Bản án số 458/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 458/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 458/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 10 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 458/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 458/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/09/2024
V/v tranh chấp về ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Đỗ Thị A.
2/ Ông Đinh Hoàng Việt.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Ngọc Anh Thư Thư ký Tòa án, Tòa án
nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Lê
Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố
Hồ Chí Minh, xét xử thẩm công khai
vụ án thụ s 245/2024/TLST-HNGĐ
ngày 07 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 453/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 Quyết định
hoãn phiên tòa số 245/2024/QĐHPT-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng
mặt).
Thường trú: C Khóm E, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Tạm trú: 278/32/18 T, H, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Cao T, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Thường trú: 220/52 Nguyễn Tiểu L, Phường 8, Quận 10, Thành phố Hồ
Chí Minh.
trú: 99/19 Hiến Thành, Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2024 lời khai tại a, nguyên đơn
Nguyễn Thị Ngọc S trình bày:
2
và ông Nguyễn Cao T tự nguyện chung sống đăng kết hôn theo
Giấy chứng nhận kết hôn số 42 do Ủy ban nhân dân Phường H, Quận A, Thành
phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/8/2019.
Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó vợ chồng
thường xảy ra mâu thuẫn về lối sống, quan điểm sống dẫn đến bạo lực trong gia
đình. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã
ly thân từ năm 2022 đến nay không thể hàn gắn được. Do vậy, để ổn định cuộc
sống, bà S yêu cầu Tòa án chấp nhận được ly hôn với ông T.
Về con chung: 01 con chung trẻ Nguyễn Hoàng Gia K, sinh ngày
12/5/2019, S nhận trực tiếp nuôi dưỡng con chung yêu cầu ông T cấp dưỡng
nuôi con là 4.000.000 đồng/tháng, cho đến khi con thành niên.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến
hành triệu tập ông T đến Toà để tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà
giải tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không do và cũng
không cung cấp các tài liệu chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của bà S.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ginguyên yêu cầu khởi kiện đơn xin vắng
mặt tham gia tố tụng.
Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn
thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ cũng
như tại phiên thôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hoà giải xét xử nhưng vẫn vắng
mặt không có lý do. Đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương
sự.
Về nội dung: Do bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không cung cấp tài
liệu, chứng cứ cũng như ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
nên đề nghị Toà án căn cứ vào lời khai các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn
cung cấp để chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được xem
xét tại phiên tòa, Toà án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng thẩm quyền: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn
Nguyễn Thị Ngọc S yêu cầu ly hôn tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị
đơn ông Nguyễn Cao T đăng hộ khẩu thường trú tại Quận A nên vụ án thuộc
3
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.1] Xét, nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông
T đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng
xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[1.2] Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 42 do Ủy ban nhân dân
Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/8/2019, sở xác
định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc S và ông Nguyễn Cao T là hôn
nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Xét, lời trình bày của S, quá trình chung sống vợ chồng luôn xảy ra mâu
thuẫn về quan điểm sống, lối sống dẫn tới bạo lực trong gia đình. Cả hai đã cho
nhau cơ hội hàn gắn nhưng giữa hai người không còn tình cảm, không tôn trọng
yêu thương nhau nữa. Hai người đã sống ly thân tnăm 2022 đến nay. S
yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà để bà được ổn định cuộc sống.
Xét, bị đơn ông Nguyễn Cao T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải
nhằm gắn kết mối quan hệ vợ chồng nhưng ông không đến, việc ông không đến
Tòa cho thấy ông không còn quan tâm mong muốn hàn gắn mối quan hệ vợ
chồng với bà S nữa.
Mục đích của việc xác lập hôn nhân là nhằm gắn quan hệ giữa người
nam và người nữ trong quan hệ vợ chồng, để hchung sống với nhau xây dựng
gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Xét thấy quan hệ vợ chồng
không còn, trách nhiệm giữa đôi bên với nhau không có nên tình trạng vợ chồng
đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, từ những phân
tích trên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo
quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về con chung: Theo lời khai và các chứng cứ do bà S cung cấp hai người
có con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Gia K, sinh ngày 12/5/2019 và yêu cầu ông T
cấp dưỡng nuôi con là 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi con thành niên. Xét, trẻ
K còn nhỏ, hiện nay trẻ đang được S chăm sóc, do vậy trẻ cần được sự chăm
sóc, dạy dcủa mẹ để trẻ phát triển toàn diện về thể chất tinh thần, ngoài ra
ông T cũng không phản đối yêu cầu của bà S được trực tiếp nuôi con chung.
Xét, S yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là 4.000.000 đồng/tháng cho
đến khi trẻ thành niên phù hợp với quy định của pháp luật về việc cha, mẹ
không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định tại khoản
2 Điều 82 của Luật Hôn nhân Gia đình. Do vậy, yêu cầu của S được trực
tiếp nuôi con chung yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung 4.000.000
đồng/tháng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung:S tự khai không có.
4
[3] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình:
[3.1] S nguyên đơn trong vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định
tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều
24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[3.2] Ông Nguyễn Cao T phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định vmức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271
khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84, 116 và 117 ca Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27
của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ p
Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
1.1. V quan h hôn nhân: Nguyễn Thị Ngọc S được ly hôn với ông
Nguyễn Cao T.
1.2. V con chung: Giao con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Gia K, sinh ngày
12/5/2019 cho Nguyễn Thị Ngọc S trực tiếp nuôi dưỡng. Hàng tháng, ông T
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 4.000.000 (Bốn triệu) đồng, bắt đầu từ tháng
09/2024 cho đến khi con thành niên.
Kể từ ngày n được thi hành đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi
hành không thi hành c khoản tiền phải nộp, thì hàng tháng phải chịu thêm số
tiền lãi với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền
n phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
không ai quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản
trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con của người đang trực tiếp nuôi con.
quyền lợi về mọi mặt của con, khi yêu cầu của cha, mẹ hoặc nhân,
tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án thể quyết định việc thay đổi người
5
trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối
với con chưa thành niên.
1.3 . Về tài sản chung và nợ chung: Bà S khai không có.
2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (Ba trăm ngàn)
đồng, S chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm đã nộp
theo biên lai thu tiền số 0020346 ngày 05/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự
Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, ông Nguyễn Cao
T phải chịu.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thinh án dân sự.
4. Các đương sự quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.
Nơi nhận:
- TAND TP.HCM;
- VKSND TPHCM;
- VKSND Quận 10;
- Chi cục THADS Q.10;
- UBND Phường 8, Quận 10;
- Các đương sự;
- Lưu VP, hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Phương Lan
Tải về
Bản án số 458/2024/HNGĐ-ST Bản án số 458/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 458/2024/HNGĐ-ST Bản án số 458/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất