Bản án số 37/2021/DS-PT ngày 05/04/2021 của TAND tỉnh Đồng Nai về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 37/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 37/2021/DS-PT ngày 05/04/2021 của TAND tỉnh Đồng Nai về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 37/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/04/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là phần đất có diện tích 253,7m2 thửa số 83, tờ bản đồ số 75 phường I và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại khu phố H, phường I, thành phố J, Đồng Nai giữa ông Nguyễn Kim K2 và bà Nguyễn Thị X ký ngày 27/3/2017 là vô hiệu do giả tạo, vi phạm về hình thức hợp đồng cũng như chưa có sự đồng ý chuyển nhượng của bà P. Buộc bà X phải trả lại cho bà P toàn bộ phần đất có diện tích 253,7m2 thuộc thửa số 83, tờ bản đồ số 75 phường I và tài sản gắn liền với đất tọa lạc khu phố H, phường I, Biên Hòa, Đồng Nai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TNH ĐNG NAI Độc lp T do Hnh phúc
Bn án s: 37/2021/DS-PT
Ngày 05 - 4 - 2021
V/v: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng
CNQSD đất và tài sản gắn liền
với đất vô hiệu”
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán Ch ta phiên tòa: Ông Trn Thanh Phong
Các Thm phán: Ông Nguyễn Trung Hưng
Ông Vũ Hồng Luyến
- Thư phiên tòa: Ông Phm Ngọc Đức - Thư Tòa án, Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Thị Hng
Uyên Kim sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 05 tháng 4 năm 2021, ti tr s Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét
x phúc thm công khai v án n s th s: 244/2020/TLPT-DS ngày 26
tháng 11 năm 2020 v vic: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng CNQSD đất tài sản
gắn liền với đất vô hiệu”
Do bn án dân s thm s: 61/2020/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020
ca Tòa án nhân dân Thành ph Biên Hòa b kháng cáo, kháng ngh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thm s: 10/2021/QĐXXPT-
DS ngày 04/02/2021, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thm s: 53/2021/QĐ-PT
ngày 05/3/2021 Thông báo v vic di lch xét x 116/TB-TA ngày
18/3/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bùi Th Bích P, sinh năm 1962
Địa ch: Đưng A, phường B, Qun C (Thành ph D), Thành ph H
Chí Minh.
Người đại din theo y quyn: Bà Võ Th M D, sinh năm 1960 (Theo
văn bản y quyn ngày 22/12/2017)
Địa ch: Đưng E, khu ph F, phưng G, Qun C (Thành ph D), Thành
ph H Chí Minh.
2
2. B đơn: Bà Nguyn Th X, sinh năm 1986
Địa ch: Khu ph H, phưng I, Thành ph J, Tỉnh Đồng Nai
Người bo v quyn và li ích hp pháp: Luật sư Nguyễn Đình H - Công
ty TNHH L - Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai
3. Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyn Kim L, sinh năm 1981
Địa ch: Khu ph H, phưng I, Thành ph J, Tỉnh Đồng Nai
3.2. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1966
3.3. Ch Võ Th T, sinh năm 2000
3.4. Bà Nguyn Th X1, sinh năm 1974
3.5. Anh Nguyn Chí P1, sinh năm 1993
3.6. Ông Nguyễn Văn T1
3.7. Bà Nguyn Th Kim H1, sinh năm 1987
3.8. Bà Đặng Th D1, sinh năm 1963
Cùng địa ch: Khu ph H, phưng I, Thành ph J, Tỉnh Đồng Nai
3.9. Bà Nguyn Th S, sinh năm 1963
Địa ch: p K, xã L, huyn M, tnh Hi Phòng.
3.10. Bà Nguyn Th L1, sinh năm 1966
Địa ch: Khu ph O, phưng I, Thành ph J, Tỉnh Đồng Nai.
3.11. Ch Nguyn Th Phương T2, sinh năm 1992
3.12. Anh Nguyn Hoàng K, sinh năm 1995
Địa ch: Đưng A, phường B, Qun C (Thành ph D), Thành ph H
Chí Minh.
Người đại din theo y quyn ca ch T2, anh K: Bà Võ Th M D, sinh
năm 1960 (Theo văn bản y quyn ngày 22/12/2017 và 04/9/2018)
3.13. Bà Phm Th H2, sinh năm 1943
3.14. Ông Lê Văn H3
Cùng địa ch: Đưng P, phưng Q, Qun X, Thành ph H Chí Minh
NI DUNG V ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
* Tại đơn khởi kiện của Bùi Thị Bích P, bản tự khai tại phiên tòa -
Võ Thị Mỹ D là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Tháng 12/1991, bà và ông Nguyễn Kim K2 (sinh ngày 16/12/1959) chung
sống với nhau, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, Quận C,
3
thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống, bà và ông K2 có 02 con chung là
Nguyễn Thị Phương T2Nguyễn Hoàng K.
Năm 2000, P ông K2 tạo lập khối tài sản chung là mảnh đất diện
tích 253,7m
2
thuộc thửa đất số 83 tờ bản đồ 75 phường I, tại địa chỉ: Khu phố H,
Quốc lộ 51, phường I, Thành phố J. Nguồn gốc diện tích đất trên của ông
Trọng Biền. Sau đó, ông Biền bán cho Phạm Thị H2 H2 bán lại cho
P ông K2. Khi H2 và ông K2 chuyển nhượng chỉ ghi giấy tay, H2 đã giao
đất, ông K2 đã trả tiền chuyển nhượng đất tnăm 2000. Ông K2 P sử dụng
đất ổn định từ năm 2000.
Từ năm 2002 đến 2008, P ông K2 tiến hành đổ đất y dựng nhà
hoàn chỉnh như hiện nay, có điện nước đầy đủ. Cấu trúc nhà gồm phòng ở và 09
phòng trọ cho thuê. Quá trình xây dựng chính bà P trực tiếp đứng ra mua vật liệu
xây dựng trông coi. Số tiền mua đất xây dựng nhà do P ông K2 tích
cóp từ khi kết hôn mà có.
Để thuận tiện trong việc hoàn tất hồ sơ, giấy tờ, vợ chồng P thống nhất
để ông K2 đứng tên trong giấy chuyển nhượng viết tay. Do khu đất nằm trong
dự án quy hoạch của tỉnh Đồng Nai nên đến nay vẫn chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Do xa nên ông K2 tin tưởng giao toàn bộ giấy
tờ cho L1 giữ giùm, để L1 giúp đỡ trong việc làm hồ cấp giấy chứng
nhận cho vợ chồng bà.
Năm 2008, do nhiều bất đồng nên làm đơn xin ly hôn ông K2, theo
đó tại Quyết định số 51/2008/QĐST-CNTT-HNGĐ ngày 06/3/2008 ghi rõ: Về
tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận. Đến nay, giữa bà và ông K2 chưa có bất cứ
một văn bản nào thỏa thuận về việc phân chia tài sản.
Cuối tháng 02/2016, ông K2 bị ung thư thực quản di căn giai đoạn cuối.
Ngày 29/3/2017 ông K2 mất. Ngày 27/3/2017, dưới sự dàn xếp của L1, X
ép ông K2 giấy bán nhà đất trên cho X với giá 750.000.000đ (Bảy trăm
năm mươi triệu đồng) bằng giấy tay tại nhà X, trong tình trạng ông K2 suy
kiệt về thể chất, mê man về trí tuệ, mất 02 ngày sau đó. Hơn nữa nhà đất trên
tài sản chung của P ông K2. Việc mua bán trên chưa sự đồng ý của
bà P là vi phạm pháp luật. Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất viết tay, chưa được
công chứng chứng thực vi phạm về hình thức. Do đó P khởi kiện yêu cầu
Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất phần đất diện tích 253,7m
2
thửa số 83, tờ bản đồ số 75 phường I tài
sản gắn liền với đất tọa lạc tại khu phố H, phường I, thành phố J, Đồng Nai giữa
ông Nguyễn Kim K2 Nguyễn Thị X ngày 27/3/2017 hiệu do giả
tạo, vi phạm về hình thức hợp đồng cũng như chưa có sự đồng ý chuyển nhượng
của P. Buộc X phải trả lại cho bà P toàn bộ phần đất diện tích 253,7m
2
thuộc thửa số 83, tờ bản đồ số 75 phường I và tài sản gắn liền với đất tọa lạc khu
phố H, phường I, Biên Hòa, Đồng Nai.
thống nhất với kết quả đo vẽ, thẩm định giá, không yêu cầu đo vẽ,
thẩm định giá lại.
4
* Tại bản tự khai, tại phiên tòa ông Nguyễn Kim L đại diện theo ủy quyền
của bị đơn bà Nguyễn Thị X trình bày:
Ông Nguyễn Kim K2 (Nguyễn Hữu C) là bố ruột của bà X. Tháng
8/1985, ông K2 kết hôn với mẹ bà X Nguyễn Thị S. Sau khi sinh ra X,
giữa ông K2 và bà S mâu thuẫn nên ông K2 bỏ vào miền Nam sinh sống, đổi
tên thành Nguyễn Kim K2. Trong thời gian vào Nam, ông K2 quen biết với P
ngày 26/12/1991 đăng kết hôn với P trong khi giấy đăng kết hôn
giữa ông K2 và bà S vẫn đang còn hiệu lực. Ông K2 và bà P sinh được 02 người
con chung Nguyễn Thị Phương T2 Nguyễn Hoàng K. Tháng 3/2008 ông
K2 P thuận tình ly hôn theo Quyết định số 51/2008/QĐST-CNTT-HNGĐ
của Tòa án nhân dân Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 9/2008 ông
K2 ly hôn với S theo bản án số 22/2008/HNGĐ-PT ngày 16/9/2008 của Tòa
án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng của thửa đất nhà tại số khu phố H,
quốc lộ 51 phường I, Thành phố J hiện đang tranh chấp của ông K2 nhận
chuyển nhượng của Phạm Thị H2. Giá chuyển nhượng 67.000.000đ (Sáu
mươi bảy triệu đồng). Việc mua bán lập giấy tay vào ngày 07/01/2001. Sau
khi mua nhà đất, ông K2 nhờ L1 (là em gái của ông K2) trông coi, sau đó
ông K2 cho thuê. Đến tháng 3/2008 đã ly n với P, nhưng thương 02
con nên ông K2 tiếp tục trở lại nhà tại đường A, phường B, Quận C, Thành phố
Hồ Chí Minh sống chung với bà P. Đến năm 2016, ông K2 bị ung thư, nhưng
P không chăm sóc, do bà L1 tự tay chăm sóc. Khi thấy ông K2 cần tiền để
chữa trị, X đưa tiền nhưng ông K2 không nhận. Sau đó ông nói nếu ông bán
nhà đất tại khu phố H, quốc l51 phường I, Thành phố J cho người ngoài thì sẽ
bị ép giá, nên ông đề nghị bán cho bà X để lấy tiền chi trả thuốc men và viện phí.
X nghĩ chỉ ch này ông K2 mới đồng ý nhận tiền đđiều trị nên ngày
27/3/2016, X ông K2 mới giấy chuyển nhượng nhà đất. Việc chuyển
nhượng làm giấy tay với sự chứng kiến của Phạm Thị L2 tổ trưởng tổ
28, khu phố H, phường I, Thành phố J. Sau khi mua nhà đất, năm 2017 bà X tiếp
tục đóng thuế đến nay. Khi ông K2 bị mẹ con P ruồng bỏ, ông K2 đã trở về
nhà khu phố H, quốc l51 phường I, Thành phố J, L1 S người chăm
sóc ông K2 trong những ngày cuối cùng cho đến khi ông K2 mất.
Đối với yêu cầu của bà P thì bà X không đồng ý, bởi lẽ:
- Ông K2 mua nhà đất vào ngày 07/01/2001, tại thời điểm hôn nhân giữa
ông K2 và bà S đang còn hiệu lực, nên đây là tài sản chung của ông K2 và bà S.
- Quan hệ hôn nhân giữa P ông K2 kết hôn trái pháp luật, thời
điểm này quan hệ hôn nhân giữa ông K2 và bà S vẫn đang còn hiệu lực.
thống nhất với kết quả đo vẽ, thẩm định giá, không yêu cầu đo vẽ,
thẩm định giá lại.
* Tại bản tự khai, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị L1 trình bày:
không liên quan đến vụ án này, cũng không chứng cứ để
giao nộp cho Tòa án. Đề nghị Tòa án xem xét.
5
thống nhất với kết quả đo vẽ, thẩm định giá, không yêu cầu đo vẽ,
thẩm định giá lại.
* Tại bản tkhai, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn
Hoàng K, bà Nguyễn Thị Phương T2 trình bày:
Ông bà là con ruột của ông K2, P. Ông thống nhất với trình bày của
bà P. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Ông bà thống nhất với kết quả đo vẽ, thẩm định giá, không yêu cầu đo vẽ,
thẩm định giá lại.
* Tại bản tkhai, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn
Kim L trình bày:
Ông chồng của X. Ông thống nhất ý kiến của X, không đồng ý
yêu cầu của bà P.
Ông thống nhất với kết quả đo vẽ, thẩm định giá, không yêu cầu đo vẽ,
thẩm định giá lại.
* Tại bản tự khai, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị S trình bày:
ông K2 (tức ông C) kết hôn năm 1985, đăng kết hôn tại
UBND L, huyện M, thành phố Hải Phòng. Giữa ông 01 con chung
Nguyễn Thị X. Tháng 9/2008, ông K2 ly hôn. Nhà đất tại khu phố H,
phường I, thành phố J, tỉnh Đồng Nai tài sản chung của ông bà, do ông K2
mua vào năm 2000 trong thời khôn nhân của ông bà. Ngày 27/3/2017, ông
K2 giấy bán đất cho X thì ng biết đồng ý bán. Do đó không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà P.
* Tại bản tự khai, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông Văn
Q, bà Thị T, bà Nguyễn Thị X1, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Chí P1,
Nguyễn Thị Kim H1, bà Đặng Thị D - trình bày:
Ông bà người trọ trên diện tích đất tranh chấp. Ông không ý
kiến xin được vắng mặt khi Tòa triệu tập, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án
theo quy định pháp luật.
* Ti Bn án thẩm s: 61/2020/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020 ca
Tòa án nhân dân Thành ph Biên Hòa;
Tuyên x:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Thị Bích P.
Tuyên bố giấy sang nhượng nhà ở đất ở ngày 27/3/2017 giữa ông Nguyễn
Kim K2 và bà Nguyễn Thị X là vô hiệu. Hủy giấy sang nhượng nhà ở đất ở ngày
27/3/2017 giữa ông Nguyễn Kim K2 và bà Nguyễn Thị X.
Tạm giao cho Bùi Thị Bích P được quyền quản sử dụng thửa đất số
83, tờ bản đồ số 75 diện tích 253,7m
2
tọa lạc tại khu phố H, quốc lộ 51,
phường I, Thành phố J, tỉnh Đồng Nai giới hạn bởi các mốc (1, 2, A, 4, 5,
6……14, 15,1) bản đồ hiện trạng khu đất số 6081/2019 ngày 06/9/2019 của n
6
phòng đăng đất đai tỉnh Đồng Nai Chi nhánh Biên Hòa. P được quyền
sử dụng toàn bộ nhà và công trình xây dựng trên đất.
Buộc bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Kim L, ông Lê Văn Q, Thị T,
Nguyễn Thị X1, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Chí P1, bà Nguyễn Th
Kim H1, Đặng Thị D1 phải giao trả cho Bùi Thị ch P diện tích đất
253,7m
2
thuộc thửa đất số 83, tbản đồ số 75 giới hạn bởi các mốc (1, 2, A, 4,
5, 6……14, 15,1) bản đồ hiện trạng khu đất số 6081/2019 ngày 06/9/2019 của
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh Biên Hòa (tại địa chỉ khu
phố H, quốc lộ 51 phường I, Thành phố J, tỉnh Đồng Nai) toàn bộ n
công trình xây dựng trên đất.
Ngoài ra, bn án còn tuyên v án phí, chi phí t tng quyn kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 07/9/2020, Vin trưởng Vin kim sát nhân dân Thành ph Biên
Hòa có Quyết định kháng ngh s: 1516/QĐKNPT-VKS-DS, kháng ngh toàn b
bản án sơ thẩm.
Ngày 09/9/2020, b đơn Nguyn Th X, các người quyn lợi nghĩa
v liên quan ông Nguyn Kim L, Nguyn Th L1, Nguyn Th S đơn
kháng cáo toàn b ni dung bản án sơ thẩm;
- Ti phiên tòa phúc thm,
* Quan đim tranh lun ca Luật bảo v quyn li ích hp pháp
ca b đơn Nguyn Th X: Cấp sơ thấm đã hàng loạt vi phm t tng
nghiêm trng, vic chng minh thu thp chng c chưa đầy đủ các sai sót
này cp phúc thm không th khc phc thc hin b sung đưc. các l
trên, căn cứ quy định tại Điều 308 B lut t tng dân s năm 2015 đ ngh Hi
đồng xét x tuyên hy toàn b bn án dân s thẩm s 61/2020/DS-ST ngày
28/7/2020 ca Tòa án nhân dân Thành ph Biên Hòa để xét x lại theo đúng quy
định ca pháp lut.
* Quan đim ca đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia
phiên tòa:
V t tng: Thm phán Hội đồng xét x cp phúc thẩm, Thư phiên
tòa đã tuân thủ đúng quy định ca pháp lut t khi th lý v án đến khi xét x
tại phiên tòa. Các đương s tham gia phiên tòa thc hiện đầy đủ quyền và nghĩa
v của mình theo quy định ca pháp lut.
Về nội dung kháng cáo, kng nghị cấp sơ thẩm đã có những vi phm
như sau:
Về xác định quan hệ pháp luật Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất” chưa đầy đủ phải xác định thêm quan hpháp luật
nữa là “Đòi lại tài sản”.
Về nội dung, cấp thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
P, tuyên bố giấy sang nhượng nhà đất ngày 27/3/2017 giữa ông Nguyễn Kim K2
Nguyễn Thị X vô hiệu, hủy hợp đồng sang nhượng nhà đất trên. Đồng
thời tạm giao nhà đất trên cho Bùi Thị Bích P được quản sử dụng thửa đất
7
số 83, tờ bản đồ số 75 có diện tích 253,7m
2
tọa lạc tại khu phố H, quốc lộ 51,
phường I, Thành phố J, tỉnh Đồng Nai giới hạn bởi các mốc (1, 2, A, 4, 5,
6……14, 15,1) bản đồ hiện trạng khu đất số 6081/2019 ngày 06/9/2019 của n
phòng đăng đất đai tỉnh Đồng Nai Chi nhánh Biên Hòa chưa đủ căn cứ
pháp luật, bởi lẽ: Theo Công văn số 150 ngày 01/6/2020 của UBND phường I
(BL 678) trả lời về nguồn gốc nhà đất đang tranh chấp hiện đã thu hồi theo
quyết định 760/TTg giao cho UBND tỉnh Đồng Nai quản lý và thửa đất số 83 tờ
bản đồ 75 nằm trong quy hoạch xây dựng trường cao đẳng bệnh viện điều
dưỡng Quý Đôn. Ngày 17/10/2011 UBND tỉnh Đồng Nai đã ra Thông báo
thu hồi đất số 7081/TB-UBND giao cho Công ty cổ phần Anh Vinh làm chủ đầu
tư. Cấp thẩm giải quyết đã không đưa UBND tỉnh Đồng Nai Công ty cổ
phần Anh Vinh tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan để làm rõ diện tích đất trên UBND tỉnh đã thực hiện thu hồi chưa, và đã có
chính sách bồi thường, hỗ trợ chưa, nếu đã chính sách bồi thường thì ai
người được hưởng tiền bồi thường.
Theo Thông báo thụ lý số 149/TB-TLVA ngày 03/02/2020, Tòa án không
đưa Phạm Thị H2 ông Văn H3 vào tham gia tố tụng với cách người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tại Thông báo về phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải số 153/TB-TA ngày
07/02/2020, biên bản làm việc, biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ, Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử lại có tên bà H2 và
ông H3 phần người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thông báo
thụ lý bổ sung đưa thêm người tham gia tố tụng là vi phạm quy định tại các Điều
73, 196, 199, 205, 208, 2009, 210 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, tại
biên bản xác minh ngày 07/2/2020 thhiện “...ông H3 bà H2 hiện nay vắng
mặt tại địa phương” (BL 645A), tại Biên bản về việc không thực hiện được việc
tống đạt trực tiếp cho đương sự ngày 16/5/2020 có ghi nội dung: “Tại thời điểm
tống đạt đương sự không mặt tại nhà, không đi đâu khi nào trở về,
không người nhận thay văn bản, nđã bán cho chủ sở hữu mới” (BL 693).
Như vậy, Tòa án xác minh chưa đầy đkhông thể hiện bà H2 ông H3 vắng
mặt tại địa phương từ khi nào, bán nchuyển đi từ thời điểm nào, trường hợp
H2, ông H3 đã bỏ đi trên 06 tháng thì Tòa án phải hướng dẫn cho đương sự
thực hiện thủ tục Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi trú theo quy định
tại Chương XXV của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc Tòa xác minh không đầy đủ,
biết H2 ông H3 đã bán nhà bỏ đi nơi khác mà vẫn tiến hành niêm yết văn bản
tống đạt tại địa chỉ nguyên đơn cung cấp vi phạm Điều 97, 175, 177 Bộ
luật tố tụng dân sự. Ngoài ra còn một loạt các vi phạm tố tụng khác khác như nội
dung kháng nghị đã nêu.
Về đường lối: Do cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án đã vi phạm
nghiêm trọng thủ tục ttụng như xác minh thu thập chứng cứ không đầy đủ, bỏ
sót tư cách tố tụng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nên đường lối giải
quyết là chưa đủ căn cứ.
Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người quyền nghĩa
vụ liên quan; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
8
Thành phố Biên Hòa. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật
tố tụng dân sự hủy án bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tòa cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” chưa chính xác, bởi lẽ theo đơn
khởi kiện Bùi Thị Bích P yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với diện tích đất 253,7m
2
thửa số 83, tờ
bản đồ số 75 tại phường I giữa ông K2 với X là hiệu yêu cầu X trả
lại trả lại nhà đất nêu trên. Vì vậy cần xác định lại quan hệ pháp luật là “Yêu cầu
tuyên bố hợp đồng CNQSD đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu”
[1.2] V xác định cách tố tng: Ông Nguyễn Hữu C (tên gọi khác
Nguyễn Hữu K2) đã chết nhưng Tòa án cấp thẩm chưa thu thập đầy đủ tài
liệu, chứng cứ để đưa những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông K2 vào
tham gia với tư cách người quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bỏ
sót tư cách tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[1.3] Theo Thông báo thụ số 149/TB-TLVA ngày 03/02/2020, Tòa án
không đưa bà Phạm Thị H2 và ông Lê Văn H3 là người bán đất cho ông Nguyễn
Hữu K2 vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Tuy nhiên, tại Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ hòa giải số 153/TB-TA ngày 07/02/2020, biên bản làm
việc, biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ,
Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử lại tên H2 và ông H3 phần
người quyền lợi, nghĩa vliên quan không thông báo thụ bổ sung
đưa thêm người tham gia tố tụng thủ tục cấp tống đạt cho H2, ông H3 đã
vi phạm quy định tại các điều 73, 196, 199, 205, 208, 200, 210 và 220 Bộ luật tố
tụng dân sự.
[1.4] Tính căn cứ hp pháp của kháng cáo: Đơn kháng cáo của các
đương s đưc làm trong thi hn luật định, đã nộp tm ng án phí phúc thm,
kháng cáo hợp pháp nên được xem xét theo th tc chung.
[1.5] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người
kháng cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại
toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm.
[1.6] Tính căn cứ hp pháp ca kháng ngh: Quyết định kháng ngh
ca Vin kiểm sát được ban hành đúng trình t pháp lut, trong hn lut định
nên đưc xem xét theo th tc chung. Ti phiên tòa, Vin kim sát vn gi
nguyên quyết định kháng ngh s: 1516/QĐKNPT-VKS-DS. Đề ngh hy toàn
b bản án sơ thẩm.
[2] V ni dung v kin:
[2.1] Ngày 07/01/2001, ông K2 nhận chuyển nhượng của Phạm Thị
H2. Giá chuyển nhượng 67.000.000đ (Sáu mươi bảy triệu đồng). Hai bên chỉ
9
lập giấy tay sang nhượng nhà đất. Các bên đã giao nhận tiền nhà đất cho
nhau. Đến ngày 27/3/2017 ông K2 giấy sang nhượng nhà đất cho
Nguyễn Thị X. Đối với thửa đất trên cũng chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, giấy sang nhượng nhà đất ngày 27/3/2017 được viết
tay, không được công chứng, chứng thực.
[2.2] Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án, hồ ly hôn
do Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng cung cấp thhiện: Ông Nguyễn Hữu
C (tên gọi khác K2) nguyên đơn trong vụ án xin ly hôn với Nguyễn Thị S.
Ông C (K2) có cung cấp sổ đăng ký tạm trú có thời hạn số 2479 ngày 13/4/2007,
theo đó chủ hộ Nguyễn Kim K2, các con Nguyễn Thị Phương T2, Nguyễn
Hoàng K (BL 574). Theo xác nhận của Công an L, huyện M, thành phố Hải
Phòng: ông Nguyễn Kim K2 (tức Nguyễn Hữu C) con trai của Bùi Thị
Nhình hộ khẩu thường trú tại địa phương hai tên này của cùng một
người. Như vậy, đủ căn cứ xác định: Ông Nguyễn Hữu C ông Nguyễn
Kim K2 là cùng một người.
S ông C (K2) kết hôn năm 1985, 01 con chung là chị Nguyễn
Thị X (Nguyễn Thị S1). Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện
M, thành phố Hải Phòng xác định: “Ủy ban nhân dân L chỉ lưu trữ được sổ
đăng kết hôn tnăm 1989. Qua tra cứu sổ đăng kết hôn do Ủy ban nhân
dân xã L quản (từ năm 1989 đến nay), không trường hợp đăng kết hôn
của ông Nguyễn Hữu C Nguyễn Thị S. vậy Ủy ban nhân dân L
không thể cung cấp bản sao giấy chứng nhận kết hôn giữa ông C S theo
Quyết định của Tòa án”. Tuy nhiên quan hệ vợ chồng giữa ông C (K2) S
được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân gia đình năm 1986
có hiệu lực), có con chung là chị Nguyễn Thị X.
Từ năm 1986, ông K2 đi vào miền Nam làm ăn sinh sống. Đến m
1991, ông K2 chung sống với P và đi đăng ký kết hôn trong khi quan hệ hôn
nhân giữa S ông K2 đang n tồn tại. Do đó căn cứ Điều 7, Điều 9 Luật
hôn nhân gia đình năm 1986, quan hgiữa ông K2 P kết hôn trái pháp
luật. Do đó tài sản chung (nếu) được chia căn cứ vào công sức đóng góp của
mỗi bên.
[2.3] Trong vụ án này, nguyên đơn khi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với diện tích
đất 253,7m
2
thửa số 83, tờ bản đồ số 75 tại phường I giữa ông K2 với bà X
hiệu. Tuy nhiên, hồ sơ ván không tài liệu thể hiện Tòa án đã giải thích
cho các đương svề hậu quả pháp của việc tuyên bố hợp đồng hiệu để
đương sự u cầu giải quyết hậu quhay không vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng.
[3] Về thu thập chứng cứ: Tại ng n số 150 ngày 01/6/2020 của
UBND phường I (BL 678) trả lời Tòa án về nguồn gốc nhà đất hiện đang tranh
chấp đã thu hồi theo quyết định 760/TTg giao cho UBND tỉnh Đồng Nai quản lý
thửa đất số 83 tờ bản đồ 75 nằm trong quy hoạch xây dựng trường cao đẳng
bệnh viện điều dưỡng Qúy Đôn. Ngày 17/10/2011 UBND tỉnh Đồng Nai
đã ra Thông báo thu hồi đất số 7081/TB-UBND giao cho Công ty c phn Anh
10
Vinh làm ch đầu tư. Do phần đất tranh chp hin nay do UBND tỉnh Đồng Nai
đơn vị qun lý hin ti nên cn yêu cầu quan này cung cp tài liu chng
liên quan đến vic thu hồi đất hi ý kiến ca UBND tỉnh Đồng Nai v yêu
cu khi kin ca P cũng như làm nhà đt thu hồi đã chính sách bồi
thưng, h tr chưa, nếu đã có chính sách bồi thường thì ai là người đứng tên kê
khai, được hưởng tin bồi thường đất và tài sản trên đất.
[4] Về đường lối giải quyết vụ án: Cấp thẩm nhận định hôn nhân gia
ông K2, P trái pháp lut tài sản chung (nếu có) được chia căn cứ vào
công sức đóng góp của mỗi bên. Tại thời điểm mua đất vào năm 2001 thì quan
hệ hôn nhân giữa S, ông K2 vẫn còn tồn tại, tuy nhiên cấp thẩm chưa m
thửa đất tranh chấp là tài sản riêng của ông K2 hay tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân để xem xét, đánh giá chưa bảo vệ được lợi ích hợp pháp của S.
Theo lời khai của P, các con P chị T2, anh K các chứng cứ tại hồ
thể hiện khi mua nhà đất của bà H2, ông H3 chỉ có ông K2 người đứng tên
người mua và giao tiền, giấy tay ngày 07/01/2001 cũng thể hiện vấn đề trên
(BL 208). Tuy nhiên, Tòa án cấp thẩm chỉ căn cứ vào giấy tay xác nhận của
chủ cửa hàng vật liệu Mỹ A giấy xác nhận của một số người làm chứng khác
(đều là bản pho to do P cung cấp) để khẳng định đây tài sản chung của
P, ông K2 mà không triệu tập các đương sự để làm nội dung tờ giấy xác nhận
là chưa đủ cơ sở vững chắc để xét xử vụ án.
Tòa án cấp thẩm giải quyết: Tuyên bố giấy sang nhượng nhà đất
ngày 27/3/2017 giữa ông Nguyễn Kim K2 Nguyễn Thị X hiệu. Hủy
giấy sang nhượng nhà đất ngày 27/3/2017 giữa ông Nguyễn Kim K2 và
Nguyễn Thị X. Tạm giao cho Bùi Thị Bích P được quyền quản sử dụng
thửa đất số 83, tờ bản đsố 75 diện tích 253,7m
2
tọa lạc tại khu phố H, quốc
lộ 51 phường I, Thành phố J, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên vphần giải quyết hậu
quả của việc hủy hợp đồng số tiền 750.000.000đ (Bảy trăm năm mươi triệu
đồng) của ông K2 đã nhận thì Tòa án cấp thẩm cũng chưa cho các đương sự
đối chất làm về số tiền trên. Trong khi bị đơn cung cấp được Giấy sang
nhượng nhà ở và đất ở (BL 459), Giấy nhận tiền (BL 458) có chữ ký của ông K2
người làm chứng Phạm Thị L2 nhưng cấp thẩm cho rằng không
sở để xem xét chưa khách quan, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị X. Đồng thời việc cấp
sơ thẩm tuyên tạm giao cho Bùi Thị Bích P được quyền quản lý sử dụng thửa
đất số 83, tờ bản đồ số 75 có diện tích 253,7m
2
tọa lạc tại khu phố H, quốc lộ 51
phường I, Thành phố J, tỉnh Đồng Nai chưa phợp bà X ng đồng
thừa kế di sản do ông Nguyễn Kim K2 chết để lại.
T phân tích trên, chp nhn kháng cáo ca Nguyn Th X, Nguyn
Th S, ông Nguyn Kim L, Nguyn Th L1; Chp nhn kháng ngh ca Vin
kim sát nhân dân Thành ph Biên Hòa hy toàn b Bn án sơ thẩm s:
61/2020/DS-ST ngày 27/8/2020 ca Tòa án nhân dân Thành ph Biên Hòa.
[5] V án p: Do kháng cáo ca Nguyn Th X, Nguyn Th S,
ông Nguyn Kim L, Nguyn Th L1 đưc chp nhn nên X, S, L1,
ông L không phi chu án p dân s phúc thm.
11
[6] Quan điểm ca Luật bo v quyn li ích hp pháp cho
Nguyn Th X trình bày phù hp vi mt phn nhận định ca Hội đồng xét x
nên được chp nhn mt phn.
[7] Quan điểm của đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù
hp vi mt phn nhận định ca Hi đồng xét x nên chp nhn mt phn.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; Điều 310 ca B lut T tng dân s năm
2015; Lut phí l phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chp nhn kháng cáo ca bà Nguyn Th X, Nguyn Th S, ông
Nguyn Kim L, Nguyn Th L1; chp nhn kháng ngh ca Viện trưởng Vin
kim sát nhân dân Thành ph Biên Hòa.
Tuyên x:
1. Hy toàn b Bn án dân s thẩm s: 61/2020/DS-ST ngày
27/8/2020 ca Tòa án nhân dân Thành ph Biên Hòa; Chuyn tr h vụ án
cho Tòa án nhân dân Thành ph Biên Hòa gii quyết li theo th tục sơ thẩm.
2. V án phí phúc thm: Nguyn Th X, bà Nguyn Th S, ông Nguyn
Kim L, Nguyn Th L1 không phi chu án phí dân s phúc thm. Hoàn tr
cho X, S, L1, ông L mi ngưi 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tin tm
ng án phí dân s phúc thẩm đã nộp ti các Biên lai thu s 0006839; 0006639;
0006640; 0006641 ngày 01/10/2020 ca Chi cc Thi hành án dân s Thành ph
Biên Hòa.
3. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND tp. Biên Hòa;
- Chi cc THADS tp. Biên Hòa;
- VKSND tp. Biên Hòa;
- Lưu hồ sơ v án, VP, TP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thanh Phong
Tải về
Bản án số 37/2021/DS-PT Bản án số 37/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất