Bản án số 45/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 45/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 45/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 45/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. 1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn Q. Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Tây Ninh.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
——————
Bản án số: 45/2026/DS-PT
Ngày: 14-01-2026
“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, vô hiệu
văn bản thừa kế, hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Bà Trịnh Thị Phúc
- Thư phiên tòa: Ông Trung Kiên - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số lý 704/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11
năm 2025, về “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hiệu
văn bản thỏa thuận thừa kế, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 819/2025/QĐ-PT ngày
12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lê Thị Mỹ Duyên E, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số A, ấp C, A, tỉnh Tây Ninh (trước đây số 168/4, ấp C,
A, huyện C, tỉnh Long An).
Người đại diện theo ủy quyền của E: Ông Lê Trung T, sinh năm 1963
(có mặt).
Địa chỉ: Số A, đường V, phường L, tỉnh Tây Ninh (trước đây là số A, đường
V, phường F, thành phố T, tỉnh Long An).
2. Bị đơn: Ông Văn Q, sinh năm 1980.
2
Địa chỉ: Số A, ấp C, A, tỉnh Tây Ninh (trước đây số A, ấp C, A,
huyện C, tỉnh Long An).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Q: Ông Trần Văn C, sinh năm 1967
(có mặt).
Địa chỉ: Số H, đường L, phường L, tỉnh Tây Ninh (trước đây số H, đường
L, phường D, thành phố T, tỉnh Long An).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964.
3.2. Bà Nguyễn Kim N, sinh năm 1994.
3.3. Ông Nguyễn Hải D, sinh năm 1995.
Cùng địa chỉ: Số A, ấp C, A, tỉnh Tây Ninh (trước đây là số 168/4, ấp C,
xã A, huyện C, tỉnh Long An).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, ông D, N: Ông Trung T,
sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, đường V, phường L, tỉnh Tây Ninh (trước đây là số A, đường
V, phường F, thành phố T, tỉnh Long An).
3.4. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh (trước đây là số 181/4, Ấp D, xã
P, huyện C, tỉnh Long An).
3.5. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp C, A, tỉnh Tây Ninh (trước đây số A, ấp C, A,
huyện C, tỉnh Long An).
3.6. Chủ tịch y ban nhân dân A, tỉnh Tây Ninh (trước đây là Ủy ban
nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Long An) vắng mặt).
3.7 Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ: K- khu trung tâm chính trị hành chính tỉnh, số D, đường S, phường
L, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện theo ủy quyền Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh T: Thị
Thanh N2- Giám đốc Chi nhánh văn phòng Đ (vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09/01/2023, ngày 29/7/2024 và ngày 09/8/2025 và
quá trình giải quyết vụ án ông Trung T là người đại diện theo y quyền của
E, ông H, bà N2, ông D trình bày:
3
Năm 1993, Duyên E ông Nguyễn Văn H nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T1 (bà ngoại của ông Q) phần đất diện tích
500m
2
(05 sào đất) thuộc một phần thửa đất 297, tờ bản đồ số 19, diện tích
751,3m
2
, giá trị 04 chỉ vàng 24k vào ngày 20/3/1993 bằng “tờ kam kết bán
ruộng”. T1 đã nhận đủ tiền, hai bên chỉ làm giấy tay. Năm 1993, E gia
đình đã xây ncấp 4, vách tường, bán kiên cố, mái tôn xi măng, chiều ngang
khoảng 10m, chiều dài khoảng 11 m, diện tích là khoảng 110 m
2
. Đến năm 2009
thì UBND xã A có xây dựng cho gia đình bà E, ông H căn nhà tình thương, phía
trước nhà có một phần nhà tiền chế có chiều ngang 5m, chiều rộng khoảng 10m,
phía sau nhà có phần ao, phần hông nhà có chiều ngang khoảng 6m. Bà E và gia
đình sinh sống từ năm 1993 cho đến nay. Vào năm 1998, bà T1 mất, ông Lê Văn
Q cháu ngoại T1 đã làm thủ tục nhận thừa kế di sản của T1 trong đó
thửa đất số 297 trên.
Nay bà Duyên E, ông H u cầu như sau:
1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập bằng
giấy tay ngày 20/3/1993 giữa bà T1 và bà Duyên E tại vị trí khu A có diện tích
507,3 m
2
theo mảnh trích đo.
2. Tuyên bố vô hiệu biên bản họp gia đình về thừa kế ngày 10/11/2004.
3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Q đối với phần
đất tranh chấp.
Bị đơn ông Văn Q do ông Trần Văn C người đại diện theo uỷ quyền
trình bày:
Vào năm 1993, bà Trần Thị T1 ngoại của ông thửa đất số 297, tờ
bản đồ số 19, diện tích là 751,3m
2
, bà T1 và bà E có sự trao đổi thỏa thuận gì thì
ông không biết. Nhưng E đã cất nhà cấp 4 cùng gia đình sinh sống từ năm
1993. Đến năm 2009, Ủy ban nhân dân A có xây dựng nhà tình thương cho bà
E; ông Q có ngăn cản việc E xây dựng nhà trên đất, Ủy ban nhân dân không
lập biên bản gì. Ngoài ra trong phần đất này căn nhà cấp 4 của Nguyễn
Thị Hồng A (năm sinh địa chỉ ông cung cấp sau cho Tòa án). Ông Q đồng ý làm
thủ tục tách thửa đất cho E và gia đình bà E đứng tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo hiện trạng căn nhà E, ông H đứng tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, phần còn lại ông sẽ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa thẩm ông C trình bày: Vào năm 1993, Trần Thị T1
bà ngoại của ông Q có thửa đất số 297, tờ bản đồ số 19, diện tích là 751,3 m
2
. Bà
T1 cho gia đình E ở nhờ trên đất, ông Q nhận thừa kế quyền sử dụng đất từ
T1 vào năm 2004 đúng quy định của pháp luật và ông Q vẫn cho gia đình bà E
nhờ đến hết đời E, ông H nhưng không lập văn bản. Trước các yêu cầu của bà
E, ông Q không đồng ý.
Nay ông Q yêu cầu E gia đình trả lại vị trí khu A diện tích
507,3m
2
theo mảnh trích đo cho ông Q và tháo dỡ căn nhà cấp 4, trả lại đất cho
ông Q.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1, bà Phạm Thị L trình
bày: Qua lời trình bày của ông C người đại diện theo ủy quyền của ông Quy
trình B thì bà L, bà N1 thống nhất không trình bày gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Nông nghiệp Môi trường tỉnh
T do bà Võ Thị Thanh N2 là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Về trình tự,
thủ tụ cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất cho ông Q là đúng theo quy định
của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp
luật.
Sự việc tranh chấp đã được Tòa án cấp sơ thẩm hòa giải nhưng các đương
sự không thỏa thuận với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Tây Ninh đã căn cứ
- Căn cứ các Điều 26, 34, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 129, 459, 500, 501, 502, 503, 615 Bộ luật Dân sự năm
2015.
- Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất” của E đối với ông Q.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/1993
theo tờ giấy tay “tờ kam kết bán ruộng” theo mảnh trích đo do Chi nhánh văn
phòng đăng đất đai tại huyện C (nay Chi nhánh văn phòng Đ) đo vẽ ngày
02/11/2023 duyệt ngày 03/11/2023 tại vị trí khu A 507,3 m
2
, tại A,
huyện C, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh).
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hiệu biên bản họp thừa kế”
của bà E đối với ông Q. Tuyên bố vô hiệu biên bản họp gia đình về thừa kế ngày
10/11/2004.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 032357, số vào sổ cấp GCN:
CS 08739, ngày cấp: ngày 23/12/2016, diện tích 751,3m
2
, tờ bản đồ số 19 được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (nay là Sở Nông Nghiệp và Môi trường tỉnh
T) cấp cho ông Văn Q, tại vị trí khu A diện tích 507,3 m
2
, tại A, huyện
C, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh).
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Q đối với bà E, ông H, tại vị trí
khu A diện tích 507,3 m
2
, tại xã A, huyện C, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh
Tây Ninh).
5
“Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp
(hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp). Trường
hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu quan nhà nước thẩm
quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc
một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp)”.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản tranh chấp
tổng cộng 9.407.400 đồng (chín triệu bốn trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm đồng).
Ông Q phải hoàn trả lại 9.407.400 đồng chi phí này cho E.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hằng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- E không phải chịu án pdân sự thẩm về tranh chấp hợp đồng
CNQSD đất. E được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng
án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006599 ngày 27 tháng 01 năm
2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An (nay
Phòng thi hành án dân sự khu vực 5- Tây Ninh).
E không phải chịu án phí dân sự thẩm về tranh chấp thừa kế. E
được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên
lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001961 ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 5- Tây Ninh).
- Ông Q phải chịu án phí dân sự thẩm (tranh chấp hợp đồng CNQSD đất)
là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Ông Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng, yêu cầu phản tố
không được chấp nhận) án phí thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí
300.000 đồng ông Q đã nộp theo biên lai thu số 0010547 ngày 06 tháng 11
năm 2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An (nay là Phòng
thi hành án dân sự kh vực 5- Tây Ninh).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền
và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 08/10/2025, bị đơn ông Lê Văn Q kháng cáo không đồngý bản án sơ
thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
6
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương skhông thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Văn Q do ông Trần Văn C người đại diện theo ủy quyền
trình bày nội dung kháng cáo: Nguồn gốc thửa đất số 297, tờ bản đồ số 19 là của
Trần Thị T1 là bà ngoại của ông Q. Khi bà T1 còn sống, ông Q có nghe bà T1
nói lại cho E cất nhà nhờ trên đất. E cất nhà cùng gia đình tn
đất từ năm 1993 đến nay. Năm 1998, T1 chết, đến năm 2004 ông Q lập thủ tục
nhận thừa kế đứng tên giấy chứng nhận quyền sdụng thửa đất này. Thời điểm
nhận thừa kế ông Q biết trên đất có nhà của bà E, nhưng lập thủ tục kê khai thừa
kế nên ông Q không có ý kiến phản đối gì.
Nguyên đơn Thị Mỹ Duyên E do ông Trung T người đại diện
theo ủy quyền trình bày: Phần đất hiện đang tranh chấp có nguồn gốc bà E nhận
chuyển nhượng của Trần Thị T1 vào năm 1993, E cất nhà cùng gia đình sinh
sống trên đất tnăm 1993 đến nay. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo
của ông Q.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và
đương schấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
đương strong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Xét “Tờ kam kết bán ruộng” lập bằng giấy tay ngày
20/3/1993 giữa E T1 thì E mua 5 xào ruộng của T1. E đã
giao đủ cho bà T1 trị giá tài sản chuyển nhượng 04 chỉ vàng 24k. E đã
nhận đất và cất nhà ở trên đất từ năm 1993, đến năm 2009 bà E được cất nhà tình
thương, xây dựng hàng rào ông Q biết cho rằng ngăn cản E cất nhà nhưng
không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ông Q cũng xác nhận giữa bà E
T1 thỏa thuận nhưng thỏa thuận cụ thể như thế nào thì ông Q không biết.
Ông Q cũng thừa nhận phần đất tranh chấp, ông Q không có quản lý sử dụng
người sử dụng là bà Duyên E.
Như vậy ông Q cũng biết và xác định bà Duyên E và gia đình bà Duyên E
cất nhà cấp 4 và sinh sống trên một phần thửa đất số 297 từ năm 1993 tại khu
A (MTĐ số 272), nhưng ông Q không tranh chấp, nên căn cứ để công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên quy định tại Điều 129, 615 bộ luật
Dân shai bên đã thực hiện xong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
giao tiền, giao nhận đất đã thực hiện xong (thực hiện trên 2/3 nghĩa vụ) nên cần
công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Duyên E với bà T1.
Tại Công văn số 1346/UBND-NC ngày 25/4/2025 của UBND huyện C,
tỉnh Long An phúc đáp cho Tòa án như sau:
“…...
1. Vị trí thửa đất số 297, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại A thuộc 01 phần quy
hoạch đất ở tại nông thôn, 01 phần quy hoạch đất giao thông.
7
Đối với việc tách thửa: Theo mảnh trích đo địa chính số 272-2023 do Chi
nhánh VPĐKĐĐ duyệt ngày 03/11/2023, duyệt ngày 03/11/2023 thuộc một phần
thửa đất số 297, diện tích 751,3 m
2
:… Vị trí khu A diện tích 507,3 m
2
là đảm bảo
điều kiện tách thửa theo quy định tại Điều 6 Quyết định số 49/2024/QĐ-UBND
ngày ngày 25/10/2024 của UBND tỉnh L…”.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn Q không có cơ
sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của bị đơn
ông Văn Q. Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn Q được thực
hiện đúng theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên
được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, ông Trần Văn C, ông Nguyễn Trung T2 mặt, các đương
sự còn lại vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành
xét xử vụ án.
[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Nguyên đơn Thị Mỹ D1 Em tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, tranh chấp hiệu văn bản thỏa thuận thừa kế, hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất khu A 507,3 m
2
, tọa lạc tại A, huyện
C, tỉnh Long An (nay A, tỉnh Tây Ninh theo Mảnh trích đo do Chi nhánh
văn phòng đăng đất đai tại huyện C (nay Chi nhánh văn phòng Đ) đo vẽ
02/11/2023 và duyệt ngày 03/11/2023.
Toà án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị
Mỹ D1 Em. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Lê Văn Q kháng cáo không đồng
ý bản án thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các đương sự còn lại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị. Tại
phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ
án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại
phần của bản án thẩm kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của
đương sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn Q, thấy rằng:
[3.1] Về vị tđất tranh chấp: Các đương sự thống nhất vị trí đất tranh chấp
được thể hiện tại khu A diện tích đo đạc 507,3 m
2
, loại đất ONT, thuộc một
phần thửa đất số 297, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại A, huyện C, tỉnh Long An
(nay là xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mảnh trích đo do Chi nhánh văn phòng đăng ký
đất đai tại huyện C (nay là Chi nhánh văn phòng Đ) đo vẽ 02/11/2023 duyệt
ngày 03/11/2023. Khu A hiện ông Q là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Trên đất có nhà của bà E do bà E đang trực tiếp quản lý, sử dụng, toàn
bộ khu A không có tài sản của ông Q.
8
[3.2] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất:
Các đương sự thống nhất thửa 297 có nguồn gốc của bà Trần Thị T1 (chết
năm 1998) bà ngoại của ông Văn Q, ông Q được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất trên sở thỏa thuận văn bản thừa kế của những người thừa kế của
T1. E sdụng đất cất nhà từ năm 1993 đến nay. Tuy nhiên, các bên không
thống nhất căn cứ xác lập quyền sử dụng đất nên phát sinh tranh chấp.
[3.3] Về quá trình giao dịch liên quan đến phần đất tranh chấp:
Xét “tờ kam kết bán ruộng” giấy tay, ngày 20/3/1993, được xác lập giữa
E và bà T1. Bà E đã thanh toán đủ cho bà T1 trị giá là 04 chỉ vàng 24k. Bà E cho
rằng vào năm 1993, Duyên E ông Nguyễn Văn H có nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của bà Trần Thị T1 (bà ngoại của ông Q) phần đất diện tích
500m
2
(05 sào đất) thuộc một phần thửa đất 297, tờ bản đồ số 19, diện tích
751,3m
2
, giá trị 04 chỉ vàng 24k vào ngày 20/3/1993 bằng “tờ kam kết bán
ruộng”. T1 đã nhận đủ tiền, hai bên chỉ làm giấy tay. Năm 1993, E gia
đình đã xây nhà cấp 4, vách tường, bán kiên cố, mái tôn xi măng trên một phần
đất. Đến năm 2009 thì UBND xã A xây dựng cho gia đình E, ông H căn nhà
tình thương, phía trước nmột phần nhà tiền chế chiều ngang 5m, chiều
rộng khoảng 10m, phía sau nhà phần ao, phần hông n chiều ngang khoảng
6m. Bà E và gia đình sinh sống từ năm 1993 cho đến nay. Ông Q cũng xác nhận
giữa bà E và bà T1 thỏa thuận nhưng thỏa thuận cụ thể như thế nào thì ông Q
không biết.
Ngày 10/11/2004, ông Q làm thủ tục nhận thừa kế thửa đất số 297, thời
điểm này vị trí khu A nhà của gia đìnhE đang nhưng ông Q không ý
kiến phản đối gì. Đến năm 2009, ông Q đã biết bà E được cất nhà tình thương và
đến ngăn cản việc xây dựng nhà cấp 4, nhưng không yêu cầu quan nhà nước
thẩm quyền giải quyết cho E. Như vậy căn cứ xác định ông Q cũng đã
biết xác định E và gia đình E cất nhà cấp 4 sinh sống trên một phần
thửa đất số 297 từ năm 1993 tại vị trí tranh chấp khu A. Do đó, Tòa án cấp
thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên là phù hợp với
các Điều 129, 615 Bộ luật Dân sự.
[3.4] Theo công văn s1346/UBND-NC ngày 25/4/2025 của Ủy ban nhân
dân huyện C, tỉnh Long An phúc đáp công văn số 193/2025/CV-TA ngày
15/4/2025 như sau: Đối với việc tách thửa:
Theo mảnh trích đo địa chính số 272-2023 do Chi nhánh VPĐKĐĐ duyệt
ngày 03/11/2023 thuộc một phần thửa đất số 297, diện tích 751,3 m
2
:… Vị trí khu
A diện tích 507,3 m
2
là đảm bảo điều kiện tách thửa theo quy định tại Điều 6
Quyết định số 49/2024/QĐ-UBND ngày ngày 25/10/2024 của UBND tỉnh L…”.
Tuy giữa bà T1 và bà E chỉ lập giấy tay chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đề ngày 20/3/1993. Tuy nhiên, E đã thanh toán đủ tiền, đã nhận đất và gia đình
đã xây dựng nhà ở, sinh sống từ năm 1993 đến nay. Do đó Tòa án cấp thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố
của bị đơn có căn cứ. Chấp nhận đnghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
9
Lê Thị Mỹ D1 Em được quyền sử dụng và được quyền kê khai đăng ký
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu A diện tích 507,3m
2
, loại đất ONT,
thuộc một phần thửa đất số 297, tbản đồ số 19, tọa lạc tại A, huyện C, tỉnh
Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mảnh trích đo do Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai tại huyện C (nay là Chi nhánh văn phòng Đ khu vực T) đo vẽ
duyệt ngày 03/11/2023. quan hành chính nhà nước thẩm quyền, quan
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Văn phòng đăng đất đai căn cứ vào
bản án, quyết định của Tòa án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hủy, thu
hồi, chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên
đương stheo kết quả giải quyết của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định
của pháp luật về đất đai.
Lê Thị Mỹ Duyên E có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đăng ký, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
kết quả giải quyết của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật
về đất đai.
Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết
định của Tòa án để thu hồi, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người
được xác lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp
các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của
Tòa án thì có quyền yêu cầu quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành
án.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Q không được chấp
nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn Q.
Giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự thẩm số 121/2025/DS-ST ngày
25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 –y Ninh.
- Căn cứ các Điều 26, 34, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 129, 459, 500, 501, 502, 503, 615 Bộ luật Dân sự năm
2015.
10
- Áp dụng Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện vviệc “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất” của bà Lê Thị Mỹ Duyên E đối với ông Lê Văn Q.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/3/1993
theo tờ giấy tay “tờ kam kết bán ruộng” theo mảnh trích đo do Chi nhánh văn
phòng đăng đất đai tại huyện C (nay Chi nhánh văn phòng Đ) đo vẽ ngày
02/11/2023 duyệt ngày 03/11/2023 tại vị trí khu A 507,3 m
2
, tại A,
huyện C, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh).
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu “vô hiệu văn bản thừa kế” của
Lê Thị Mỹ Duyên E đối với ông Lê Văn Q.
Tuyên bố vô hiệu biên bản họp gia đình về thừa kế ngày 10/11/2004.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 032357, số vào sổ cấp GCN:
CS 08739, ngày cấp: ngày 23/12/2016, diện tích 751,3m
2
, tờ bản đồ số 19 được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (nay là Sở Nông Nghiệp và Môi trường tỉnh
T) cấp cho ông Văn Q, tại vị trí khu A diện tích 507,3 m
2
, tại A, huyện
C, tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh).
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Văn Q đối với bà Thị
Mỹ Duyên E, ông H, tại vị trí khu A có diện tích là 507,3 m
2
, tại xã A, huyện C,
tỉnh Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh).
“Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng
nhận quyền sdụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp
(hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp). Trường
hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu quan nhà nước thẩm
quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc
một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp)”.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản tranh chấp
tổng cộng 9.407.400 đồng (chín triệu bốn trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm đồng).
Ông Q phải hoàn trả lại 9.407.400 đồng chi phí này cho bà Lê Thị Mỹ D1 Em.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hằng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
11
- Lê Thị Mỹ Duyên E không phải chịu án phí dân sự thẩm vtranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Lê Thị Mỹ Duyên E được
nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu
tiền tạm ứng án phí số 0006599 ngày 27 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An (nay là Phòng thi hành án dân sự khu
vực 5- Tây Ninh).
Thị Mỹ Duyên E không phải chịu án phí dân s thẩm về tranh
chấp văn bản thừa kế. E được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền
tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001961 ngày 31 tháng 7
năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5- Tây Ninh).
- Ông Văn Q phải chịu án pdân sự thẩm (tranh chấp hợp đồng
CNQSD đất) là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Ông Văn Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng, yêu cầu phản
tố không được chấp nhận) án phí thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí
là 300.000 đồng mà ông Q đã nộp theo biên lai thu số 0010547 ngày 06 tháng 11
năm 2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An (nay là Phòng
thi hành án dân sự khu vực 5- Tây Ninh).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Buc ông Văn Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự phúc thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo biên lai thu số 0006182 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh.
4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự:
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Lê Thị Mỹ D1 Em được quyền sử dụng và được quyền kê khai đăng ký
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu A diện tích 507,3m
2
, loại đất ONT,
thuộc một phần thửa đất số 297, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại A, huyện C, tỉnh
Long An (nay là xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mảnh trích đo do Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai tại huyện C (nay là Chi nhánh văn phòng Đ khu vực T) đo vẽ và
duyệt ngày 03/11/2023. quan hành chính nhà nước thẩm quyền, quan
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Văn phòng đăng đất đai căn cứ vào
bản án, quyết định của Tòa án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền để hủy, thu
hồi, chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên
đương stheo kết quả giải quyết của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định
của pháp luật về đất đai.
12
Lê Thị Mỹ Duyên E có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đăng ký, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
kết quả giải quyết của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật
về đất đai.
Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết
định của Tòa án để thu hồi, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người
được xác lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Toà án. Trường hợp
các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của
Tòa án thì có quyền yêu cầu quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi hành
án.
5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 5 - Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 5 - Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Vân
Tải về
Bản án số 45/2026/DS-PT Bản án số 45/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 45/2026/DS-PT Bản án số 45/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất