Bản án số 42/2026/DS-PT ngày 19/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 42/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 42/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 42/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 42/2026/DS-PT ngày 19/01/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 42/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | - Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông Nguyễn Minh Đ5 Văn phòng C1công chứng ngày 17/01/2022, có số công chứng 000689, quyền số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu. - Hủy điều chỉnh thông tin chủ sử dụng đất từ tên ông sang tên ông Nguyễn Minh Đ6 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. - Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (đối với 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông) giữa ông Nguyễn Minh Đ7 Ngân hàng N2 nhánh thành phố C vô hiệu. Buộc Ngân hàng N2 nhánh thành phố C trả lại cho ông bản gốc 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số DD 611797, DD 611798, DD 611799, DD 611800. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 42/2026/DS-PT
Ngày: 19 - 01 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hiền
Ông Nguyễn A Đam
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thuỷ Anh - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Thuý Hồng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 tháng 12 năm 2025 và 19 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở
Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số
381/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 422/2025/QĐ-PT ngày
28 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Việt K năm 1975 (có mặt).
Căn cước công dân số: 096075002406; cấp ngày: 09/08/2021; nơi cấp: Cục
Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Cư trú tại: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là Ấp S, xã Đ, tỉnh Cà
Mau
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đặng Minh H
là Luật sư của Văn phòng L4 (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Liên Quang T năm 1973 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: 096072010710; cấp ngày: 18/11/2021; nơi cấp: Cục Cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
2. Bà Tô Thị C năm 1973 (vắng mặt).
2
Cùng cư trú tại: Số A, đường L, khóm G, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau
(Nay là Số A, đường L, khóm G, phường A, tỉnh Cà Mau
3. Ông Nguyễn Minh Đ năm 1983 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: 096083007177; cấp ngày: 14/08/2021; nơi cấp: Cục Cảnh
sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
Cư trú tại: Số C, đường số A, khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay
là Số C, đường số A, khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh Đ1 Trần Chi L, sinh
năm 1975; Căn cước công dân số: 096075011403; cấp ngày: 22/06/2022; nơi cấp:
Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cư trú tại: Ấp A, xã H, huyện
N, tỉnh Cà Mau (Nay là Ấp A1, xã N, tỉnh Cà Mau(văn bản uỷ quyền ngày
17/01/2022) (có mặt ngày 19/12/2025, có đơn yêu cầu xử vắng mặt ngày
19/01/2026).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lâm Ngọc D năm: 1978 (vắng mặt).
2. Bà Tô Kim T1sinh năm: 1941 (vắng mặt).
3. Bà Võ Hồng T2sinh năm: 1968 (vắng mặt).
4. Chị Võ N H1sinh năm: 2006 (vắng mặt).
5. Chị Võ N H2sinh năm: 2009 (vắng mặt).
Cư trú tại: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là Ấp S, xã Đ, tỉnh Cà
Mau
Người đại diện theo ủy quyền của bà T13 chị Võ N H2: Bà Lâm Ngọc D1 trú
tại: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là Ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau(văn bản
uỷ quyền cùng ngày 12/12/2024) (vắng mặt).
6. Ngân hàng N1 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, khóm C, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay là số A,
khóm C, phường A, tỉnh Cà Mau
7. Văn phòng C13 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, H, khóm C, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Nay là Số
B, H, khóm C, phường T, tỉnh Cà Mau
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Minh Đ2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày: Ngày 29/12/2021, ông và vợ là bà
Lâm Ngọc D2 thế chấp tài sản là 04 quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Liên
Quang T1 Tô Thị C1 vay số tiến 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), lãi suất
vay 2%/tháng.
- Tài sản 1: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài
3
sản gắn liền với đất số DD 611797 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C ngày
11/01/2022. Số thửa 15, tờ bản đồ 16, diện tích 6000,0m². Mục đích sử dụng: Đất
ở nông thôn 300,0m²; Đất trồng cây lâu năm 5700,0m². Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện
T, tỉnh Cà Mau
- Tài sản 2: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài
sản gắn liền với đất số DD 611798 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C ngày
11/01/2022. Số thửa 4, tờ bản đồ 16, diện tích 1560,0m². Mục đích sử dụng: Đất
trồng cây lâu năm. Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Tài sản 3: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài
sản gắn liền với đất số DD 611799 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C ngày
11/01/2022. Số thửa 3, tờ bản đồ 16, diện tích 12254,4m². Mục đích sử dụng: Đất
chuyên trồng lúa nước. Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Tài sản 4: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài
sản gắn liền với đất số DD 611800 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C ngày
11/01/2022. Số thửa 26, tờ bản đồ 16, diện tích 12507,4m². Mục đích sử dụng: Đất
chuyên trồng lúa nước. Địa chỉ: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
Khi vay tiền thì ông Tbà C2 đưa cho ông 01 hợp đồng thỏa thuận được đánh
máy sẵn với nội dung bà C12 ông vay số tiền 500.000.000 đồng. Ông có ký tên
vào và ông có viết nội dung có mượn trước số tiền 220.000.000 đồng, vợ ông cũng
có ký tên và viết nội dung thống nhất cho ông mượn số tiền 500.000.000 đồng.
Ngoài ra, có lần ông T2 ông ra nhà ông T3 ký vào một số giấy tờ được ông Tbà C3
bị sẵn, có người hướng dẫn đưa cho ông ký và nói với ông là ký giấy thế chấp đất
để vay tiền. Do tin tưởng nên ông ký vào các giấy tờ này không có đọc và kiểm tra
lại nội dung.
Các lần vợ chồng ông nhận tiền vay và đóng lãi cụ thể như sau:
- Ngày 29/12/2021 (ngày ký hợp đồng thỏa thuận), ông Tbà C4 cho ông
trước số tiền 220.000.000 đồng. Đến ngày 25/01/2022, ông Tbà C4 cho ông thêm
số tiền 280.000.000 đồng. Vợ chồng tôi bắt đầu đóng lãi cho ông T1 Csố tiền
500.000.000 đồng này từ ngày 29/01/2022, lãi suất 2%/tháng (mỗi tháng đóng số
tiền 10.000.000 đồng tiền lãi), đóng đến tháng 6/2024 thì ngưng.
- Ngày 04/4/2022 ông vay thêm của ông T1 Csố tiền 200.000.000 đồng, lãi
suất 2.5%/tháng (mỗi tháng đóng 5.000.000 đồng), đóng lãi đến tháng 6/2024 thì
ngưng.
- Ngày 28/3/2023, ông vay thêm của ông T1 Csố tiền 200.000.000 đồng, lãi
suất 2,5%/tháng (mỗi tháng đóng 5.000.000 đồng), đóng lãi đến tháng 6/2024 thì
ngưng.
Trong khoảng thời gian đóng lãi cho ông T1 Cđến ngày 25/01/2024 thì vợ
chồng ông nợ tiền lãi số tiền 120.000.000 đồng. Ông Tbà C5 bắt vợ ông viết biên
nhận mượn nợ số tiền 120.000.000 đồng này, thực chất đây là tiền lãi thiếu, biên
nhận được vợ ông viết ngày 25/01/2024.
Tổng số tiền vợ chồng ông vay của vợ chồng ông Tbà C6 900.000.000 đồng.
4
Tổng số tiền lãi vợ chồng ông đã đóng cho ông T1 Cđược 385.000.000 đồng, đóng
lãi qua hình thức chuyển khoản.
Đến tháng 06/2024, ông liên hệ với ông Tbà C7 trả số tiền vay này và lấy lại
04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì lúc này ông T1 Cnói quyền sử dụng đất
của ông đã chuyển sang tên của ông Nguyễn Minh Đ2(vợ chồng ông hoàn toàn
không biết ông Đ3 ai). Ông T4 đưa cho ông xem các giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thể hiện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T điều chỉnh thông
tin chủ sử dụng đất từ tên ông sang tên ông Nguyễn Minh Đ4 ngày 19/01/2022.
Qua tìm hiểu, ông được biết hiện nay ông Đ32 thế chấp cả 04 giấy chứng nhận
quyền sứ dụng đất này cho Ngân hàng N2 nhánh thành phố C vay tiền. Trên phần
đất vợ chồng ông thế chấp cho ông Tbà C2 căn nhà cấp 4 của gia đình ông đang ở,
căn nhà này là nhà tình nghĩa được Ủy ban nhân dân xã K cho cha ông là Võ Tấn
T3vào năm 2010 (cha ông đã chết năm 2018). Hiện nay, tại căn nhà này vợ chồng
ông sinh sống cùng mẹ ruột tên Tô Kim T1chị ruột tên Võ H1 T2cùng 02 con của
ông là Võ N H1và Võ Như H2
Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết các vấn đề sau:
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với ông
Nguyễn Minh Đ5 Văn phòng C1công chứng ngày 17/01/2022, có số công chứng
000689, quyền số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.
- Hủy điều chỉnh thông tin chủ sử dụng đất từ tên ông sang tên ông Nguyễn
Minh Đ6 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T 04 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông.
- Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất (đối với 04 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của ông) giữa ông Nguyễn Minh Đ7 Ngân hàng N2 nhánh
thành phố C vô hiệu. Buộc Ngân hàng N2 nhánh thành phố C trả lại cho ông bản
gốc 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số DD 611797, DD 611798, DD
611799, DD 611800.
Ông đồng ý cùng với vợ ông trả cho ông T1 Ctổng số tiền vốn đã vay là
900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) và tiền lãi theo quy định pháp luật, kể từ
ngày vay tiền đến tháng 06/2024 nhưng phải đối trừ số tiền lãi vợ chồng ông đã
đóng trước đây là 385.000.000 đồng.
Tại biên bản ghi lời trình bày ngày 29/11/2024, bị đơn ông Liên Quang T5
bày: Trước đây ông Võ Việt K1 vay mượn tiền của vợ chồng ông nhiều lần với
tổng số tiền 1.020.000.000 đồng, những lần vay tiền đều có biên nhận (ông sẽ cung
cấp biên nhận sau cho Tòa án), lãi suất 2,5%/tháng, khi vay thì ông K1 thế chấp
bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K2 ông để đảm bảo cho
việc vay tiền. Để có tiền cho ông K3 nên vợ chồng ông đi hỏi vay tiền của ông
Nguyễn Minh Đ8 cho ông K3 lại để hưởng chênh lệch. Khi vay tiền của ông Đ9
ông có đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K4 đảm bảo cho
việc vay tiền giữa ông với ông ĐLúc này ông Đ15 nói là chuyển nhượng đất của
ông K2 ông Đ9 ông K19 ý chuyển nhượng. Ông K33 ông Đ10 hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng và ông đã đưa bản chính
5
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K2 ông Đ11. Đến nay số tiền ông hỏi
vay của ông Đ8 cho ông K3 lại thì ông chưa trả cho ông Đ12 ông K5 thực hiện
nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông. Nay ông yêu cầu ông Võ Việt K6 cho vợ chồng
ông số tiền đã mượn 1.020.000.000 đồng và lãi suất kể từ ngày vay cho đến nay để
ông trả tiền cho ông Đ
Tại đơn phản tố bị đơn ông Nguyễn Minh Đ13 bày: Vào đầu năm 2022
thông qua môi giới ông gặp ông Võ Việt K7 bạc thống nhất nhận chuyển nhượng
của ông Võ V K04 thửa đất với tổng diện tích là 32.321,8 m², giá chuyển nhương
là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) lúc đó ông và ông K7 bạc thống nhất là ông
đặt cọc trước cho ông K số tiền là 100.000.000 đồng và sau khi ông được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì hai bên lên nhận giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, ông trả cho ông K8 số tiền 2.000.000.000 đồng (trả một lần bằng tiền
mặt) Sau khi hai bên bàn bạc thống nhất, ngày 17/01/2022 chúng tôi đến tại Văn
phòng C1để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng. Đến ngày 19/01/2022 ông được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bằng hình thức chỉnh lý trang tư) sau khi
được biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã làm xong, ông liên hệ với ông K9
nhau đi nhận quyền sử dụng đất và sau đó ông trả đủ cho ông K10 tiền
2.000.000.000 đồng (trong đó bao gồm 100.000.000 đồng tiền đặt cọc trước đó),
lúc trả tiền do ông đã được chuyển tên nên không có yêu cầu ông K11 biên nhận
nhận tiền. Do số tiền lớn nên ông mời ông K12 nhà ông để thực hiện giao tiền để
đảm bảo an toàn. Sau khi nhận đủ tiền ông K1 hỏi ông để ông K13 nhờ trên đất khi
nào ông cần thì cho ông K14 ông K15 xếp giao đất cho ông, lúc này ông đồng ý vì
thực tế ông mua đất là mục đích kinh doanh chờ khi nào giá đất hợp lý thì bán
kiếm lời nên ông cũng đồng ý cho ông K13 với mục đích là cũng để giữ đất dùm
ông không để cho ai lấn chiếm. Sau đó, ông đem các phần đất này vay ở Ngân
hàng N2 nhánh thành phố C tiền 1.850.000.000 đồng để trả cho bà con của ông lúc
tôi mượn 2.000.000.000 đồng để trả tiền mua đất của ông K
Việc ông K16 kiện yêu cầu: “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa ông
với ông K17 vô hiệu: Hủy điều chỉnh thông tin chủ sử dụng đất từ tên Võ Việt K18
tên ông Nguyễn Minh Đ6 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện TTuyên bố
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng
số DD611797, DD611798, DD611799 và DD611800 được ký giữa ông Nguyễn
Minh Đ7 Ngân hàng N2 nhánh thành phố C vô hiệu; Buộc Ngân hàng N1 - Chi
nhánh thành phố Ctrả cho ông Võ V K04 bản chỉnh giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất sổ DD611797, DD611798, DD611799 và DD611800; Ông Võ Việt K19
ý trả cho ông Liên Quang T1 Tô Thị C8 số tiền vay vốn 900.000.000 đồng và lãi
suất theo quy định pháp luật kể từ ngày vay đến tháng 6/2024, yêu cầu đối trừ phần
lãi đã trả 385.000.000 đồng" là hết sức vô lý vì việc ông mua đất của ông K17
đúng trình tự pháp luật, mặt khác ông cũng không quen biết gì với ông Liên Quang
T1 Tô Thị C9 ông cũng không biết gì về số tiền vay của ông K20 các người kia.
Với lý do trên, ông phản tố yêu cầu tòa án giải quyết: Công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông Võ Việt K20 ông được công chứng ngày
17/01/2022, số công chứng 000689 tại Văn phòng C1Buộc ông Võ Việt K21 cho
ông phần đất 04 phần đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký giữa
6
ông Võ Việt K20 ông Nguyễn Minh Đ5 công chứng ngày 17/01/2022, số công
chứng 000689 tại Văn phòng C2cụ thể gồm: Thửa đất số 4, tờ bản đồ số 16, diện
tích 1.560 m², loại đất trồng cây lâu năm; Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 16, diện tích
12.507,4 m², loại đất chuyên trồng lúa nước; Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 16, diện
tích 6.000 m², loại đất ở 300 m², đất trồng cây lâu năm 5.700 m² và Thửa đất số 3,
tờ bản đồ số 16, diện tích 12.254,4 m², loại đất chuyên trồng lúa nước. Cả 04 thửa
đất này đều tọa lạc tại ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, đã quyết định (tóm tắt):
1/ Chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của ông Võ Việt K22.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông Võ
Việt K20 ông Nguyễn Minh Đ14 với: Quyền sử dụng đất ... là vô hiệu.
- Tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số... là vô hiệu.
- Ông Võ Việt K22 được quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để xin
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Buộc ông Võ Việt Kbà Lâm Ngọc D3 cho ông Liên Quang T1 Tô Thị C8
số tiền 1.149.952.532 đồng.
2/ Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Minh Đ8 việc yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông Nguyễn Minh
Đ7 ông Võ Việt K22...
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025 Ông Nguyễn Minh Đ2 là bị đơn kháng cáo, yêu
cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông với ông Võ Việt K23 ông K21 cho ông 04
thửa đất theo Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đã ký. Nếu cấp phúc thẩm không
công nhận hợp đồng thì buộc ông K26 trả cho ông số tiền là 2.000.000.000 đồng
và bồi thường thiệt hại theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Trần Chi L1 đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh Đ2 giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm; yêu cầu
Tòa án xử vắng mặt khi mở lại phiên tòa ngày 19/01/2026.
Luật sư Đặng Minh H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn yêu cầu Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ
thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát
biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định
pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
theo pháp luật quy định.
7
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh Đ2, giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm số: 33/2025/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1- Cà Mau. Tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng
xét xử bổ sung trong phần quyết định của bản án sơ thẩm là: Hủy Quyền sử dụng
đất đã cấp cho ông Nguyễn Minh Đ2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Minh Đ2 là bị đơn nộp trong thời
hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và
thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo quy
định pháp luật.
[2] Bị đơn là ông Liên Quang T6 bà Tô Thị C10 được triệu tập hợp lệ nhưng
vắng mặt không lý do; Ông Trần Chi L1 đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn
Minh Đ15 đơn yêu cầu xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt
ông T1 Cvà ông L theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Sau khi mở phiên tòa vào ngày 19 tháng 12 năm 2025, Hội đồng xét xử
đã tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, cụ thể là làm việc
với ông Liên Quang Tông Nguyễn Minh Đ16 ông Đ17(em ông ĐTại phiên tòa vào
ngày 19/12/2025, ông Trần Chi L1 đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh
Đ18 định sẽ hỏi và liên hệ ông Đ19 Tòa án liên hệ làm việc với ông Đ. Tuy nhiên,
ngày 16/01/2026 ông Trần Chi L2 văn bản gửi Tòa án, ông L3 định ông đã liên hệ
ông Nguyễn Minh Đ20 ông Đ30 đồng ý để Tòa án liên hệ làm việc. Tòa án cũng
tiến hành làm việc với ông Liên Q T4Qua làm việc, ông T4xác định ông không
quen biết ông Nguyễn Minh Đ1 vay tiền ông Nguyễn Minh Đ21 qua trung gian là
ông Đ17 nhưng ông không biết họ của ông Đ1cũng như không biết ông Đ1ở đâu.
Do đó, Tòa án không làm việc được với ông Đ16 ông Đ22 vậy, Hội đồng xét xử
xem xét các chứng cứ có tại hồ sơ để tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án.
[4] Xét các yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh Đ2 Hội đồng xét xử
thấy rằng:
[4.1] Bị đơn ông Liên Quang T7 định từ ngày 29/12/2021 đến ngày
25/01/2024 vợ chồng ông có cho vợ chồng ông Võ Việt Kbà Lâm Ngọc D4 tiền
nhiều lần với tổng số tiền vay 1.020.000.000 đồng. Các lần vay đều có làm biên
nhận và vợ chồng ông K1 ký tên. Khi vay vợ chồng ông Võ Việt K24 Lâm Ngọc
D5 có thế chấp 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông K25 tên cho vợ
chồng ông Liên Quang T1 Tô Thị C1 đảm bảo cho việc vay tiền trên.
Tuy nhiên, để có tiền cho ông K3, vợ chồng ông T8 đi vay tiền của ông
Nguyễn Minh Đ8 cho vợ chồng ông K3 lại để hưởng chênh lệch. Khi vay tiền của
ông Đ9 ông có đưa bản chính 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K2
ông Đ16 buộc ông Võ Việt K26 ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn
Minh Đ2
Nay ông Nguyễn Minh Đ23 rằng: không quen biết với vợ chồng ông Liên
8
Quang Tbà Tô Thị C11, không có việc cho ông T9 tiền như ông T5 bày, mà thông
qua môi giới giới thiệu ông có mua đất của vợ chồng ông K27 04 thửa đất là
2.000.000.000 đồng, ông đã trả tiền xong.
[4.2] Chứng cứ tại hồ sơ thể hiện: ông Võ Việt K28 hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Minh Đ4 ngày 17/01/2022, trùng vào
ngày bà Tô Thị C12 ông Kbà D4 số tiền 500.000.000 đồng (các bút lục 15-17,
132-133). Chứng cứ này phù hợp với trình bày của ông Tbà C6 vay tiền của ông
Đ24 cho vợ chồng ông K3 lại với lãi suất cao hơn.
[4.3] Trong hợp đồng chuyển nhượng ghi giá chuyển nhượng 04 phần đất là
1.160.000.000 đồng, ông Đ23 rằng giá thoả thuận là 2.000.000.000 đồng và ông đã
giao đủ số tiền, nhưng ông Đ25 trình bày không đưa ra được biên nhận nào thể
hiện vợ chồng ông K1 nhận khoản tiền trên. Trong khi đó, theo chứng thư thẩm
định giá, giá trị 04 phần đất trên và tài sản trên đất tại thời điểm tháng 01/2022 là
9.408.400.000 đồng (bút lục 188-190). Điều này cho thấy giá chuyển nhượng tại
hợp đồng chênh lệch rất nhiều so với giá trị thực tế, là không phù hợp.
[4.4] Mặt khác, trên phần đất chuyển nhượng trên có căn nhà cấp 4, nhà tình
nghĩa của gia đình ông K1 một khu nhà mồ, cùng nhiều cây ăn trái (bút lục 141-
142). Theo chứng thư thẩm định giá, công trình xây dựng trên đất có giá trị:
354.785.830 đồng (bút lục 189). Khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất trên, ông
K33 ông Đ26 thỏa thuận gì đối với tài sản này. Thực tế, gia đình ông K29 sinh
sống trên phần đất gồm: Vợ chồng ông K9 mẹ ruột tên Tô Kim T1chị ruột tên Võ
H1 T2cùng 02 con của ông Klà Võ N H1và Võ Như H2. Ông Đ23 là ông cho ông
K30 đất nhưng không có giấy tờ thể hiện cho ông K30 lại đất.
[4.5] Từ căn cứ trên, Án sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất được ký kết giữa ông Võ Việt K20 ông Nguyễn Minh Đ4 ngày
17/01/2022 là giả tạo nhằm che giấu cho hợp đồng vay tài sản nên vô hiệu, là có
căn cứ.
[4.6] Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh Đ27 không công
nhận Hợp đồng chuyển nhượng trên thì buộc ông K6 cho ông 2.000.000.000 đồng
và bồi thường thiệt hại theo quy định. Xét thấy, tại đơn yêu cầu phản tố và tại cấp
sơ thẩm, ông Đ30 đặt ra yêu cầu giải quyết nội dung này, Tòa án cấp sơ thẩm
không giải quyết, nên cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét giải quyết.
[5] Đối với hợp đồng vay giữa vợ chồng ông T10 ông Đ28 thừa nhận của
ông T11 vay tiền của ông Đ8 cho vợ chồng ông K3 lại để hưởng chênh lệch. Do
ông Đ29 từ làm việc với Tòa nên Hội đồng xét xử không thể xác định thêm những
tình tiết mà ông T5 bày liên quan đến khoản vay giữa ông T12 Đvà ông Đ17. Do
đó, cấp sơ thẩm dành quyền khởi kiện cho ông Đ3 có căn cứ. Nếu giữa ông Tông
Đ30 thỏa thuận được với nhau thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.
[6] Đối với hợp đồng thế chấp QSDĐ số 7501-LCL-202200113, số 7501-
LCL-202200114, số 7501-LCL-202200111 và số 7501-LCL-202200112 ký cùng
ngày 24/01/2022 giữa Ngân hàng N1– chi nhánh T14 Cvới ông Nguyễn Minh Đ31
khi xử sơ thẩm, ngày 03/11/2025 Ngân hàng có Công văn số 1652/NHNo.AX-TH
9
xác định ông Nguyễn Minh Đ32 tất toán nợ vay tại A- Chi nhánh ADo đó Ngân
hàng không có yêu cầu trong việc tranh chấp.
[7] Từ những căn cứ và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh Đ33 nhiên, do sau khi xét xử sơ thẩm thì
ông Nguyễn Minh Đ32 tất toán nợ vay với Ngân hàng N1– Chi nhánh thành phố
CDo đó, Hội đồng xét xử sửa một phần Bản án sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày
23 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau, chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của ông Võ Việt K22 không tuyên vô hiệu hợp đồng chấp
QSDĐ giữa Ngân hàng N1– chi nhánh T14 Cvới ông Nguyễn Minh Đ2 Đồng thời
cần phải tuyên hủy phần điều chỉnh tại trang 4 về việc “Chuyển nhượng cho ông
Nguyễn Minh Đ34 số 381245101, địa chỉ tại Khóm H, phường E, thành phố C,
tỉnh Cà Mautheo hồ sơ số 001419.CN.002” có xác nhận của Văn phòng đăng ký
đất đai Chi nhánh huyện T Các phần còn lại giữ nguyên theo Bản án sơ thẩm số
33/2025/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà
Mau.
[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau và Luật sư
Đặng Minh H phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[9] Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Minh Đ35 chịu số tiền là 300.000 đồng, được đối trừ số tiền đã
dự nộp.
[10] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Minh Đ2
Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 33/2025/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu cầu khởi kiện của ông Võ Việt K22
1.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông Võ
Việt K20 ông Nguyễn Minh Đ14 với: Quyền sử dụng đất thửa số 03, tờ bản đồ số
16, diện tích 12254,4m
2
toạ lạc ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mautheo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DD611799 do Văn phòng đăng ký đất đai TƯQ. Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh C ngày 11/01/2022; Quyền sử dụng đất thửa số 26, tờ
bản đồ số 16, diện tích 12507,4m
2
toạ lạc ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mautheo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD611800 do Văn phòng đăng ký đất đai
10
TƯQ. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C ngày 11/01/2022; Quyền sử dụng đất
thửa số 15, tờ bản đồ số 16, diện tích 6000m
2
toạ lạc ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà
Mautheo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD611797 do Văn phòng đăng ký
đất đai TƯQ. Sở T tỉnh Ccấp ngày 11/01/2022 và Quyền sử dụng đất thửa số 04, tờ
bản đồ số 16, diện tích 1560m
2
toạ lạc ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mautheo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DD611798 do Văn phòng đăng ký đất đai TƯQ.
Sở T tỉnh Ccấp ngày 11/01/2022, được công chứng ngày 17/01/2022, số công
chứng 000689, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1là vô hiệu.
1.2. Hủy việc điều chỉnh thông tin chủ sử dụng đất tại trang 4 về việc
“Chuyển nhượng cho ông Nguyễn Minh Đ34 số 381245101, địa chỉ tại Khóm H,
phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mautheo hồ sơ số 001419.CN.002” của Văn
phòng Đ Chi nhánh huyện T với các Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số
DD611799 do Văn phòng đăng ký đất đai TƯQ. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
C ngày 11/01/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD611800 do Văn
phòng đăng ký đất đai TƯQ. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C ngày
11/01/2022; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD611797 do Văn phòng
đăng ký đất đai TƯQ. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ccấp ngày 11/01/2022 và
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD611798 do Văn phòng đăng ký đất đai
TƯQ. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C ngày 11/01/2022, tất cả đều cấp cho
ông Võ Việt K22
Ông Võ Việt K22 được quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để xin cấp
lại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
2. Buộc ông Võ Việt Kbà Lâm Ngọc D3 cho ông Liên Quang T1 Tô Thị C8
số tiền 1.149.952.532 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi
hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành
án.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Minh Đ8 việc yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông Nguyễn Minh
Đ7 ông Võ Việt K31 công chứng ngày 17/01/2022, số công chứng 000689, quyển
số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 và buộc ông Võ Việt K21 04
phần đất theo hợp đồng chuyển nhượng đã ký ngày 17/01/2022, gồm các thửa:
Thửa số 4, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.560m
2
; Thửa số 26, tờ bản đồ số 16, diện
tích 12.507,4m
2
; Thửa số 15, tờ bản đồ số 16, diện tích 6.000m
2
và thửa số 03, tờ
bản đồ số 16, diện tích 12.254,4m
2
, đất tọa lạc tại ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà
Mau cho ông Nguyễn Minh Đ36 lý, sử dụng.
4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Minh Đ37 cho ông Võ Việt K32 phí
tố tụng số tiền 49.239.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi
hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành
11
án.
5. Về án phí dân sự:
- Án phí sơ thẩm:
Ông Võ Việt K33 bà Lâm Ngọc D6 chịu án phí dân sự có giá ngạch là
46.498.000 đồng. Ông Võ Việt K1 dự nộp 300.000 đồng, biên lai thu số 0009557
ngày 28/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (Nay là Phòng
Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Cà Mau) được chuyển thu đối trừ. Số tiền án phí
ông Kbà D7 phải nộp tiếp là 46.198.0000 đồng.
Ông Nguyễn Minh Đ35 chịu án phí dân sự không có giá ngạch là 300.000
đồng. Ngày 28/11/2024 ông Nguyễn Minh Đ15 dự nộp tạm ứng 300.000 đồng theo
biên lai thu số 0009799 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau (Nay là
Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Cà Mau) được chuyển thu đối trừ.
- Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Minh Đ35 chịu số tiền là 300.000 đồng.
Ngày 07/8/2025 ông Nguyễn Minh Đ15 dự nộp tạm ứng số tiền là 300.000 đồng
theo biên lai thu số 0011886 tại Thi hành án dân sự thỉnh Cà Mau, được chuyển
thu đối trừ.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thị Hiền Nguyễn A Đam
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
12
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
13
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Thị Hiền Nguyễn A Đam
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
14
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 1 - Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Cao Khánh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm