Bản án số 36/2026/DS-PT ngày 29/01/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 36/2026/DS-PT ngày 29/01/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 36/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức B - Võ Đăng K
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
THÀNH PHĐÀ NẴNG Độc lập - Tdo - Hnh pc
Bản án s: 36/2026/DS-PT
Ny 29/01/2026
V/v “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất vô hiệu”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Dũng
Các Thẩm phán: Ông Trương Chí Trung
Bà Mai Vương Thảo
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Phạm Thị Ngọc Dung
- Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 29 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà
Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 154/2025/TLPT-DS ngày 30
tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất vô hiệu”.
Do Bản án dân sự thẩm số 60/2025/DS-ST ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 4 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố: 380/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11
năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 491/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng
12 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 11/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng 01
năm 2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức B - Sinh năm: 1991 - Địa chỉ: Thôn P2, H,
huyện H, thành phố Đ (nay là Thôn P2 xã H, thành phố Đ). (Có mặt).
* Bị đơn: Ông Đăng K - Sinh năm: 1977 Đinh Thị Thanh T - Sinh
năm: 1979 - Cùng địa chỉ: Thôn D1, xã H, huyện H, thành phố Đ. (nay là Thôn D1,
H, thành phĐ).
Người đại diện theo ủy quyền của Đinh Thị Thanh T: Ông Đăng K - Sinh
2
năm: 1977 - Địa chỉ: Thôn D1, H, huyện H, thành phố Đ. (nay Thôn D1, H,
thành phố Đ). (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Đỗ Xuân N- Sinh năm: 1988 bà Nguyễn Thị Thùy H- Sinh năm: 1992
- Cùng địa chỉ: Số 828 đường T, phường H, quận L, thành phố Đ. (nay là 828 đường T,
phường H, thành phố Đ). (Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị
Thùy H: Ông Xuân C ông Văn T1 - Luật của Công ty Luật TNHH M
thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
2. Văn phòng Công chứng T - Trụ sở: Thôn T1, xã H, huyện H, thành phố Đ(nay
là T1 xã H, thành phố Đ). (Vắng mặt).
3. Chi cục Thi hành án dân shuyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng - Trụ sở:
Trung tâm hành chính huyện Hòa Vang, quốc lộ 14B, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang,
thành phố Đà Nẵng (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đà Nẵng - Địa chỉ:
Số 324 đường Hồ Tùng Mậu, phường Hòa Khánh, thành phố Đà Nẵng). (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Đăng K Đinh Thị Thanh T, Nguyên đơn;
ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thùy H, Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
* Theo đơn khởi kiện cũng như quá trình tham gia tố tụng, tại phiên tòa nguyên
đơn ông Nguyễn Đức B trình bày:
Tại Bản án số: 58/2022/DS-PT ngày 29/12/2022 Toà án nhân dân huyện Hoà
Vang Bản án số: 46/DS-PT ngày 19/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà đã
tuyên: Buộc ông Đăng K bà Đinh Thị Thanh T phải nghĩa vụ liên đới thanh
toán cho tôi Nguyễn Đức B số tiền 800.000.000 đồng buộc ông Đăng K phải
nghĩa vụ thanh toán cho tôi là Nguyễn Đức B số tiền 200.000.000 đồng. Trong thời
gian Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, vợ
chồng ông K, bà T đã chuyển nhượng cho ông Đỗ Xuân Nhân và Nguyên Thị Thùy
H tài sản là thửa đất lô số 16, tờ bản đồ số 47, diện tích 100m² địa chỉ: Khu Tái định cư
phía Đông chợ H, H, huyện H, thành phố Đ theo Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BV 254884 do Sở Tài
nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 01/12/2014.
Hợp đồng chuyển nhượng nêu trên đã được Văn phòng công chứng T chứng
thực số 0825, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/3/2023. Việc ông K, bà T
3
chuyển nhượng tài sản nêu trên trong thời gian Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án
dấu hiệu tẩu tán tài sản để trốn trái nghĩa vụ thanh toán cho tôi theo các bản án
nêu trên. Do đó, tôi đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau đây: Tuyên hủy Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất giữa ông Đăng K,
Đinh Thị Thanh T với ông Đỗ Xuân Nvà bà Nguyễn Thị Thùy H do Văn phòng công
chứng T chứng thực số: 0825, quyến số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/3/2023.
Đối với kết quả thẩm định giá tài sản tranh chấp của Công ty cổ phần thẩm định giá và
dịch vụ tài chính B thì tôi không ý kiến gì, đnghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp luật.
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn - ông Võ Đăng K trình bày:
Ông Nguyễn Đức B khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất giữa vợ chồng tôi là Đăng K Đinh
Thị Thanh T với ông Đỗ Xuân N và Nguyễn Thị H được Văn phòng ng chứng
Trần Thị Thanh B công chứng ngày 20/3/2023 với do vợ chồng tôi dấu hiệu tẩu
tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ số tiền 1.000.000.000 đồng cho ông Nguyễn
Đức Bảo hoàn toàn không căn cứ. Vợ chồng tôi không đồng ý với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn bởi các lý do sau:
Thứ nhất, nhà đất nêu trên của vợ chồng tôi trước đây thế chấp tại Ngân hàng T
(Phòng giao dịch huyện Đ, tỉnh Q) để vay số tiền 3.651.108.790 đồng.
Thứ hai, do làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều, ngân hàng đòi nợ khởi kiện ra Tòa
án nhân dân huyện Đại Lộc, đòi vợ chồng tôi trả số tiền cả gốc và lãi 3.800.271.762
đồng nếu không trả nợ thì xtài sản thế chấp nhà đất nêu trên. Do đó, vợ chồng tôi
đồng ý trả nợ cho ngân hàng theo quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự số 08, ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Thứ ba, quá trình làm ăn vợ chồng tôi mượn tiền của nhiều người để làm ăn
nhằm phát triển kinh doanh để trả nợ. Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ, ngân hàng đòi nợ,
nhiều người đòi nợ nên vợ chồng tôi mất khả năng trả nợ. Ngoài ra, vợ chồng tôi còn
nợ ông Nguyễn Ngọc D số tiền 500.000.000 đồng; Phạm Thị Bích Tr số tiền
500.000.000 đồng và các án phí dân sự khác theo các Quyết định thi hành án dân sự tại
Chi cục Thi hành phí dân shuyện Hòa Vang huyện Đại Lộc. Nợ của Phạm Thiên
Th: 1.000.000.000 đng; Nợ của Nguyễn Thị X stiền 700.000.000 đồng; nợ
của Đinh Thị Hồng L số tiền 2.100.000.000 đồng nợ tiền của Nguyễn Đức B lúc
đó chưa có quyết định thi hành án là 1.000.000.000 đồng.
Để đảm bảo trả nợ cho Ngân hàng một số người nêu trên, nên vợ chồng tôi
phải bản nhà để trả nợ. Do đó, vchồng tôi đã thỏa thuận với Ngân hàng vào ngày
20/3/2023 vợ chồng tôi thỏa thuận với ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thủy H về việc
4
chuyển nhượng nhà, đất nêu trên với số tiền là 6.970.000.000 đồng để trả nợ.
Sau đó, vợ tôi nhận số tiền trên trả nợ cho Ngân hàng T số tiền: 3.748.329.731
đồng theo Ủy nhiệm chỉ ngày 20/3/2023. Trả tiền nợ thẻ cho Ngân hàng T số tiền
53.962.099 đồng 39.018.526 đồng theo ủy nhiệm chi ngày 20/3/2023. Nộp án phí
dân sự thẩm theo Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của c đương sự số:
08/2023/QĐST-DS ngày 27/02/2023 nêu trên, cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam số tiền 54.003.000 đồng theo giấy xác nhận kết quả thi hành
án số: 35 ngày 21/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Trả
nợ cho ông Nguyễn Ngọc D số tiền 500.000.000 đồng; Trả nợ cho Phạm Thị ch
Tr số tiền 500.000.000 đồng. Nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm: 48.300.000 đồng theo
giấy xác nhận kết quả thi hành án số: 02, ngày 31/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Hòa Vang. Trả nợ cho anh Phạm Thiên Th số tiền 500.000.000 đồng theo
giấy nhận nngày 22/3/2023; Trả nợ cho chị Nguyễn Thị X số tiền 400.000.000
đồng theo giấy nhận nợ ngày 22/3/2023; Trả nợ cho Đình Thị Hồng L số tiền
1.100.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 22/3/2023. Tổng số tiền vợ chồng tôi
bán nhà đất để trả nợ là 6.943.613.356 đồng. Như vậy, sau khi tôi bán nhà đất nêu trên
thì tôi còn 26.386.644 đồng để thực hiện việc chỉ tiêu trong gia đình. Tuy nhiên, vợ
chồng tôi đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang số tiền 26.000.000
đồng để trả nợ cho ông Nguyễn Đức B.
Vợ chồng tôi xác nhận vẫn còn nợ của ông Nguyễn Đức B và sẽ làm ăn để trả nợ
cho ông B trong thời gian đến. Việc bán nhà đất không phải chúng tôi tẩu tán tài sản
cả để đảm bảo trả nợ cho Ngân hàng đã đòi nphải xử tài sản thế chấp
nếu như tôi không trả nợ; đồng thời phải trả nợ cho những người như đã nêu trên. Do
đó, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức B về việc nói vợ chồng tôi tẩu tán tài sản
để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ông B đồng thời hủy hợp đồng chuyền nhượng
giữa vợ chồng tôi và ông Đỗ Xuân N với bà Nguyễn Thị Thùy H là hoàn toàn không có
căn cứ. Vợ chồng tôi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông B.
Hiện tại nhà, đất vợ chồng tôi đã bán cho ông Nhân với H; vợ chồng tôi đã
giao nhà đất này cho ông N và bà H sau khi ký hợp đồng để lấy tiền trả nợ, nhà đất này
hiện tại của ông N và bà H, không phải của vợ chồng tôi nữa. Đối với số nợ của ông B,
vợ chồng tôi vẫn trách nhiệm m ăn trả nợ cho ông B đầy đủ theo bản án, quyết
định của Tòa án. Trước đây ông B đã khởi kiện vợ chồng tôi yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa vợ chồng tôi với ông
Đỗ Xuân N bà Nguyễn Thị Thùy H. Tôi đã nộp toàn bộ tài liệu hồ cho Tòa án
nhân dân huyện Hòa Vang giải quyết vụ án trước đó. Đến bây giờ ông B lại kiện lại vợ
chồng tôi. Vợ chồng tôi giữ nguyên quan điểm, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
5
của ông B. Đối với số tiền nợ Chi cục Thi hành án huyện Hòa Vang thì tôi đã trả gần
xong, chỉ còn nợ 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Đối với kết quả thẩm định giá tài sản
tranh chấp của Công ty cổ phần thẩm định giá dịch vụ tài chính B thì vợ chồng tôi
không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Quá trình tham gia tố tụng, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị Thùy H là
Trần Thị Thanh T2 trình bày:
Ngày 02/3/2023, giữa ông Đỗ Xuân N bà Nguyễn Thị Thùy H ông
Đăng K, bà Đinh Thị Thanh Tký Hợp đồng đặt cọc thửa đất số: Lô 17, tờ bản đồ số
7, địa chỉ: Khu dân cư phía Đông chợ H, H, huyện H. Sau khi ký Hợp đồng đặt cọc
thì ông N H được biết thửa đất đang bị tạm dừng theo Quyết định số 13/QĐ-
CCTHADS ngày 15/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Vang.
Vào lúc 9 giờ 10 phút ngày 20/3/2023 ông Nhân H đã giao cho ông K, T
số tiền 1.300.000.000 đồng để ông K thi hành án theo Quyết định thi hành án của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Theo đó, ngày
20/03/2023 Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Vang đã ra Quyết định số: 14/QĐ-
CCTHADS ngày 20/3/2023 về việc chấm dứt tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở
hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản. Cùng ngày 20/03/2023, sau khi thửa đất
không còn bị tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu thì ông K T ký Hợp
đồng chuyển nhượng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số:
Lô 17, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Khu dân cư phía Đông chợ H, xã H, huyện H cho chúng
tôi theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 0825 quyển số
01/2023 tại văn phòng công chứng T. Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ nêu trên thì thửa đất này đủ điều kiện được chuyển nhượng theo quy định tại
Điều 188 Luật đất đai 2013.
Ông N H đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế trước bạ nhà đất vào ngân sách
nhà nước theo giấy nộp tiền số 1927788 ngày 22/3/2023 và đợi Văn phòng đăng ký đất
đai, chi nhánh huyện Hoà Vang trả kết quả chỉnh biến động quyền sử dụng đất nêu
trên cho chúng tôi Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thuỳ H. Đến ngày 28/03/2023 Văn
phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Hoà Vang có công văn số: 984/CNHV-
ĐKCGCN ngày 28/03/2023 về việc tạm dừng giải quyết hồ chuyển nhượng quyền
sử dụng đất của ông N H do Toà án nhân dân huyện Hoà Vang Công văn số:
63/CV-TA ngày 27/3/2023 thông báo tài sản tranh chấp theo Thông báo thụ số:
67/2023/TLST DS ngày 27/3/2023 về việc Yêu cầu huỷ Hợp đồng chuyển nhượng
quyền s dụng đất”. Ngày 10/01/2024, ông N H nhận được Quyết định số:
55/2023/QĐST-DS ngày 09/8/2023 Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ
6
số: 67/2023/TLST DS ngày 27/3/2023 về việc Yêu cầu huỷ Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sdụng đất”. Từ đó, ông N H biết được vụ án tranh chấp đối với
thửa đất ông N H đề nghị chỉnh biến động sang tên ông N H đã không
còn. Nhưng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hoà Vang vẫn không tiếp tục
thực hiện giải quyết hồ theo quy định pháp luật. Do đó, ngày 16/01/2024 ông N
H đã nộp đơn khiếu nại đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Hoà Vang
để đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Hoà Vang tiếp tục thực hiện
thủ tục chỉnh biến động đất đai tài sản gắn liền với đất sang tên chúng tôi Đỗ
Xuân N và Nguyễn Thị Thuỳ H.
Trong quá trình khiếu nại đến Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện Hoà
Vang, ông N H biết được thông tin tài sản của ông N H thửa đất số:
17, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Khu dân phía Đông chợ H, H, huyện H đã bị Chi cục
thi hành án dân sự huyện Hoà Vang ra Quyết định số 28/QĐ- CCTHADS vviệc tạm
dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản. Và được
hướng dẫn liên hệ Toà án yêu cầu ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất để Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai sở tiếp tục thực hiện thủ tục chỉnh
lý biến động, sang tên quyền sử dụng đất cho ông N và H. Theo đó, để đảm bảo cho
quyền và lợi ích hợp pháp của ông N và bà H đối với tài sản chúng tôi đã nhận chuyển
nhượng từ ông Võ Đăng K, Đinh Thị Thanh T là thửa đất số: 17, tờ bản đồ số 7,
địa chỉ: Khu dân phía Đông chợ H, xã H, huyện H. Ông N và H đã đơn khởi
kiện ông Đăng K Đinh Thị Thanh T, đnghị Tán giải quyết những vấn đ
sau:
- Yêu cầu T án nhân dân huyện Hoà Vang công nhận Hợp đồng chuyển
nhượng Quyền sử dụng đất đã ngày 20/3/2023 giữa chúng tôi Đỗ Xuân N,
Nguyễn Thị Thuỳ H ông Võ Đăng K, Đinh Thị Thanh T, số công chứng 0825
quyển số 01/2023 tại văn phòng công chứng T.
- Buộc ông Đăng K, Đinh Thị Thanh T tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 0825, quyến s 01/2023 tại văn
phòng công chứng T. Vụ án đang được thụ giải quyết theo thông báo thụ số
28/TB-TLVA ngày 30/01/2024 của Tán nhân dân huyện Hoà Vang. Tuy nhiên, ông
Nguyễn Đức B (hiện cũng đang người quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án
yêu cầu công nhận và tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đang được thụ giải quyết theo Thông báo thụ số: 28/TB-TLVA ngày 30/01/2024
của T án nhân dân huyện Hoà Vang) khởi kiện ông Đăng K Đinh Thị
Thanh T trong một vụ án khác yêu cầu toà án Huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất tài sản gắn liền với đất giữa ông Đăng K, Đinh Thị Thanh T với
7
ông Đỗ Xuân N, bà Nguyễn Thị Thuỳ H”.
Với cách người quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này, căn cứ Điều
201 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông N và bà H đưa ra yêu cầu độc lập trong vụ án này như
sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức B.
- Yêu cầu T án nhân dân huyện Hoà Vang công nhận Hợp đồng chuyển
nhượng Quyền sử dụng đất đã ngày 20/3/2023 giữa chúng tôi Đỗ Xuân N,
Nguyễn Thị Thuỳ H ông Võ Đăng K, Đinh Thị Thanh T, số công chứng 0825
quyển số 01/2023 tại văn phòng công chứng T.
- Buộc ông Đăng K, Đinh Thị Thanh T tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 0825, quyển số 01/2023 tại văn
phòng công chứng T.
Đối với kết quả thẩm định giá tài sản tranh chấp của Công ty cphần thẩm định
giá dịch vụ tài chính B thì ông N H thì chúng tôi sẽ có ý kiến gửi đến Tòa án
sau.
* Tại Công văn số: 802/THADS-KV4 ngày 29/7/2025, Phòng Thi hành án dân
sự Khu vực 4 thành phố Đà Nẵng gửi Tòa án nhân dân Vhu vực 4 nội dung như
sau:
Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng (sau đây viết tắt THADS) thụ thi
hành các Bản án, quyết định của Tòa án và tổ chức thi hành các Quyết định thi hành án
bao gồm:
1. Bản án số 32/2021/DSST ngày 20/10/2021 của TAND huyện Hòa Vang (nay
TAND khu vực 4), thành phố Đà Nẵng Quyết định thi hành án chủ động số
179/QĐ-CCTHADS ngày 07/12/2021, Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số
45/QĐ-CCTHADS ngày 15/12/2021 của Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện Hòa
Vang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4), thành phố Đà Nẵng.
Buộc ông Võ Đăng K và bà Đinh Thị Thanh T, địa chỉ: Thôn T1, H, huyện H
(nay là thôn T1, xã H), thành ph Đ phải có nghĩa vụ nộp tiền án phí DSST:
24.000.000 đồng trả nợ Phạm Bích Tr số tiền: 500.000.000 đồng và lãi chậm thi
hành án.
2. Bản án số 30/2022/DSST ngày 22/8/2022 của TAND huyện Hòa Vang (nay là
TAND khu vực 4), thành phố Đà Nẵng, Bản án s 01/2023/DSPT ngày 04/01/2023 của
TAND thành phố Đà Nẵng và Quyết định thi hành án chủ động số 371/QĐ-CCTHADS
ngày 07/02/2023, Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 83/QĐ-CCTHADS ngày
30/01/2023 của Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện Hòa Vang (nay Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 4), thành phố Đà Nẵng.
8
Buộc ông Võ Đăng K Đinh Thị Thanh T, địa chỉ: Thôn T1, xã H, huyện H
(nay là thôn T1, xã H), thành phố Đ phải có nghĩa vụ nộp tiền án phí DSST:
24.000.000 đồng, án phí DSPT: 300.000 đồng và trả nợ ông Nguyễn Ngọc D số tiền:
500.000.000 đng và lãi chậm thi hành án.
Ngày 15/12/2021, Chấp hành viên Chi cục THADS huyện Hòa Vang (nay
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4), thành phố Đà Nẵng đã ban hành Quyết định về
việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền shữu, sdụng, thay đổi hiện trạng tài sản số
13/QĐ-CCTHADS đối với tài sản của ông Võ Đăng K và bà Đinh Thị Thanh T.
Quá trình thi hành án, ông Võ Đăng K và bà Đinh Thị Thanh T đã thi hành xong
các khoản nghĩa vụ theo Bản án của Tòa án và các Quyêt định thi hành án nêu trên (có
chứng từ kèm theo). Đến ngày 20/3/2023, Chấp hành viên Chi cục THADS huyện Hòa
Vang (nay Phòng Thi hành án dân skhu vực 4), thành phố Đà Nẵng đã ban hành
Quyết định về việc chấm dứt tạm dừng đắng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay
đổi hiện trạng tài sản số 13/0Đ-CCTHADS đối với tài sản của ông Đăng Khoa
bà Đinh Thị Thanh Thủy.
3. Ngày 18/5/2023, Chi cục THADS huyện Hòa Vang (nay Phòng Thi hành
án dân s khu vực 4) nhận Bản án số 58/2022/DSST ngày 29/12/2022 của TAND
huyện Hòa Vang chuyển giao đóng dấu "án chưa hiệu lực pháp luật", ngày
22/5/2023, Chi cục THADS huyện Hòa Vang (nay Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 4) nhận Bản án số 46/2023/DSPT ngày 19/4/2023 của TAND thành phố Đà Nẵng.
Chi cục THADS huyện Hòa Vang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4) đã ban
hành các Quyết định thi hành án chủ động số 632, 633, 634/QĐ-CCTHADS cùng ngày
22/5/2023 cho thi hành: buộc ông Đăng Khoa nộp tiền án phí DSST: 28.000.000
đồng, bà Đinh Thị Thanh Thủy nộp tiền án phí DSST: 18.000.000 đồng (đã thi hành
xong, có chứng từ kèm theo), ông Đăng K và Đinh Thị Thanh T nộp tiền án phí
DSPT: 300.000 đồng (đã thi hành xong có chứng từ kèm theo).
Đối với khoản tiền án phí DSST: 28.000.000 đồng ông Đăng K phải nộp
thì ông Kđã thi hành được số tiền là 8.000.000 đồng (có chứng từ kèm theo).
4.Ngày 21/4/2023, Chi cục THADS huyện Hòa Vang (nay là Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 4) nhận đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn Đức B, địa chỉ: thôn
P2, H, huyện H (nay thôn P2, H, thành phố Đà Nẵng buộc ông Đăng K
Đinh Thị Thanh T liên đới trả cho ông Nguyễn Đức B stiền: 800.000.000 đồng và
lãi chậm thi hành án; Buộc ông Đăng K trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền:
200.000.000 đồng lãi chậm thi hành án. Chi cục THADS huyện Hòa Vang (nay
Phòng Thi h-ành án dân sự khu vực 4) đã ban hành Quyết định thi hành án theo đơn
yêu cầu số 121/-CCTHADS ngày 21/4/2023.
9
Qua xác minh được biết ông Đăng K bà Đinh Thị Thanh T tài sản
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất tại khu tái định
phía đông chợ H, H, huyện H, thành phố Đ. Chấp hành viên Chi cục THADS
huyện Hòa Vang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4) đã ban hành Quyết định
về việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản
số: 28/QĐ-CCTHADS ngày 30/5/2023 đối với tài sản của ông Đăng K và Đinh
Thị Thanh T.
Ngày 08/7/2024, Chi cục THADS huyện Hòa Vang (nay Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 4) nhận Thông báo số 99/TB-TLVA ngày 05/6/2024 của TAND huyện
Hòa Vang (nay là TAND khu vực 4) về việc thụ vụ án giữa nguyên đơn ông
Nguyễn Đức B và bị đơn là ông Võ Đăng K bà Đinh Thị Thanh T. Chi cục THADS
huyện Hòa Vang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4) đã ban hành Quyết định
về việc hoãn thi hành án số 16 17/QĐ-CCTHADS ngày 08/7/2024 hoãn thi hành án
đối với ông Võ Đăng Khoa và bà Đinh Thị Thanh Thủy.
* Với nội dung vụ án ntrên, tại bản án dân sự thẩm số 60/2025/DS-ST
ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ vào: Các Điều 117, 122, 124, 131 Điều 503 Bộ luật Dân sự, khoản 3
Điều 188 Luật Đất đai; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức B.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ
Xuân N và bà Nguyễn Thị Thùy H.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất giữa ông Đăng K, Đinh Thị Thanh T với ông Đỗ Xuân N, Nguyễn Thị
Thùy H do Văn phòng Công chứng T chứng thực số 0825, quyển số 01/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 20/3/2023 vô hiệu.
2. Buộc ông Võ Đăng K và bà Đinh Thị Thanh T thanh toán cho ông Đỗ Xuân N
và bà Nguyễn Thị Thùy H số tiền 6.970.000.000 đồng (Sáu tỷ chín trăm bảy mươi triệu
đồng) .
3. Buộc ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị Thùy H hoàn trả cho ông Võ Đăng K
và bà Đinh Thị Thanh T quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất lô số
16, tờ bản đồ số 47, diện tích 100m
2
tại địa chỉ khu tái định cư phía Đông chợ H, huyện
H, thành phố Đ (nay H, thành phố Đ) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất,
10
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV254884 do Sở Tài nguyên và
Môi trường thành phố Đà Nẵng cấp ngày 01/12/2014.
4. Buộc ông Đăng K Đinh Thị Thanh T thanh toán stiền chi phí tố
tụng là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng) cho ông Nguyễn Đức B.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật, ông Đỗ Xuân N và Nguyễn Thị
Thùy H đơn yêu cầu thi nh án đối với số tiền ông Đăng K Đinh Thị
Thanh T phải thanh toán, nếu ông Đăng K Đinh Thị Thanh T không thanh
toán hoặc thanh toán không đầy đthì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi tương ứng
với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán theo Điều 468 BLDS.
4. Về án phí DSST:
- Buộc ông Võ Đăng K và bà Đinh Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
là 114.970.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu, chín trăm bảy mươi nghìn đồng).
- Buộc ông Đỗ Xuân N, Nguyễn Thị Thùy H phải chịu án pkhông giá
ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 000941 ngày
29/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sư huyện Hòa Vang (nay là Phòng Thi hành án
dân sự Khu vực 4 thành phố Đà Nẵng). Ông Đỗ Xuân N, Nguyễn Thị Thùy H đã
nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002098 ngày 03/6/2024 tại Chi cục
Thi hành án dân huyện Hòa Vang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4
thành phố Đà Nẵng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo nghĩa vụ thi hành án
của các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Bị đơn ông Đăng K Đinh Thị Thanh T
kháng cáo đề nghị HĐXX sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức B;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lậpông Đỗ Xuân N
Nguyễn Thị Thùy H đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án dân sự thẩm theo
hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức B chấp nhận yêu
cầu độc lập của ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị Thùy H.
* Tại phiên tòa phúc thẩm Bị đơn ông Đăng K Người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập ông Đỗ Xuân N, Nguyễn Thị Thùy H gi
nguyên nội dung kháng cáo.
* Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng phát
biểu về việc giải quyết vụ án như sau:
11
+ Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
ở giai đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn ông Đăng K, bà Đinh Thị Thanh T
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập ông Đỗ Xuân N,
Nguyễn Thị Thùy H. Giữ nguyên nội dung bản án dân s thẩm số 60/2025/DS-ST
ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm
sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai Văn
phòng Công chứng T Phòng Thi hành án n sự khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia
phiên toà nhưng các đương sự nêu trên vẫn vng mặt nên HĐXX căn cứ Điu 296 B
lut t tng dân s để xét x vng mt các đương sự nói trên.
* Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, Bị đơn là ông Đăng K kháng cáo đề nghị HĐXX
sửa bản án dân sự thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Đức B; Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập ông Đỗ
Xuân N Nguyễn Thị Thùy H đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án dân sự thẩm
theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức B chấp nhận
yêu cầu độc lập của ông Đỗ Xuân N, Nguyễn Thị Thùy H. Xét kháng cáo của các
đương sự thì thấy:
[2] Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
ngày 20/3/2023 thì ông Đăng K Đinh Thị Thanh T chuyển nhượng quyền
sở hữu nhà quyền sử dụng đất cho ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thùy H thửa
đất lô số 16, tờ bản đồ số 47, diện tích 100m
2
tại địa chỉ khu tái định cư phía Đông chợ
H theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số BV254884 do Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Đà Nẵng (cũ)
cấp ngày 01/12/2014 đứng tên ông Đăng K và Đinh Thị Thanh T. Hợp đồng
chuyển nhượng được Văn phòng Công chứng T chứng thực số 0825, quyển số
01/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/3/2024. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng
12
quyền sử dụng đất giữa các đương sự có hình thức phù hợp Điều 117, Điều 503 Bộ luật
Dân sự và khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Đức B cho rằng: Sau khi có bản án dân sự
thẩm tuyên buộc ông K và T trả cho ông Bảo số tiền 1.000.000.000 đồng
trong thời gian Tòa án giải quyết theo trình tự phúc thẩm thì ông K T chuyển
nhượng tài sản là dấu hiệu tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nên
ông B đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất hiệu; còn ông K, ông N H cho rằng: Việc chuyển nhượng tài sản
nêu trên không phải nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho ông B mà thực hiện
các nghĩa vụ trả nợ khác, nên ông K không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B;
còn ông N và bà H yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyển
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự thì thấy: Để thực hiện việc nhận chuyển
nhượng quyền sở hữu nhà quyền sử dụng đất nên ngày 20/3/2023 ông N H đã
thanh toán cho Ngân hàng T số tiền 3.748.329.731 đồng các khoản nợ thẻ tín dụng
93.000.000 đồng; Nộp 54.003.000 đồng án phí dân sự; thanh toán cho ông Nguyễn
Ngọc D số tiền 500.000.000 đồng và 8.853.000 đồng tiền lãi suất chậm thi hành án;
thanh toán cho Phạm Bích Tr số tiền 500.000.000 đồng 62.900.000 đồng tiền lãi
suất chậm thi hành án nộp án phí dân sự thẩm 48.000.000 đồng án phí phúc
thẩm 300.000 đồng. Sau khi thanh toán số ntrên Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Hoà Vang ban hành Quyết định số 13/QĐ-CCTHADS về việc chấm dứt tạm dừng
đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng thay đổi hiện trạng đối với tài sản của ông
Khoa Thủy, đồng thời ông Khoa Thủy rút giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đang thế chấp tại Ngân hàng đến Văn phòng Công chứng T để thực hiện việc
chuyển nhượng cho ông N và bà H.
[4] Tại khoản 2 Điều Điều 75 Luật thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp có
căn cứ xác định liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Toà án tuyên
bố giao dịch đó vô hiệu…”.
Tại Điều 24 của Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy
định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự quy định:
“Kể từ ngày bản ánhiệu lực pháp luật nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng
cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác không sử dụng
khoản tiền thu được để thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc tài sản khác
không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bbiên, xử để thi
hành án…
13
Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời …
tài sản bị chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho
người khác thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án”.
Như vậy, ông K T chuyển nhượng nhà đất cho ông N H khi bản án
tuyên buộc ông K và bà T phải trả cho ông B số tiền 1.000.000.000 đồng chưa hiệu
lực pháp luật nên chưa phát sinh nghĩa vụ thi hành án; tại thời điểm chuyển nhượng tài
sản không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời của
quan nhà nước thẩm quyền; cũng tại phiên tòa phúc thẩm ông K xác nhận ông
không quen biết ông N và bà H, khi chuyển nhượng ông cũng không thông o cho
ông N và bà H về khoản nợ của ông B nên ông N và bà H không thể biết khoản nợ của
ông K, bà T. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng và nhận đủ tiền thì ông K và bà T đã
bàn giao nhà đất cho ông N và bà H quản lý sử dụng cho đến nay. Do vậy, ông N và bà
H là người nhận chuyển nhượng ngay tình nên cần được bảo vệ, nhưng Tòa án cấp
thẩm cho rằng ông K T chuyên nhượng dấu hiệu tẩu tán tài sản nhằm trốn
tránh nghĩa vụ thanh toán tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất không có căn cứ, nh hưởng đến quyền lợi ích hợp
pháp của ông N và bà H.
[5] Mặt khác, Tòa án cấp thẩm cũng xác đnh: “Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được công chứng ngày 20/3/2023 là thể hiện đúng ý chí của ông
Đăng K, Đinh Thị Thanh T, ông Đỗ Xuân Nvà Nguyễn Thị Thùy H về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại thời điểm chuyển nhượng tài sản đã được Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Hoà Vang ban hành Quyết định chấm dứt việc tạm dừng
đăng ký, chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa đất nói trên”, nhưng lại cho rằng chưa
hoàn thành đăng tại quan đăng đất đai đăng vào sổ địa chính” n
chưa hiệu lực để tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất hiệu là chưa chính xác bởi lẽ: Sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng
quyển sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, ngày 22/3/2023 ông N và bà H nộp hồ sơ
để đăng chỉnh biến động nộp thuế theo quy định, tuy nhiên ngày 28/03/2023
Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Hoà Vang ban hành Công văn số
984/CNHV-ĐKCGCN về việc tạm dừng giải quyết hồ chuyển nhượng quyền sử
dụng đất. Như vậy, ông N H không đăng tại quan đăng đất đai được
do khách quan chứ không phải do lỗi của ông N bà H cho nên ông N H
mới yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyển sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất có hiệu lực pháp luật.
Từ những phân tích trên, HĐXX thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn byêu
cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức B và không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đỗ
14
Xuân N Nguyễn Thị Thùy H không căn cứ. Do vậy cần sửa Bản án dân sự
thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức B chấp nhận yêu
cầu độc lập của ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị Thùy H.
Xét lời đề nghị của Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông N và H
là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là không phù hợp với nhận định
của HĐXX nên không chấp nhận.
[6] Về án phí:
[6.1] Về án pdân sự thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên ông
Nguyễn Đức B phải chịu án pdân sự thẩm 300.000 đồng, nhưng được trừ vào
số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu s0002098 ngày 03
tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang (nay là Phòng Thi
hành án dân sự Khu vực 4 - Đà Nẵng).
- Do chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thùy H
nên ông Đăng K Đinh Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự thẩm
300.000 đồng.
Ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thùy H không phải chịu án pdân sự sơ
thẩm. Hoàn trả cho ông Đỗ Xuân N bà Nguyễn Thị Thùy H số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000941 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang (nay Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 4 - Đà Nẵng).
[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên ông Võ Đăng K,
Đinh Thị Thanh T ông Đỗ Xuân N, Nguyễn Thị Thùy H không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông Đăng K và bà Đinh Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002980 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi
hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Hoàn trả cho ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thùy H số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002979 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của
Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chổ 3.000.000 đồng
chi phí thẩm định giá tài sản 42.000.000 đồng, tổng cộng 45.000.000 đồng ông
Nguyễn Đức B phải chịu. (Đã nộp và chi xong).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
15
- Căn cứ khoản 2 Điều 296 khoản 2 Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 188 Luật đất đai.
- Căn cứ Điều 75 Luật Thi nh án dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của ông Đăng K, Đinh Thị Thanh T và ông Đỗ
Xuân N Nguyễn Thị Thùy H. Sửa bản án dân sự thẩm số 60/2025/DS-ST
ngày 20/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Đà Nẵng.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu” của ông Nguyễn Đức Bảo đối với ông
Đăng Khoa, bà Đinh Thị Thanh T.
2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị Thùy H.
Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với
đất giữa ông Đăng K, bà Đinh Thị Thanh T với ông Đỗ Xuân N, Nguyễn Thị
Thùy H do Văn phòng Công chứng T chứng thực số 0825, quyển số 01/2023/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 20/3/2023 có hiệu lực pháp luật.
Ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thùy H được quyền liên hệ với quan
Nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật.
3. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Đức B phải chịu
300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng
theo Biên lai thu số 0002098 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Hòa Vang (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 - Đà Nẵng).
+ Án phí dân sthẩm ông Đăng K bà Đinh Thị Thanh T phải chịu là
300.000 đồng.
Ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thùy H không phải chịu án phí n sự
thẩm. Hoàn trả cho ông Đỗ Xuân N Nguyễn Thị Thùy H số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000941 ngày 29 tháng 01 năm 2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang (nay Phòng Thi hành án dân sự Khu
vực 4 - Đà Nẵng).
16
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Án phí dân sự phúc thẩm ông Đăng Khoa, bà
Đinh Thị Thanh Thủyông Đỗ Xuân N, bà Nguyễn Thị Thùy H không phải chịu.
+ Hn trả cho ông Đăng K và Đinh Thị Thanh T số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002980 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của
Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
+ Hn tr cho ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị Thùy H số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002979 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của
Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chổ 3.000.000 đồng
chi phí thẩm định giá tài sản 42.000.000 đồng, tổng cộng 45.000.000 đồng ông
Nguyễn Đức B phải chịu. (Đã nộp và chi xong).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh án theo quy
định tại Điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
i nhận:
- Các đương sự;
- TAND Khu vực 4 - Đà Nẵng;
- THADS TP. Đà Nẵng;
- Phòng THADS KV4 - Đà Nẵng;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Lưu: Hồ vụ án (1b), Tổ nghiệp vụ
- Văn phòng (1b).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký và đóng dấu)
Vũ Việt Dũng
17
Tải về
Bản án số 36/2026/DS-PT Bản án số 36/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 36/2026/DS-PT Bản án số 36/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất