thân Trọng H.
Xét “Hợp đồng đặt cọc v/v đảm bảo kết thực hiện hợp đồng mua bán”
kết ngày 08/8/2018 có nội dung bên nhận đặt cọc là ông H (Bên A), bên đặt cọc là ông V,
M (Bên B), đối ợng hợp đồng một phần diện tích đất tại số Đường A, phường B,
quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc thửa đất số 379 tờ bản đồ số 03, diện tích bao
gồm trong và ngoài quy hoạch lộ giới đường dự phóng nhưng phải bảo đảm đủ 50 m
2
đất
để được tách thửa, giá mua bán 2.200.000.000 đồng, đặt cọc 200.000.000 đồng, nếu
bên B không mua sẽ mất tiền đặt cọc, bên A không bán hoặc vi phạm hợp đồng thì phải
trả cho bên A stiền cọc đã nhận chịu phạt cọc gấp 2 lần 400.000.000 đồng; thời
gian kết hợp đồng mua bán dự kiến được chừa trống chưa ghi; tiến độ thanh toán: số
tiền 1.500.000.000 đồng thanh toán thời điểm hai bên kết hợp đồng công chứng, số
tiền 500.000.000 đồng thanh toán khi bàn giao đất hoàn tất chuyển đổi quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở. Trong hợp đồng n ghi chú thời gian hợp đồng mua bán
công chứng nêu trên chỉ là dự kiến và được hai bên cam kết thực hiện ngay khi bên B tiến
hành giao dịch thành công mua bán căn nhà số đường S, phường L, quận T. Trong hợp
đồng còn các điều khoản về cam kết, nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm nộp thuế, phí,
phương thức giải quyết tranh chấp …
Hợp đồng đặt cọc đối tượng chuyển nhượng diện tích bao gồm trong
ngoài quy hoạch lộ giới đường dự phóng nhưng phải bảo đảm đủ 50 m
2
đất để được
tách thửa thuộc thửa đất số 379 tờ bản đồ số 03, tại số Đường A, phường B, quận T,
Thành phố Hồ Chí Minh, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà quyền s
dụng đất hồ gốc số 4335 cấp ngày 29/9/2004, cập nhật biến động tặng cho ông Thân
Trọng H ngày 22/8/2016. Hình thức nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều
328, Điều 385 Bộ luật Dân sự nên hợp đồng giữa hai bên có hiệu lực pháp luật.
Thực hiện hợp đồng, cùng ngày ký kết hợp đồng 08/8/2018, ông V, M đã giao
cho ông H 200.000.000 đồng tiền đặt cọc, sau đó, ngày 17/11/2018, ông H tiếp tục nhận
100.000.000 đồng và có ký xác nhận nhận tiền.
5
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông V về việc yêu cầu Tòa án tuyên chấm dứt
hợp đồng đặt cọc ngày 08/8/2018, buộc ông H trả toàn bộ tiền đặt cọc đã nhận
300.000.000 đồng và phạt số tiền vi phạm hợp đồng là 600.000.000 đồng
Theo nguyên đơn ông V thì ông V đã giao stiền cọc 300.000.000 đồng, theo
hợp đồng, bị đơn ông H phải tiến hành thủ tục để ra công chứng nhưng ông H không thực
hiện nên ngày 15/3/2019, ông V đã tiến hành thông báo yêu cầu ông H thực hiện hợp
đồng, đã hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo nhưng ông H vẫn không khắc phục
nên căn cứ thỏa thuận tại Điều 5 của hợp đồng, ông V quyền đơn phương chấm dứt
hợp đồng, ông H phải trả lại tiền cọc 300.000.000 đồng phạt vi phạm cọc gấp 2
600.000.000 đồng.
Theo bị đơn ông H, trong hợp đồng còn có nội dung thời gian thực hiện hợp đồng
mua bán khi bên B (bên ông V) tiến hành giao dịch thành công mua bán căn nhà số
đường S, phường L, quận T, căn nhà này của ông V do ông V không thực hiện thỏa
thuận này, hợp đồng không thực hiện được nên lỗi vi phạm là của ông V, ông V phải chịu
mất cọc.
Phía nguyên đơn ông V bổ sung chứng cứ Hợp đồng đặt cọc ngày 20/9/2018
nội dung bên đặt cọc Đặng Thị Thu H, bên nhận cọc ông Nguyễn Huy V,
Trần Cung M nội dung đặt cọc 300.000.000 đồng để mua căn nhà đường S, phường L,
quận T với giá 2.500.000.000 đồng và xác định đã tiến hành việc mua bán căn nhà đường
S, phường L, quận T
[3] Hội đồng xét xử xét thấy,
Về số tiền đặt cọc, theo thỏa thuận tại hợp đồng thì tiền cọc là 200.000.000 đồng,
ghi nhận cả việc phạt cọc gấp 2 400.000.000 đồng. Tuy nhiên sau đó ông H tiếp tục
nhận 100.000.000 đồng để sửa chữa nhà vào ngày 17/11/2018. Khi nhận tiền, ông H
ghi vào phía sau hợp đồng trên bản do ông H giữ “Ngày 17/11/2018. Nhận thêm 100 tr
tiền cọc dùng để sửa chữa nhà” trên bản do ông V giữ “Đã nhận thêm 100 triệu tiền
cọc. Ngày 17 tháng 11 năm 2018”. Tuy ông H khi nhận 100.000.000 đồng xác định
tiền cọc, kể cả trên bản hợp đồng giao cho ông V, tuy nhiên hai bên không thỏa thuận
nào khác sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng, bổ sung về nội dung tiền cọc, số tiền phạt
cọc, nên số tiền 100.000.000 đồng được xác định số tiền trả cho hợp đồng, không phải
là tiền cọc.
Trong nội dung hợp đồng có ghi nhận: “Ghi chú: thời gian ký hợp đồng mua bán
công chứng nêu trên chỉ dự kiến được hai bên cùng cam kết thực hiện ngay khi bên
B tiến hành giao dịch thành công mua bán căn nhà đường S, phường L, quận T”. t
thấy nội dung này điều khoản về sự kiện trong hợp đồng điều kiện theo khoản 6
Điều 402 Bộ luật dân sự, khi sự kiện này xảy ra thì việc kết hợp đồng công chứng
được thực hiện.
Xét nội dung thỏa thuận về điều kiện bên B tiến hành giao dịch thành công mua
bán căn nhà đường S, phường L, quận T”, Căn cứ hợp đồng đặt cọc, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất do phía nguyên
đơn ông V giao nộp thì căn nhà này thuộc quyền sở hữu của ông V, bà M, và đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất,
số vào sổ CS 01944 ngày 11/12/2015 cấp cho ông V, M. vậy, thỏa thuận về điều
kiện này thể thực hiện nên điều khoản về điều kiện hiệu lực thi hành người
trách nhiệm để điều kiện này xảy ra là ông V, bà M.
6
Phía ông V, M giao nộp chứng cứ Hợp đồng đặt cọc ngày 20/9/2018 để
mua bán căn nhà đường S, phường L, quận T. Tại phiên tòa xuất trình thêm văn bản ngày
22/3/2019, ông V trả lại tiền cọc chịu phạt cọc đối với Hợp đồng đặt cọc ngày
20/9/2018.
Xét thấy, phía ông V chỉ giao nộp chứng cứ là Hợp đồng đặt cọc ngày 20/9/2018,
văn bản trả lại tiền cọc ngày 22/3/2019, không chứng cứ gì khác thể hiện bên B tiến
hành giao dịch thành công mua bán căn nhà đường S, phường L, quận T” cụ thể
chứng cứ chứng minh căn nhà đã được mua bán, chuyển nhượng thành công bằng việc
cập nhật biến động chuyển nhượng hoặc cấp giấy chứng nhận mới cho người khác.
Như vậy, sự kiện để việc thực hiện hợp đồng điều kiện chưa phát sinh, chưa
căn cứ để thực hiện việc công chứng hợp đồng mua bán, chuyển nhượng giữa ông H
ông V, M. vậy, việc không thực hiện hợp đồng không lỗi của cả hai bên nên
việc yêu cầu phạt cọc là không được chấp nhận.
Phía bị đơn cho rằng trách nhiệm để điều kiện của hợp đồng xảy ra là của ông V,
M, do ông V, M không thực hiện n có lỗi chịu mất cọc. Hội đồng xét xử xét
thấy tuy trách nhiệm để điều kiện của hợp đồng xảy ra của ông V, M, nhưng đây
không phải là lỗi do không thực hiện hợp đồng đặt cọc theo đúng giao kết.
Yêu cầu của nguyên đơn ông V về việc chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày
08/8/2018 được phía bị đơn ông H người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan N, M
chấp nhận nên Tòa án căn cứ khoản 4 Điều 422 Bộ luật dân sự, chấp nhận yêu cầu chấm
dứt hợp đồng đặt cọc ngày 08/8/2018.
Căn cứ Điều 427 Bộ luật dân sự, do hợp đồng bị chấm dứt và không có lỗi của cả
hai bên nên các bên hoàn lại những gì đã nhận, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông V
về việc buộc bị đơn ông H trả lại số tiền đã nhận, bao gồm 200.000.000 đồng tiền đặt cọc
100.000.000 đồng tiền đã trả không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông V về
việc phạt cọc đối với ông H 600.000.000 đồng.
[4] Án phí dân sự thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn ông V được chấp nhận một
phần nên căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 4 điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 năm 2016, ông V phải chịu án phí đối với yêu cầu không được
chấp nhận 600.000.000 đồng 28.000.000 đồng, bị đơn ông H phải chịu án phí trên
yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận 300.000.000 đồng 15.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 328, Điều
385, khoản 6 Điều 402, khoản 4 Điều 422, Điều 427 Bộ luật dân sự m 2015; khoản 4
điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016; Luật thi hành án dân sự,
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Huy V:
- Chấm dứt Hợp đồng đặt cọc v/v đảm bảo ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán
ký kết ngày 08/8/2018, giữa ông Nguyễn Huy V, bà Trần Cung M và ông Thân Trọng H.
- Buộc ông Thân Trọng H phải trcho ông Nguyễn Huy V, Trần Cung M số
tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng.
7
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Huy V về việc phạt
cọc 600.000.000 (Sáu trăm triệu) đồng đối với ông Thân Trọng H.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Huy V chịu 28.000.000 (Hai mươi tám triệu) đồng.
Trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm ông V đã nộp 19.500.000 (ời chín triệu,
năm trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013338 ngày 24/4/2019
tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, ông Nguyễn Huy V còn phải nộp
8.500.000 (Tám triệu, năm trăm ngàn) đồng.
- Bị đơn ông Thân Trọng H được miễn tiền tạm ứng án phí sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tngày Tòa tuyên án.
Riêng người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể
từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án
dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Nơi nhận:
- Đương sự của vụ án;
- VKSND Q.TĐ;
- Chi cục Thi hành án Q.TĐ;
- Lưu HS
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tôn Trung Tuấn
Tải về
Bản án số 565/2019/DS-ST Bản án số 565/2019/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất