Bản án số 394/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 394/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 394/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 394/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 394/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
| Số hiệu: | 394/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/06/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 394/2025/DS-PT
Ngày: 30-6- 2025
V/v tranh chấp: “Đòi quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vân.
Các Thẩm phán:
Ông Võ Ngọc Giàu;
Bà Nguyễn Ái Đoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thanh Bạch- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 và 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
T xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 424/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng
10 năm 2024 về tranh chấp “Đòi quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024
của Toà án nhân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 500/2024/QĐ-PT ngày
22 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Thành P, sinh năm 1977 (có mặt);
Địa chỉ: A L, Khu phố A, Phường F, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1953 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Hoàng A, sinh năm 1981 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2
- Anh Lê Hoàng D, sinh năm 1985 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Anh Lê Hoàng P1, sinh năm 1988(có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Anh Lê Hoàng N, sinh năm 1992 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Chị Lê Thị T, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng A, anh D, anh P1, chị T: Anh
Đoàn Văn T1, sinh năm 1971 (vắng mặt);
Địa chỉ: 1 Đ, khu phố I, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà V, anh Hoàng A, Hoàng D,
Hoàng P1, Hoàng N, bà T là ông Võ Trọng K- Luật sư Văn phòng luật sư Võ
Trọng K- Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- Bà Phạm Thị L, sinh năm 1967 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Nơi ở hiện tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1951 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị V; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Lê Hoàng N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:
Ông Nguyễn Văn M là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 710, tờ bản đồ số
05, diện tích 507m
2
toạ lạc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng
quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn
Văn M ngày 06/12/2019, giáp ranh hướng Tây thửa đất của ông là đường đi công
cộng, tiếp giáp với đường đi công cộng ở hướng T là thửa đất số 711 của bà
Nguyễn Thị V. Năm 2019 bà V tự ý có hành vi chặt phá cây trên đất của ông M,
đồng thời đổ đất xây cột cất nhà trên diện tích đất theo đo đạc thực tế là 41,5m
2
,
ông M đã nhờ chính quyền địa phương can thiệp nhưng bà V vẫn xây dựng. Nay
ông M yêu cầu bà V phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất để trả lại
cho ông diện tích đất lấn chiếm.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị V và người đại diện theo ủy quyền ông Đoàn Văn
T1 trình bày:

3
Bà Nguyễn Thị V là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất số 711, tờ bản đồ
số 05, diện tích 675m
2
toạ lạc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy
chứng quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp cho
hộ bà Nguyễn Thị V ngày 22/7/2003. Nguồn gốc đất của cha mẹ bà V để lại,
giấy đất cấp cho hộ gia đình do bà V đại diện hộ đăng ký kê khai. Trên đất có
căn nhà của bà V và cái miếu T4 đã có hơn trăm năm, ông M cho rằng diện tích
đất xây miếu thuộc quyền sử dụng của ông và yêu cầu bà V trả đất là không có
căn cứ vì toàn bộ diện tích đất xây miếu thuộc thửa đất 711 thuộc quyền sử dụng
hợp pháp của bà V. Ranh giới đất giữa đất của bà V và đất của ông M trước
đây là cây trồng nhưng cây đã mục chết nên giờ không còn. Vào năm 2006 giữa
ông Nguyễn Văn N1 (anh ruột của bà V) với bà V có tranh chấp đất, thời điểm
đó có họp dân, có gia đình ông M (mẹ ông M) xác nhận diện tích đất đó là của
bà V, do năm 2019 ông N1 tự ý trồng cây trên đất nên bà mới nhổ bỏ cây trồng.
Ngoài ra, ông M cho rằng thửa đất của ông M giáp đường đi công cộng là hoàn
toàn không đúng vì đoạn đường đá đó là diện tích đất nằm trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của bà V nhưng do đường đi hình thành từ lâu nên gia
đình bà mới cho sử dụng làm đường đi nội bộ, ông M cho rằng đường đi công
cộng nhưng ông M hoàn toàn không có chứng cứ chứng minh, không có văn bản
nào của cơ quan có thẩm quyền về việc thu hồi, trưng dụng hay xác định đoạn
đường đá đó là đường đi công cộng. Do vậy bà V không đồng ý với toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông M. Đối với đoạn đường đi nội bộ bà V xác định
không tranh chấp vì bà chấp nhận việc mở đường đi nội bộ trên đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L trình bày: Bà là
vợ của ông Nguyễn Văn M, bà thống nhất ý kiến ông M.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Hoàng A, anh Lê Hoàng
D, anh Lê Hoàng P1, anh Lê Hoàng N, chị Lê Thị T có người đại diện anh Đoàn
Văn T1 trình bày: Các anh chị Lê Hoàng A, Lê Hoàng D, Lê Hoàng P1, Lê Hoàng
N, Lê Thị T là con của bà Nguyễn Thị V, các anh chị thống nhất ý kiến của bà
V. Ngoài ra, theo kết quả đo đạc thực tế nếu tính luôn cả diện tích đường đá và
diện tích miếu thờ (diện tích đất tranh chấp) thì diện tích đất của bà V vẫn còn
thiếu 81,5m
2
nên đề nghị Tòa án xem xét lại.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N1 trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn M với bà Nguyễn Thị
V là của ông nội ông M, hiện trạng trước đây là cái giếng, giáp ranh với giếng
là đường đất, hiện nay là đường đá. Đến khoảng năm 2005 nhà nước đào kinh
nên ông có bỏ ra một khoản tiền đổ đất lấp giếng, tuy nhiên khi đổ đất ông có
hỏi ý ông T2 (cha của ông M). Ông xác định vị trí đất hai bên tranh chấp là của
ông M.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Căn cứ:
Áp dụng các Điều 166, Điều 175, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản

4
9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 165,
Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.
Xác định phần đất tranh chấp diện tích 41,5m
2
nằm trong thửa đất số 710,
tờ bản đồ 05, diện tích 507m
2
tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 962600 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn M ngày 06/12/2019 thuộc quyền sử dụng
của ông Nguyễn Văn M.
Buộc bà Nguyễn Thị V phải tháo dỡ mái che kết cấu cột bê tông, không
vách, nền xi măng, mái tôn xây dựng trên diện tích đất 41,5m
2
và giao trả lại cho
ông Nguyễn Văn M toàn bộ diện tích đất 41,5m
2
. Vị trí, tứ cận như sau: Đông
giáp thửa đất số 710 của ông Nguyễn Văn M; Tây giáp đường đá; Nam giáp
thửa đất số 710 của ông Nguyễn Văn M; Bắc giáp đường bê tông (Có sơ đồ cụ
thể kèm theo). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng:
Buộc bà Nguyễn Thị V phải trả cho ông Nguyễn Văn M chi phí tố tụng
5.485.000 (năm triệu bốn trăm tám mươi lăm ngàn) đồng. Thực hiện khi án có
hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí, kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/7/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng N
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm
xét xử theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 08/7/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị V kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm nêu trên, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử theo hướng không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu
công nhận phần đất tranh chấp có diện tích 41,5m
2
thuộc quyền sử dụng của ông.
Buộc bà Nguyễn Thị V phải tháo dỡ mái che kết cấu cột bê tông, mái tôn xây
dựng trên diện tích đất 41,5m
2
và giao trả lại cho ông Nguyễn Văn M toàn bộ
diện tích đất 41,5m
2
.
- Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị V và anh Lê Hoàng N giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án theo hướng không
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
5
- Luật sư bảo vệ cho bị đơn trình bày:
+ Theo kết quả đo đạt thực tế đất bà V hiện đang canh tác nếu cộng luôn cả
phần tranh chấp vẫn thiếu 25,6 m
2
so với giấy. Trong khi đất ông M nếu cộng
luôn phần diện tích tranh chấp sẽ dư 17,3 m
2
.
+ Theo đơn khởi kiện phía nguyên đơn chỉ yêu cầu trả lại 39,6 m
2
nhưng
khi giải quyết quyết định của bản án giải quyết đến 41,5 m
2
là vượt quá yêu cầu
khởi kiện.
+ Đất ông M dư so với giấy 17,3 m
2
là thuộc đất của ai và có được công
nhận cho ông M hay không chưa được làm rõ.
+ Cấp sơ thẩm xác định hướng tây đất ông M giáp đường công cộng là
không có cơ sở trái với hồ sơ địa chính thể hiện thửa giáp thửa không có lối đi.
+ Giấy đất cấp cho hộ bà V vào thời điểm năm 2003 còn có chị Lê Thị L1
là thành viên hộ nhưng không được cấp sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng là vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
* Từ các sai sót trên đề nghị HĐXX hủy án sơ thẩm.
- Luật sư bảo vệ cho nguyên đơn trình bày:
+Giấy đất cấp cho bà V là dựa vào bản đồ tỷ lệ 1/5.000 nên chỉ có hình thể
mà không có kích thước cụ thể. Khi cấp giấy cũng không có đo đạt thực tế nên
diện tích ghi trong giấy là không chính xác không thể lấy đó làm căn cứ giải
quyết vụ án.
+ Phần đất ông M nếu có dư là do việc xác định ranh giữa các hộ ở các cạnh
khác có sai sót cũng sẽ dẫn đến diện tích có chênh lệch. Đây là sai số so với giấy
là bình thường.
+ Trong đơn khởi kiện nguyên đơn đòi 39,6 m
2
là do ước lượng nên không
chính xác. Khi đo thực tế bao nhiêu thì phải giải quyết bấy nhiêu là phù hợp.
+ Việc cấp giấy cho ông M có đo đạt thực tế thê hiện cạnh hướng tây đất
ông M giáp đường đi công cộng có chứ ký của bà V. Ông N1 (em ruột bà V) và
ông trưởng ấp đều xác định phần diện tích tranh chấp là của ông M.
* Từ các phân tích trên, đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc chấp hành pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa phúc
thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng trình tự, thủ
tục theo Bộ luật Tố tụng dân sự qui định. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa
vụ tham gia tố tụng đúng pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Bà Nguyễn Thị V có đơn kháng cáo nhưng
vắng mặt không lý do là từ bỏ kháng cáo nên đình chỉ xét xử đối với yêu cầu
kháng cáo của bà V. Xét anh Lê Hoàng N có đơn kháng cáo nhưng không có bổ
sung thêm chứng cứ mới nào để xem xét. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không
6
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Lê Hoàng N giữ nguyên bản án sơ thẩm số
101/2024/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh
Tiền Giang.
NHN ĐNH CA TA N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các
đương sự, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng
nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố
tụng dân sự (BLTTDS).
[2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn M khởi kiện yêu
cầu công nhận phần đất tranh chấp có diện tích 41,5m
2
thuộc quyền sử dụng của
ông. Buộc bà Nguyễn Thị V phải tháo dỡ mái che kết cấu cột bê tông, mái tôn
xây dựng trên diện tích đất 41,5m
2
và giao trả lại cho ông Nguyễn Văn M toàn
bộ diện tích đất 41,5m
2
nên xác định quan hệ tranh chấp là “Đòi QSDĐ” theo qui
định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thủ tục tố tụng: Án sơ thẩm thụ lý giải quyết tranh chấp giữa nguyên
đơn ông Nguyễn Văn M với bị đơn bà Nguyễn Thị V là đúng thẩm quyền qui
định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị V và anh
Lê Hoàng N là đúng qui định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên
được cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết. Bà Nguyễn Thị V có đơn
kháng cáo nhưng vắng mặt không lý do là từ bỏ kháng cáo nên đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà V. Tuy nhiên việc này không làm
ảnh hưởng đến quyền lợi của bà V vì yêu cầu kháng cáo của bà V có cùng nội
dung với yêu cầu kháng cáo của anh Lê Hoàng N.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của anh Lê Hoàng N HĐXX nhận thấy:
- Theo kết quả đo đạt thực tế ngày 27/4/2023 của TAND huyện C thể hiện
nếu chưa cộng diện tích tranh chấp thì diện tích thực tế của bà V là 607,9 m
2
(580,1 m
2
+ 27,8 m
2
). Thiếu 67,1 m
2
. Diện tích thực tế của ông M là 482,8 m
2
.
Thiếu 24,2 m
2
. Như vậy cả hai bên đều thiếu đất.
- Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị V
là cấp đồng loạt theo Tờ trình số 49/TT.ĐC ngày 12/5/2003 của Phòng địa chính
theo quyết định số 1819/QĐUBND ngày 26/5/2003 của Ủy ban nhân dân huyện
C, tỉnh Tiền Giang nên không có biên bản đo đạc xác định ranh giới tứ cận (Bl
51-57). Theo ghi chú trong giấy chứng nhận QSDĐ của bà V có ghi rõ cấp theo
bản đồ tỷ lệ 1/5000 nên trong giấy chỉ có hình thể thửa đất mà không có kích
thước cụ thể của từng cạnh. Như vậy số đo diện tích cấp trong giấy của bà V là
chưa chính xác nên không thể căn cứ vào số đo này làm cơ sở kết luận đất bà V
là thiếu hay đủ. Về vấn đề này ý kiến của luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông M là
có căn cứ nên chấp nhận.
- Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn
M là cấp theo diện thừa kế có biên bản đo đạc ghi nhận ranh giới, mốc giới thửa
đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ngày 20/11/2014 ghi nhận
7
như sau: Thửa đất 710 diện tích 507m
2
: Hướng đông giáp thửa 705 của Nguyễn
Văn Đ; Hướng tây giáp đường công cộng rộng 2,5m (Bên kia đường là đất bà V
thửa 711 và đất ông N1 thửa 713) có chữ ký xác nhận của bà V và ông N1; Hướng
nam giáp thửa 708 của Huỳnh Thị H và thửa 712 của ông M; H1 bắc giáp đường
công cộng rộng 3m (Bl 40-41). Mặc dù việc cấp giấy của ông M vào ngày
17/9/2019 không có đo đạc thực tế lại, nhưng hiện trạng ông M đang quan lý sử
dụng hôm nay vẫn phù hợp với mô tả trong biên bản ngày 20/11/2014 nói trên
nên có cơ sở kết luận ông M đang sử dụng đất đúng theo giấy được cấp.
- Ngoài ra theo bản đồ địa chính thể hiện thửa 711 của bà V và thửa 713 của
ông N1 (em ruột bà V) cùng giáp ranh thửa 710 của ông M tạo thành một đường
thẳng cập theo lối đi. Nếu chấp nhận phần tranh chấp nằm bên kia lối đi là của bà
V trong khi ranh đất ông N1 lại còn nằm bên này lối đi sẽ mâu thuẫn với bản đồ
địa chính (ranh đất giữa ông M với bà V, ông N1 sẽ không còn là một đường thẳng
nữa). Ngoài ra, ông N1 là em ruột bà V và các nhân chứng sinh sống lâu năm tại
địa phương và Trưởng ấp Ấ, xã T đều xác định phần tranh chấp thuộc QSD của
ông M (Bl 100, 101, 102).
- Về ý kiến của các luật sư HĐXX nhận thấy: Phạm vi khởi kiện của ông M
là diện tích bà V lấn chiếm. Theo đơn kiện ông M yêu cầu 39,6 m
2
. Tại phiên tòa
sơ thẩm ông M yêu cầu theo đo đạt thực tế 41,5 m
2
là nằm trong phạm vi đơn
khởi kiện nên được chấp nhận, cấp sơ thẩm không có vi phạm. Theo biên bản đo
đạc thực tế các thửa đất tranh chấp của Tòa án thì cạnh hướng Tây đất của ông
M (giáp với đất bà V) đo từ mí đường đất (nay là đường dal) trở qua. Phù hợp
với ranh đất thể hiện trong biên bản đo đạc ngày 20/11/2014 về việc xác định
ranh đất khi cấp giấy cho ông M (có ký nhận của bà V) nên phần đất của ông M
nếu có dư 17,3 m
2
cũng không làm ảnh hưởng gì đến quyền lợi của bà V, và sẽ
được giải quyết riêng khi các hộ ở các cạnh còn lại có phát sinh tranh chấp với
ông M. Ngoài ra việc vắng mặt chị L1 không làm thay đổi bản chất vụ án và
không làm ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của chị vì ngoài chị còn các thành
viên khác trong hộ tham gia tố tụng đầy đủ. Do đó ý kiến của luật sư bảo vệ cho
bị đơn là không có cơ sở nên bác. Ý kiến luật sư bảo vệ nguyên đơn có phần phù
hợp nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
* Từ các căn cứ trên, xét án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông Nguyễn Văn M. Buộc bà Nguyễn Thị V tháo dỡ công trình xây dựng trên
thửa đất 710 để trả lại ông M 41,5m
2
là hoàn toàn có căn cứ đúng pháp luật. Do
đó cần giữ nguyên.
[9] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của ông M được Tòa án chấp
nhận nên buộc bà V có nghĩa vụ hoàn trả cho ông M 5.485.000 đồng chi phí tố
tụng mà ông M đã nộp. Anh Lê Hoàng N phải tự chịu chi phí tố tụng phần anh
đã chi do yêu cầu của anh không được Tòa án chấp nhận.
[10] Về án phí:
Bà V được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm do bà
là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản
1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

8
Anh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của
Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016.
Xét ý kiến phân tích và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ phù
hợp với nhận định của Tòa án nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 313; Điều 5; khoản 9 Điều 26; Điều
35; Điều 39; Điều 147; Điều 148; 157; 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ
vào các điều 164, 166, 175, 176, 189 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ vào các điều
95, 97, 98, 166, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/
2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Lê Hoàng N. Giữ nguyên
Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DSST ngày 04/7/2024 của Tòa án nhân dân
huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị V.
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn
M.
- Xác định phần đất tranh chấp diện tích 41,5m
2
nằm trong thửa đất số
710, tờ bản đồ 05, diện tích 507m
2
tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 962600 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn M ngày 06/12/2019 thuộc quyền sử
dụng của ông Nguyễn Văn M.
- Buộc bà Nguyễn Thị V phải tháo dỡ mái che kết cấu cột bê tông, không
vách, nền xi măng, mái tôn xây dựng trên diện tích đất 41,5m
2
để giao trả lại
cho ông Nguyễn Văn M toàn bộ diện tích đất 41,5m
2
thuộc thửa 710, tờ bản đồ
số 05 theo giấy chứng nhận số CT 96200 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
T cấp ngày 06/12/2019 cho ông M. Vị trí, tứ cận như sau: Đông giáp thửa đất số
710 của ông Nguyễn Văn M; Tây giáp đường đá; Nam giáp thửa đất số 710 của
ông Nguyễn Văn M; Bắc giáp đường bê tông (Có sơ đồ cụ thể kèm theo).
3. Về chi phí tố tụng:
Buộc bà Nguyễn Thị V phải trả cho ông Nguyễn Văn M chi phí tố tụng
5.485.000 (năm triệu bốn trăm tám mươi lăm ngàn) đồng. Anh Lê Hoàng Ngọc
T3 chịu chi phí tố tụng anh đã chi.
Kể từ ngày ông Nguyễn Văn M có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Nguyễn
Thị V chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian
chậm thi hành.
4. Về án phí:
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị V.
- H2 lại cho ông Nguyễn Văn M số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo
9
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 01914 ngày 24/02/2020 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Anh Lê Hoàng N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm
ứng án phí số 0011523 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
C, tỉnh Tiền Giang nên xem anh N đã nộp xong án phí phúc thẩm
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành hoặc bị
cưỡng chế thi hành theo qui định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân
sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Án tuyên lúc 14 giờ 30 phút ngày 30/6/2025, có mặt luật sư K, ông M, bà
L, luật sư P1.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tiền Giang;
- TAND huyện C;
- Chi cục THADS huyện C;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thanh Vân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 21/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm