Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 46/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bàu Bàng (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 46/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/12/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN ÁNH D YÊU CẦU LY HÔN CHÂU SƠN H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-12-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hòa;
Ông Nguyễn Long Giang.
- Thư phiên a: Ông Kiều Vĩnh Phong, Thư Tòa án nhân dân
huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng,
tỉnh Bình Dương xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 207/2024/TLST-
HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11
năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa s 124/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25
tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ánh D, sinh năm 1995; nơi thường trú:
894/34/1, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt (có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Châu Sơn H, sinh năm 1994; nơi thường trú: ấp C, L,
huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 10 năm 2024 trong quá trình tố
tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Ánh D trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ánh D anh Châu Sơn H chung sống năm
2018, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình
Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 121, quyển số do Ủy ban nhân dân
2
phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 22 tháng 11 năm 2018. Hôn
nhân tự nguyện.
Quá trình chung sống 01 con chung cháu Châu Đăng K, sinh ngày
20 tháng 9 năm 2019. Con chung hiện đang sống với chị D tại 894/34/1, khu
phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không có.
Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn tkhoảng tháng 4 năm 2023.
Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh H ngoại tình và có hành vi bạo lực với
chị D. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 5/2024 cho đến nay. Nhận thấy
hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt được, chị D yêu cầu ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị D yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp
dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải
quyết
Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm
việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và
hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến vviệc yêu cầu
ly hôn, tranh chấp về nuôi con của nguyên đơn cũng không đến Tòa án đ
tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ hòa
giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Theo biên bản xác minh, Công chức pháp L, huyện B, tỉnh Bình
Dương cung cấp như sau: ChD và anh H vợ chồng có đăng kí kết hôn tại Ủy
ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Về nguyên nhân mâu
thuẫn, do chị D và anh H không trình báo nên địa phương không có thông tin.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Ánh D vắng mặt đơn đề nghị xét xử vắng
mặt.
Bị đơn anh Châu Sơn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham
gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham
gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án,
Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy
đủ quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc
xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng
3
n sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định
tại các Điều từ 93 đến 97 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ cho Viện kiểm sát
đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thời hạn
chuẩn bị xét xử đảm bảo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự
thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được quy định tại Điều 48
và khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 63, 239, 243,
249, 258, 260 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Thư ký tuân theo Điều 51 và Điều 237 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của nời tham gia tố tụng dân sự
trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng theo
quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt đơn đề nghị xét xử vắng
mặt nên Hội đồng xét xtiến hành xvắng mặt theo khoản 1 Điều 228 của Bộ
luật Tố tụng Dân sự.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp llần thứ hai để tham gia phiên tòa
nhưng vắng mặt không do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bđơn
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng Dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chị D anh H chung sống với nhau từ năm 2018 đăng
kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương ngày
22/11/2018, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống cả hai phát sinh mâu
thuẫn từ tháng 4/2023 nguyên nhân mâu thuẫn do anh H ngoại tình và thường
xuyên đánh đập chị D dẫn đến mâu thuẫn gia đình trầm trọng không thể hàn
gắn. Hiện cả hai đã ly thân từ tháng 5/2024 cho tới nay. Xét thấy, chD anh
H vợ chồng nhưng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau,
không sống chung với nhau là không thực hiện đúng nghĩa vụ của vợ chồng theo
quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nhận thấy, tình
trạng hôn nhân của Chị D anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của
Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của Chị D
đối với anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống cả hai một người con chung
cháu Châu Đăng K, sinh ngày 20/9/2019. Con chung hiện đang sống chung
với chị D. Chị D mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không
yêu cầu anh H cấp dưỡng. Xét thấy, cháu K đang sinh sống ổn định với chị D,
4
chị D yêu cầu nuôi con chung phù hợp theo quy định khoản 2 Điều 81 của
Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con
nên không xem xét.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị D và anh H không tranh chấp, không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Từ những đánh giá phân ch nêu trên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu
Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh Châu Sơn H nơi trú
tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Ánh D khởi kiện anh
Châu Sơn H, yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung do đó quan hệ pháp luật
tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28
của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Chị Nguyễn Ánh D đơn đề
nghị xét xử vắng mặt, anh Châu Sơn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vắng mặt tất cả những người tham
gia tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Điều 238
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về hôn nhân: mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Ánh D anh
Châu Sơn H hôn nhân hợp pháp. Chị D yêu cầu ly hôn anh H do vợ chồng
mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc,
lo lắng cho nhau, hiện không còn sống chung với nhau. sở xác định hôn
nhân của chị D, anh Hoàng L vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị D yêu cầu ly hôn với
anh H căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn
nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Ánh D anh Châu Sơn H 01 con
cháu Châu Đăng K, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2019. Con chung hiện đang sống
với chị D tại ấp H, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Xét,
5
chị D nơi ở, việc làm, thu nhập ổn định đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con,
Hội đồng xét xử xét, giao con chung cho chD trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là
phù hợp quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân gia
đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Ánh D anh Châu Sơn H
không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp
luật tố tụng và về nội dung vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Ánh D phải chịu án phí dân sự thẩm theo
quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Điều 238,
các Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, khoản 1 Điều 59, các Điều
81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Luật Phí Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm
2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí tòa án,
1. Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ánh D
đối với bị đơn anh Châu Sơn H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Ánh D và anh Châu Sơn H.
Về nuôi con chung: giao cháu Châu Đăng K, sinh ngày 20 tháng 9 năm
2019 cho chị Nguyễn Ánh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục. Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng cho con nên Tòa án không giải
quyết.
Người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom con
không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng
việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con quyền yêu
cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án thể thay đổi người nuôi con,
giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
6
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Ánh D và anh Châu Sơn H
không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Ánh D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng
án phí dân sự thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo
Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003728 ngày 07 tháng 10
năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng.
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND huyện Bàu Bàng;
- Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ánh Tuyết
Tải về
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất