Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 23/04/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 42/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 23/04/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 42/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/04/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Phạm Ngọc D và Trần Phúc L
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Phan Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Ngọc Sơn
Ông Mộng Linh
Thư phiên tòa: Ông Trương Nguyễn Nhứt –Thư Tòa án nhân dân
huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú-tỉnh Bến Tre tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Phú Quí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh
Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ số: 15/2025/TLST–HNGĐ ngày 07
tháng 01 năm 2025 v việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc D, sinh năm: 1989; ĐKTT: 144/3 ấp Q,
H, huyện T, tỉnh B; chỗ hiện nay: 42/2 ấp Q, H, huyện T, tỉnh B (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Phúc L, sinh m: 1986; địa chỉ: 144/3 ấp Q, H,
huyện T, tỉnh B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản khai, trong quá trình tố tụng tại phiên
tòa nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc D trình bày:
Chị anh L tự nguyện tiến đến hôn nhân, được gia đình tổ chức lễ cưới
đăng kết hôn tại UBND H, được cấp Giấy chứng nhận đăng kết hôn
ngày 21/8/2007. Thời gian sống chung 02 con chung Trần Đình N, sinh ngày
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 42/2025/HNGĐ–ST
Ngày: 23 4 -2025.
V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi
con”.
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
2
04/7/2007 Trần Đình S, sinh ngày 27/6/2015. Sau khi cưới nhau thì anh chị
sống hạnh phúc.
Tuy nhiên từ năm 2019 cho đến nay anh L thường xuyên tham gia chơi cờ
bạc, gây nợ nần rất nhiều lần. thương chồng các con chị đã tha thứ nhiều
lần, cùng làm ăn gồng gánh trả nợ cho anh L. Tuy nhiên khoảng thời gian cuối
năm 2024 anh L tiếp tục sa đà vào cờ bạc nhiều hơn còn tình cảm với người
phụ nữ khác nên chị nhận thấy không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân. Trong
cuộc sống hôn nhân chị cố gắng làm lụng đ vun n cho gia đình nhưng anh L
không lo làm ăn, chị không còn đủ sức để gồng gánh trả nợ cho anh L nữa. Trước
đây anh L thường xuyên tham gia cờ bạc, phải trốn nợ. Khi vỡ nợ cờ bạc, chị đã
phải vất vả và gia đình anh đã phải bán đất để trả nợ cho anh. Anh L đã xuống tóc
hứa từ bỏ cờ bạc quay về c thú làm ăn nên chị đã chấp nhận tha thứ cùng làm
ăn để lo trả nợ cho anh. Nhưng từ tháng 12/2024 chị phát hiện ra anh L tiếp tục
lén lút chị chơi cờ bạc nên chị không còn tin tưởng tha thứ cho anh. Chị đã
từng nhiều lần khuyên nhủ, tha thứ tạo điều kiện hàn gắn tình cảm nhưng anh
không thay đổi, không lo làm ăn, thậm chí còn sa vào cờ bạc nhiều hơn. Từ
nguyên nhân này tình cảm vợ chồng rạn nứt, chị không còn tin tưởng n thể
thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh L. Từ tháng 12/2024 chị đã trở về nhà
mẹ ruột sống ly thân với anh L cho đến nay.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không khả năng hàn gắn.
vậy tôi yêu cầu ly hôn với anh L. Chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho tôi khi
ly hôn.
Về con chung: 02 con chung Trần Đình N, sinh ngày 04/7/2007 Trần
Đình S, sinh ngày 27/6/2015 hiện đang sống cùng anh L. hiện chị đang tạm
nhà mẹ ruột; nhà và đất anh L đang quản sử dụng các con cũng nguyện
vọng sống với anh L nên chị đồng ý giao 02 con cho anh L nuôi dưỡng. Chị
không cấp dưỡng nuôi con nhưng trách nhiệm lo cho con.
Về tài sản chung: 01 căn nhà cấp 4, diện tích khoảng 160 m
2
xây trên đất
do anh L đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhà do vợ chồng
cùng xây cất năm 2023. Tuy nhiên, chị anh L tự thỏa thuận giải quyết, chị
không yêu cầu tòa giải quyết. Chị anh L cùng quản sử dụng nhà đất đang
ở.
Về nợ chung: không chị không yêu cầu giải quyết.
3
Theo nội dung bản khai, biên bản hòa giải, trong quá trình tố tụng tại
phiên tòa b đơn anh Trần Phúc L trình bày:
Anh và chị D kết hôn tự nguyện năm 2007, sống chung 02 con chung
Trần Đình S sinh năm 2007 Trần Đình N sinh năm 2015. Chúng tôi sống
chung đã 19 năm.
Thời gian sống chung vợ chồng tài sản chung 01 n nhà cấp 4 diện
tích khoảng 160m
2
, xây năm 2023 trên đất do anh đứng tên trên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, nhà lúc xây dựng giá trị khoảng 700.000.000 đồng, do vợ
chồng cùng cây cất. V nợ chung không có.
Nguyên nhân chị D xin ly hôn với anh do trước đây anh chơi c bạc
nhưng đã t bỏ. Trước khi chị D giận bỏ về nhà mẹ ruột sống là do ghen tuông
anh gọi điện chọc ghẹo người phụ nữ khác. Khi chị D trở về nhà mẹ ruột t
anh nhiều lần năn nỉ nhưng chị D không đồng ý quay về. Trước đây, chị D
cũng 06 lần trở về n mẹ ruột khi do cờ bạc của anh, cũng khi do
02 vợ chồng cãi nhau. Cách đây khoảng 03 năm anh n tiền cờ bạc, anh bỏ đi
một thời gian rồi trở về thì chị D vẫn tha thứ cho anh. Nay mâu thuẫn nhỏ
chị D không tha thứ cho anh, không quay v chung sống nên nay anh đ nghị
được hàn gắn đoàn tụ. Anh không đồng ý ly hôn với chị D.
Nếu tòa giải quyết cho ly hôn t anh không yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn.
Về con chung anh đề nghị tòa giải quyết theo nguyện vọng của con, anh không
yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: anh chị D tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa
giải quyết. Nhà do vợ chồng cùng xây cất nên cùng quản sử dụng trên đất của
cha mẹ anh cho, không yêu cầu Tòa án phân chia.
Về nợ chung: không có, tôi không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa anh L cũng thừa nhận từ lúc chị D về nhà mẹ ruột sinh
sống buồn nên anh mới chơi cờ bạc trở lại chứ còn trước đó thì không.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
* Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán Hội đồng xét xử thẩm đã thực hiện
đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật t tụng dân sự từ khi thụ cho
đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa.
* Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39
BLTTDS; áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2014:
4
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Phạm Ngọc D
được ly hôn với ông Trần Phúc L. Các đương sự không yêu cầu nghĩa vụ cấp
dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét.
-Về con chung: ông Trần Phúc L được quyền trực tiếp nuôi hai con chung
tên Trần Đình N, sinh ngày 04/7/2007 Trần Đình S, sinh ngày 27/6/2015. Sau
khi ly hôn các đương sự quyền nghĩa vụ đối với con chung theo quy định
Luật Hôn nhân gia đình.
- Về tài sản chung: Đương sự trình bày không yêu cầu giải quyết nên không
xem xét;
- Về nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên
không không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết vụ án: căn
cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Ngọc D, chị yêu cầu giải quyết ly
hôn, nuôi con với bị đơn anh Trần Phúc L nên đây tranh chấp “ly hôn, nuôi
con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Trần Phúc L trú tại H, huyện T, tỉnh B,
do đó căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện T.
[2] Về hôn nhân: xét về điều kiện kết hôn đăng kết hôn thấy rằng
chị D và anh L kết hôn trên sở tự nguyện, đăng kết hôn được Ủy ban
nhân dân H, huyện T, tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đăng kết hôn ngày
21/8/2007. Do đó hôn nhân của anh, chị đã tuân thủ đầy đ các quy định về điều
kiện kết hôn đăng kết hôn nên được pháp luật công nhận hôn nhân hợp
pháp.
Nguyên nhân chị D yêu cầu ly hôn với anh L do vợ chồng phát sinh
nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống từ việc anh L tham gia chơi cờ bạc, gây nợ nần
ảnh hưởng kinh tế gia đình và anh L cũng thừa nhận đây nguyên nhân dẫn đến
mâu thuẫn gia đình. Tuy nhiên anh L cho rằng đây chỉ mâu thuẫn nhỏ, anh đã
khắc phục, còn chị D cho nhiều lần tha thứ, khuyên giải nhưng anh không sửa đổi,
nếu tiếp tục mối quan hệ hôn nhân chị phải chịu áp lực rất lớn về kinh tế, về tinh
5
thần chị không còn niềm tin sức lực để gồng gánh trả nợ cờ bạc cùng anh L.
Chị đã tha thứ, cố gắng vun đắp nhưng anh L không từ bỏ việc cờ bạc nên chị
không còn niềm tin, không còn tình cảm nên quyết định sống ly thân giữ
nguyên yêu cầu ly hôn. Qua trình bày của anh L, xét thấy anh L đã vi phạm
nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, không biện pháp khắc phục hàn gắn
hôn nhân. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng chị D, anh L đã trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu
xin ly hôn của chị D là sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn
nhân gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Ch D, anh L không yêu
cầu n không xem xét giải quyết.
[4] Về con chung: chị D anh L 02 con chung Trần Đình N, sinh ngày
04/7/2007 Trần Đình S, sinh ngày 27/6/2015 hiện đang sống cùng anh L hiện
đang sống ng anh Lương. Chị D đồng ý giao 02 con chung cho anh L trc
tiếp nuôi dưỡng. Anh L yêu cầu Toà án giải quyết v con chung theo nguyn
vọng 02 cháu. t tại biên bản lấy ý kiến con chung, cháu N cháu S cùng
nguyn vọng sống chung với anh L
. Do đó để đảm bảo ổn định cuộc sống, đảm bảo s phát trin về mặt tâm
sinh lý, quyền lợi mọi mặt của con chung nên giao cho anh L được trực tiếp nuôi
dưỡng 02 con chung phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Đồng thời
cần ghi nhận việc chị D không cấp dưỡng nuôi con do anh L không yêu cầu.
[5] Về tài sản chung: chị D anh L cùng trình bày tự thỏa thuận giải quyết,
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: ch D anh L cùng trình bày không có, không yêu cầu
giải quyết nên không xem xét gii quyết.
[6] Xét quan điểm Kiểm sát viên, p hợp với quan điểm của Hội đồng xét
xử nên được xem xét chấp nhận.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình thẩm: chị D phải chịu án phí dân sự
thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn, đối với nghĩa vụ cấp dưỡng
theo quy định pháp luật.
[8] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp
luật.
các lẽ trên;
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; 39; 147; 266 Bộ luật Tố
tụng Dân sự năm 2015; các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82 , 83, 84 Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc D. Chị
Phạm Ngọc D được ly hôn với anh Trần Phúc L.
Chị D anh L không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ,
chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
2. Về con chung: Anh Trần Phúc L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con
chung Trần Đình N, sinh ngày 04/7/2007 và Trần Đình S, sinh ngày 27/6/2015
ghi nhận việc chị D không cấp dưỡng nuôi con do anh L không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con
quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Trên sở lợi ích của
con, cha mẹ hoặc nhân, tổ chức theo quy định quyền yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi căn cứ.
3. Về tài sản chung: chị D anh L cùng trình bày tự thỏa thuận, không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: ch D anh L cùng trình bày không có, không yêu cầu
giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí thẩm: Chị Phạm Ngọc D phải nộp 300.000 đồng án phí hôn
nhân gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000
đồng theo Biên lai thu số 0008602 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện T xem như đã nộp xong.
5. Các đương sự mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
7
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Thạnh Phú;
- Tòa án nhân n tỉnh Bến Tre;
- Chi cục THADS huyện Thạnh Phú;
- UBND H;
- Lưu hồ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phan Cẩm Nhung
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Tải về
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất