Bản án số 36/2026/DS-PT ngày 03/02/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp đất đai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 36/2026/DS-PT ngày 03/02/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp đất đai
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 36/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/02/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bn án s: 36/2026/DS-PT
Ngày 03 - 02 - 2026
V/v“Tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Sâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thủy
Ông Nguyễn Đức Cảnh.
- Thư phiên toà: Bùi Thị Thực - Thư Tán nhân dân tỉnh
Ninh Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa:
Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh N Bình xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ Y số 163/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 12
năm 2025 về việc Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2026/QĐ-PT ngày
08/01/2026 Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2026/QĐ-PT ngày 20/01/2026
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trn Th H, sinh năm 1946;
Người đại din hp pháp ca ngun đơn: Ông Nguyn n L, sinh m
1967; người đại din theo y quyn (văn bản y quyn ngày 18/3/2024), (
mt).
ng địa ch: Thôn SN, NC, tnh N nh, (xóm SN, xã TH, huyn TN,
tnh Nam Định cũ).
B đơn: Ông Lưu Văn Th, sinh năm 1959 N Th T, sinh m 1962;
Người đại din hp pháp ca b đơn: Anh u n N, sinh năm 1990;
ngưi đại din theo y quyn (n bn y quyn ngày 26/9/2024), (vng mt).
ng địa ch: Thôn SN, NC, tnh Ninh Bình, (xóm SN, TH, huyn
TN, tỉnh Nam Định cũ).
Người có quyn L, Ng v liên quan:
1. Ông Nguyễn n L, sinh năm 1967; Địa chỉ: Thôn SN, NC, tỉnh Ninh
nh, (xóm SN, TH, huyn TN, tỉnh Nam Định ), (mặt).
2
2. Ông Nguyễnn Th1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn HL, xã NC, tỉnh N
nh, (xóm HL, TH, huyện TN, tỉnh Nam Định ), (vắng mặt).
3. Bà Nguyn Th M, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số nhà 788D TP, phường 3
BL, tỉnh m Đồng, (Snhà 788D TP, phường 3, thành phBL, tỉnh Lâm Đồng
) (vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; Địa chỉ: số 90/8 ĐCT, phường 3
BL, tỉnh Lâm Đồng, (s 90/8 ĐCT, phường 3, tnh phố BL, tỉnh Lâm Đồng cũ) ,
(vắng mt).
5. Trần Thị Th2, sinh m 1968; Thôn SN, NC, tỉnh Ninh nh.
(xóm SN, TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ), (vắng mặt).
6. ChNguyễn Thị U, sinh m 1996; Tn SN, NC, tỉnh Ninh Bình.
(xóm SN, TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ), (vắng mặt).
7. A Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1998; Thôn SN, xã NC, tỉnh Ninh Bình.
(xóm SN, TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ), (vắng mặt).
8. A Nguyễn Văn Đ, sinh m 2003; Thôn SN, NC, tỉnh Ninh nh.
(xóm SN, TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ), (vắng mt).
9. A Nguyễn n L, sinh năm 2000; Thôn SN, NC, tỉnh Ninh Bình.
(xóm SN, TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ), (vắng mặt).
10. Chị Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh m 2005; Thôn SN, NC, tỉnh Ninh
nh. (xóm SN, TH, huyn TN, tỉnh Nam Định ), (vắng mặt).
11. Nguyễn ThV, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn TT, xã NC, tỉnh Ninh
nh. (Thôn TT, TH, huyn TN, tỉnh Nam Định cũ), (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của V: Ông Nguyễn n L, sinh năm 1967;
Địa ch: thôn SN, xã NC, tỉnh Ninh Bình. (xóm SN, xã TH, huyện TN, tỉnh Nam
Định cũ); là người đại diện theo ủy quyền, (văn bản ủy quyền ngày 18/3/2024) (
mặt).
12. Chị Nguyễn ThƯ, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn Tây Đường, xã NC,
tỉnh N Bình. (Tn Tây Đường, xã TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ) (vắng mặt).
13. Chị Nguyễn Thị Th3, sinh năm 2006; Địa chỉ: Thôn SN, NC, tỉnh
Ninh Bình. (xóm SN, TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ), (vắng mặt).
14. Cháu Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 09/11/2011; Địa chỉ: Thôn SN,NC,
tỉnh Ninh Bình. (xóm SN, xã TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ), (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu Đ: Nguyn ThV, sinh năm 1988;
Địa ch: Thôn TT, xã NC, tỉnh N nh. (Thôn TT, TH, huyện TN, tỉnh Nam
Định cũ), (vắng mặt).
Người m chứng:
1. Lâm Thị L, sinh năm 1935; Địa chỉ: Thôn SN, NC, tỉnh Ninh
Bình, (vắng mặt).
2. Ông Vũ Trường S, sinh năm 1959; Địa ch: Thôn SN, NC, tỉnh N
nh, (có mặt).
Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị H, là nguyên đơn.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/12/2023 nguyên đơn bà Trần Thị H, bản tự
khai, trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa ông Nguyễn Văn L
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vợ chồng bà Trần Thị H, ông Nguyễn n Q (ông Q chết năm 2007) có
06 người con gồm: ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn Th1, ông Nguyễn
Văn (ông H1 chết năm 2024, vợ bà Trần Thị Th2 05 con chị
Nguyn Th U, Anh Nguyn Văn Ng, Anh Nguyễn Văn Đ, Anh Nguyễn Văn L,
ch Nguyn Th Qunh A), Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn H ông
Nguyễn Văn T (ông Tr chết năm 2017, vợ Nguyễn Thị V 03 con
chị Nguyễn Th Ư, ch Nguyễn Thị Th3 và A Nguyễn Văn Đ).
Vợ chồng H thửa đất số 21, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.198m
2
tại
m SN, TH, huyn TN, tỉnh Nam Định (nay thôn SN, NC, tnh Ninh
nh). Ngun gốc đất do ông cha để li gia đình H mua thêm nhà cha
phân n ca Hp c xã VT, xã TH cũ ở phía Tây thửa đất s 21 o năm 1995,
nhưng mua không giy t gì. Thửa đất s 21 đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số L284795 ngày 05/11/1997 mang tên hộ ông Nguyễn Văn
Q (chồng H). Thửa đấttứ cận: Phía Bắc giáp đườngm; phía Nam giáp
đất ông Ch, ông S; phía Đông giáp đất ông Th, bà T; phía Tây giáp đường dong
xóm.
Năm 2015 gia đình H đã tách thửa đt s21 thành 03 thửa chia
cho các con (vợ chồng ông Nguyễn n L, bà Chu Thị Y sử dụng thửa số 538,
diện tích 162m
2
, chia cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Tr, bà Nguyễn Thị V s
dụng thửa số 539, diện tích 249m
2
); phần diện tích đất còn lại tại thửa số 21 do
H quản sử dụng. Khi làm thủ tục tách thửa năm 2015 thì không đo đạc
hiện trạng thửa đt mà do cán bộ đa chính xã làm thủ tục tách thửa theo hồ sơ.
Liền kề phía Đông thửa đất số 21 của bà H là thửa đt số 22 của gia đình
ông Lưu Văn Th Ngô Thị T. Nguồn gốc đất của ông Th, T do mua
lại của gia đình cụ L (đã chết). Tại phần đất giáp ranh hai nhà trước đây có dậu
tre hóp do gia đình H trồng. Năm 1988 vợ chồng H, ông Q xây dựng 01
căn nhà ba gian lợp ngói quay hướng Tây; khoảng năm 1993 xây công trình
phụ, bếp hai gian lợp ngói quay hướng Nam nối lin nhà cấp 4 ba gian phía
trong thổ, cách dậu tre hóp khoảng 60cm để làm rãnh thoát nước; phía ngoài
đến giáp đường xóm phía Bắc vẫn là dậu tre hóp.
Sau đó gia đình ông Th, T đã tự ý phá ng dậu tre hóp để xây nhà
ngang công trình phụ quay hướng Đông cách căn nhà 03 gian và công trình
phụ, bếp của gia đìnhH khoảng 0,6m; phía ngoài gia đình ông Th xây tường
rào bằng gạch bi dài khoảng hơn 20m nối liền tường công trình n ông Th đến
giáp đường xóm phía Bắc. Đến năm 2023 gia đình ông Th phá rỡ đoạn tường
rào gạch bi giáp ranh hai nhà san lấp cát, đá ln sang thửa đất số 21 của gia
đình bà H có chiều rộng 03m, dài khoảng 20m. Hai bên đã xảy ra mâu thuẫn về
4
ranh giới, mốc giới đất nên đã yêu cầu UBND hòa giải nhưng không thành.
Nay Trần Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xác định ranh giới
quyền sử dụng đất giữa hai nhà theo đúng quy định pháp luật.
Khi Công ty AK đo đạc đt ngày 08/8/2025 thì gia đình bà H đã chỉ mốc
giới, ranh giới thửa đất của H sử dụng từ trước đến nay. Việc diện tích đo
đạc thực tế của thửa đất số 21 tăng so với giấy chứng nhn do phần đt gia
đình H mua nhà chứa phân bón của Hợp tác VT từ khoảng năm 1995 có
kích thước rộng 03m, dài 35m, diện tích 105m
2
, nhưng chưa được đo đạc
cấp vào giấy chứng nhận năm 1997. Nay H đề nghị Tòa án xác định phần
diện tích 39m
2
đất giáp ranh theo sơ đồ đo vẽ của Công ty AK là thuộc thửa đất
số 21 của H yêu cầu xác định ranh giới đất giữa hai bên theo mép ngoài
phần diện tích đất trên. Yêu cầu gia đình ông Th, bà T phải di chuyển tài sản
trên diện tích đt trên.
Tại các văn bản trình y, biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải; bị
đơn ông Lưu Văn Th, bà Ngô Thị T và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
anh Lưu Văn N trình bày:
Ông Th, T đang sử dụng thửa đất số 22, diện tích 1.014m
2
tại thôn
SN, xã NC (tức xóm SN, xã TH, huyện TN, tỉnh Nam Định cũ). Nguồn gốc đất
do mua lại của ông Hữu T từ khoảng năm 1984 (ông T đã chết) đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất ngày 05/11/1997 mang tên hộ
ông Lưu Văn Th. Ông Th, T sử dụng đất liên tục, ổn định từ năm 1984
cho đến nay. Thửa đất có cạnh phía Đông giáp đất K, cạnh phía Bắc giáp
đường liên xóm, cạnh phía Tây giáp đất bà H, ông Q đất của ông bà Ch,
cạnh phía Nam giáp đất bà B (hiện vợ chồng con gái bà B là bà L, ông H đang
sử dụng).
Ranh giới giữa thửa đất số 22 của gia đình ông Th, T thửa đất số
21 của bà H, ông Q trước đây có bụi tre hóp thẳng hàng giữa đất hai nhà. Bà H
(bà Q) đã phá đoạn dậu tre hóp ở phía trong xây nhà cấp bốn ba gian quay lưng
vào đất nhà ông Th. Sau đó khoảng năm 1996 - 1997 gia đình ông Th phá đoạn
dậu tre hóp còn lại phía ngoài xây bếp, công trình phụ tường rào đến giáp
đường xóm phía Bắc. Năm 2023 ông Th, T xây nhà hai tầng mới đã phá
tường rào cũ giáp ranh hai nhà do đã xuống cấp. Khi phá tường rào tnguyên
vật liệu đổ ra tràn ra hai bên chứ gia đình ông Th không đưa đất đá lấp sang
vườn nhà bà H. Cùng năm 2023 thì hai gia đình xảy ra tranh chấp đt, đã hòa
giải thôn UBND TH (nay NC) nhưng hai bên vẫn không thống
nhất được ranh giới đất.
Nay H khởi kiện tranh chấp ranh gii đất, ông Th, T đề nghị Tòa
án giải quyết theo đúng pháp luật. Theo đồ đo vcủa Công ty AK ngày
08/8/2025 thì phần đất giáp ranh diện tích 39m
2
đang tranh chấp thuộc thửa
đất s22 của gia đình ông Th; yêu cầu Tòa án xác định ranh giới đất giữa hai
bên theo đúng mốc giới do gia đình ông Th, T đã nhận khi Công ty TNHH
5
AK đo đạc ngày 08/8/2025.
Trên phần diện tích 39m
2
đất tranh chấp một phần tường nhà cấp 4 ba
gian của H đang sử dụng thì không yêu cầu gia đình bà H tháo rỡ ngay
vẫn đồng ý để cho H sdụng đến khi nào H xây lại nhà mới thì phải trả
lại đt cho gia đình ông Th, ngoài ra còn một phần tường nhà bếp ng
trình phụ của H chỉ xây tạm thì phải rỡ để trả đất cho gia đình ông Th,
T.
Tại bản tự khai ngày 01/07/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Văn H trình y: Ông con đcủa ông Nguyễn Văn Q
Trần Thị H. Ông nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H.
Tại bản tự khai ngày 26/6/2025 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị M trình bày: con đẻ của ông Nguyễn Văn Q Trần
Thị H. Bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H lời trình bày của
ông Nguyễn Văn L.
Tại các bản tự khai người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị
Th2, anh Nguyễn Văn L, anh Nguyễn Văn Ng, anh Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn
Thị Quỳnh A, chị Nguyễn Thị U thống nhất trình bày: Th2, anh L, anh Ng,
anh Đ, chị A, chị U vợ, con của ông Nguyễn Văn H (ông H đã chết năm
2024), ông H con đẻ của ông Nguyễn Văn Q, Trần Thị H. Về việc tranh
chấp ranh giới, mốc giới đất giữa bà H và ông Th, bà T thì các bà, anh, chị đu
nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Trần Thị H và lời trình bày của ông
Nguyễn Văn L.
Tại các bản tự khai người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị V, chị Nguyễn Thị Ư, chị Nguyễn Thị Th3, anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
V, chị Ư, chị Th3, anh Đ vợ, con của ông Nguyễn Văn Tr, (ông Tr chết
ngày 17/4/2017), ông Tr con đẻ của ông Nguyễn Văn Q, Trần Thị H. Về
việc tranh chấp ranh giới, mốc giới đất giữa H ông Th, T tcác ,
chị, anh đều nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H lời trình bày
của ông Nguyễn Văn L.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/9/2025 người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Văn Th1 trình bày: Ông con đẻ của ông Nguyễn Văn
Q Trần Thị H. Ông không liên quan, không ý kiến về việc tranh
chấp đất đai giữa Trần Thị H ông Lưu Văn Th, Ngô Thị T; ông đề
nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Công văn số 35/NHNo-TH ngày 14/8/2025 của Ngân ng NN Việt
Nam - Chi nhánh TN, Nam Định trình bày:
Ngân hàng NN Việt Nam (viết tắt Agribank) - Chi nhánh TN, tỉnh
Nam Định nhận thế chấp Quyền sử dụng đt và tài sn gắn liền với đất tại
thửa đất số 22, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.014m
2
địa chỉ tại: Thôn SN,
NC, tnh Ninh Bình (xóm SN, TH, huyn TN, tỉnh Nam Định cũ) đã cấp giy
chng nhn quyền sử dụng đất số L284894 ngày 05/11/1997 đứng tên hộ ông
6
Lưu Văn Th đbảo lãnh vay vốn cho khách ng Phạm Thị ML vay số tiền
200.000.000đồng ngày 29/5/2024. Ngày 12/8/2025 khách ng Phạm Thị
Mỹ L đã tất toán xong cả gốc lãi của khoản vay trên; ngày 13/8/2025 ông
Lưu Văn Th đã đến Ngân hàng làm thủ tục rút giấy chng nhn quyền sử dụng
đất số L284894 ngày 05/11/1997. Hiện giấy chng nhn quyền sử dụng đất
mang tên hộ ông Lưu Văn Th không còn thế chấp tại Agribank - Chi nhánh
TN, Nam Định. Do đó Agribank không còn quyền nghiac vụ liên quan đến
vụ án. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/9/2025 người làm chứng bà Lâm Thị L
trình bày: Đất của gia đình giáp ranh với đất của gia đình H đất của
gia đình ông Th. Ranh giới đất giữa các gia đình trước đây được xác định bằng
lũy tre hóp giữa các thửa đất. Năm 2001 gia đình bà phá các lũy tre hóp để xây
tường rào, đã thống nhất về ranh giới, mốc giới đất trước khi xây, cho đến nay
gia đình bà và hai gia đình tn không có tranh chấp gì về ranh giới đất.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/9/2025 người làm chứng ông
Trường S trình bày: Ông được biết nguồn gốc thửa đất của ông Th, T đang
sử dụng trước đây là của cụ Vũ Thị (bố ông là ông Vũ Hữu T là cháu họ cụ L).
Từ khoảng năm 1982 đến 1986 ông đến ở cùng cụ L do đã già yếu để trông coi
nhà đất cho cụ L. Đất của cụ L giáp với đất của gia đình H (chồng ông
Q), khi đó giữa đất của cụ đất của gia đình H lũy tre hóp. Sau năm
1986 thì ông có nghe nói cụ L đã bán đất cho ông Lưun Th.
Tại bản án thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân
dân khu vực 9 - N Bình đã quyết định: Căn cứ Điều 175, Điều 176 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; các Điều 26, Điều 31, Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024;
Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 271 Điều 273 của
B luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Trần Thị H vviệc
tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với ông Lưu n Th bà Ngô Thị
T. Buộc Trần Thị H phải tháo rỡ mt phần công trình bếp, nhà tắm di
chuyển bồn nước Inox thuộc quyền sở hữu của H trên phần đất thuộc ranh
giới thửa đất số 22 của ông Lưu Văn Th, bà Ngô Thị T. Buộc ông Lưu Văn Th,
bà Ngô Thị T phải di chuyển cây Lúc lắc thuộc quyền sở hữu của ông Th, bà T
trên phần đất thuộc ranh giới thửa đất số 21 của Trần Thị H các đồng sở
hữu thừa kế của ông Nguyễn Văn Q.
2. Về án phí dân sự thẩm: Ông Lưu Văn Th, Ngô Thị T phải nộp
án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương
sự theo quy định của pháp luật.
7
Ngày 08/10/2025 nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đơn kháng cáo bản án
số 41/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình
với do: bản án thẩm không xem xét cân nhắc đầy đủ các tình tiết, chứng
cứ của vụ án như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, nguồn gốc hình thành của
cả 02 thửa đất tranh chấp đặc biệt là ranh giới đất, mốc giới sử dụng thực tế ổn
định lâu dài không tranh chấp giữa hai bên, điều tra xác minh không đầy đủ
việc đo đạc cấp GCNQSDĐ các biến động đất đso sánh đối chiếu lồng
ghép với kết quả đo đạc giải quyết tranh chấp đã không chấp nhn yêu cầu khởi
kiện của H, ban nh quyết định không khách quan, không công bằng đã
gây thiệt hại lớn đến đất đai tài sản của H. Đề nghị Tòa án sửa bản án
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo ca
nguyên đơn. Đề ngh Tòa cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo quy định
pháp luật, xác định đúng ranh giới đất giữa hai gia đình sử dụng.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Ninhnh tham gia phiên tòa phát
biu quan điểm v vic gii quyết v án như sau: Việc tuân theo pháp lut t
tng ca Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa ca những người
tham gia t tng trong quá trình gii quyết v án giai đoạn xét x phúc thm
đã thc hiện đầy đủ, đúng quy định ca B lut T tng dân s; V ni dung
v án: đề ngh Hội đồng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ
luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Không chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm số
41/2025/DS-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh nh;
Về án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơnTrần Thị H được miễn, không phải
nộp án phí theo quy định pháp luật
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát
biểu của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xpc
thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo ca nguyên đơn Trần Thị H đưc làm trong thi
hn luật định; hình thc, nội dung đơn kháng cáo đúng theo quy định ti Điu
272, Điu 273, Điều 276 ca B lut T tng dân s. Vì vy đơn kháng cáo ca
bà H hp l, chp nhn, nên đưc xét x theo trình t, th tc phúc thm.
[1.2] V phm vi xét x phúc thm: nguyên đơn bà Trần Thị H kháng cáo
toàn b bản ánthẩm. Do đó, căn cứ o Điều 293 ca B lut T tng dân s,
Hội đồng xét x phúc thm xem xét li bn án sơ thẩm theo nội dung đơn kháng
cáo của ngưi kháng cáo.
8
[1.3] V s tham gia t tng ca các đương sự ti phiên tòa phúc thm: B
đơn ông Lưu Văn Th, Ngô Th T, người đại din theo y quyn ca b đơn
anh Lưu Văn N những người quyn lợi, nghĩa v liên quan, ông Nguyn
n Th1, Nguyn Th M, ông Nguyễn Văn H, Trn Th Th2, ch Nguyn
Th U, anh Nguyễn Văn Ng, anh Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn L, ch
Nguyn Th Qunh A, Nguyn Th V, ch Nguyn Th Ư, ch Nguyn Th
Th3; ni làm chng bà Lâm Th L đã được Tòa án triu tp hp l đến ln th
hai mà vn vng mt. Do đó, căn cứ vào khon 3 Điu 296 ca Bộ luật Tố tụng
dân sự, Tòa án vn tiến nh phiên tòa phúc thm t x vng mt theo quy định
pháp lut.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ
sơ vụ án xác định:
* Thửa đt số 21, tờ bản đồ số 13 (nay tờ bản đồ số 94), diện tích
1.198m
2
tại m SN, TH, huyn TN, tỉnh Nam Đnh (nay thôn SN, NC,
tnh Ninh Bình) đã đưc UBND huyện TN, tỉnh Nam Định (cũ) cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số L284795 ngày 05/11/1997 mang tên hộ ông
Nguyễn Văn Q (là chồng Trần Thị H). Ngun gc tha đất do ông cha để
li cho v chng H, ông Q. Thửa đất tứ cận: Phía Bắc giáp đường xóm;
phía Nam giáp đất ông Ch (bà L), ông S; phía Đông giáp đất ông Th, bà T; phía
Tây giáp đường dong xóm. Năm 2015 gia đình H đã chia tách thửa đất số
21, diện tích 1.198m
2
thành 03 thửa mới cho các con thửa số 538 diện tích
162m
2
mang tên ông Nguyễn Văn L, Chu Thị Y; thửa số 539 diện tích
249m
2
mang
tên ông Nguyn Văn Tr, Nguyễn Thị V; còn lại diện tích
787m
2
tại thửa số 21 vẫn mang tên hộ ông Nguyễn Văn Q do Trần Thị H
đang quản , sử dụng.
* Thửa đất số 22, tờ bản đồ s13 (nay tờ bản đồ số 94), diện tích
1.014m
2
tại m SN, TH, huyn TN, tỉnh Nam Đnh (nay thôn SN, NC,
tnh Ninh Bình) đã đưc UBND huyện TN, tỉnh Nam Định (cũ) cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đt số L284894 ngày 05/11/1997 mang tên hộ ông Lưu
Văn Th. Nguồn gốc thửa đất do ông Th, T nhận chuyển nhượng của cụ
Vũ Thị (do ông Vũ Hữu T cháu cụ L đứng ra chuyển nhượng hộ) từ khoảng
năm 1984; gia đình ông Th, T đã sử dụng thửa đất liên tục từ khi nhận
chuyển nhượng cho đến nay, không giao dịch chuyển quyền sử dụng đất cho ai.
Thửa đất các tứ cận: Phía Đông giáp đất K; phía Bắc giáp đường liên
xóm; phía Tây giáp đất H, ông Q và đất của ông Ch; phía Nam giáp đất
bà B (hiện bà L, ông H đang sử dụng).
[2.2] Xét về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:
Về ranh giới quá trình sử dụng đất: Theo các tài liệu, chứng cứ
trong hồ sơ vụ án thì thửa đất số 21 của gia đình bà H và thửa đất số 22 của gia
đình ông Th liền kề nhau, trong đó cạnh phía Đông của thửa đất số 21 giáp một
9
phần cạnh phía Tây của thửa đất số 22. Sau khi gia đình H tách thửa đất số
21 thành 03 thửa mới (cho các con) vào năm 2015, phần diện tích còn lại của
thửa số 21 có ranh giới tiếp giáp với thửa đất số 22 vẫn không thay đổi.
n cứ lời khai của các đương sự, người làm chứng thì trước đây tại vị
trí giáp ranh giữa hai thửa đất số 21 thửa số 22 ng dậu tre hóp để ngăn
cách nhưng đến nay không còn. Năm 1988 gia đình H xây căn nhà ba gian
lợp ngói (đã sửa chữa lợp thêm mái tôn) quay hướng Tây; năm 1993 xây thêm
công trình phụ, bếp hai gian lp ngói quay hướng Nam nối tiếp nhà ba gian
phía Đông Nam thửa đất số 21, các công trình này bà H vẫn đang sử dụng.
Khoảng năm 1996 -1997 gia đình ông Th xây bếp, công trình phụ quay hướng
Đông gần sát vi các công trình trên của gia đình H phá rỡ dậu tre hóp
giữa hai nhà để xây tường rào dài khoảng hơn 20m sát công trình nhà ông Th
đến giáp đường xóm phía Bắc. Đến năm 2023 ông Th xây nhà mới đã phá rỡ
đoạn tường rào giáp ranh hai nhà và tđó hai bên xảy ra tranh chấp về ranh
giới đất.
Theo kết quả đo đạc ngày 08/8/2025, thì hiện trạng phần đất giáp ranh
tranh chấp diện tích 39m
2
, nguyên nhân tranh chấp do nguyên đơn
bị đơn tự xác định mốc giới đất giáp ranh hai nhà khác nhau.
Căn cứ kết quả đo đạc hiện trạng tổng diện tích thực tế của 03 thửa đất
số 21, số 538, số 539 (có nguồn gốc được tách ra từ thửa đất số 21 đã cấp giấy
chứng nhận ngày 05/11/1997 của hộ ông Nguyễn Văn Q) 1.288m
2
, (tăng
90m
2
) so với giấy chứng nhận đã cấp cho các hộ ông Q (bà H), ông L (bà Y),
ông Tr (bà V).
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn khai do diện tích đất tăng do gia đình H đã mua nhà
chứa phân của Hợp tác xã VT giáp đường xóm phía Tây chiều rộng 03m,
chiều dài hết thổ là 35m (diện tích105m
2
) từ khoảng năm 1995, nhưng chưa
được nhà ớc đo đạc cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, ngoài lời khai của
mình tnguyên đơn không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ nào khác để
chứng minh, không có giấy tờ mua bán. Mặt khác, ti bản đồ địa chính thửa đất
được lập qua các thời kỳ đều thể hiện cạnh phía Tây thửa đất số 21 giáp đường
xóm. Do đó, không có căn cứ chấp nhận lời khai trên của phía nguyên đơn.
Diện tích đo đạc thực tế ti thửa đất số 22 của hộ ông Th là 995m
2
, (giảm
19m
2
) so với giấy chứng nhận đã cấp cho ông Th 1.014m
2
. Phn đất giáp
ranh giữa hai thửa đất số 21 thửa số 22 do các bên txác định mốc giới,
ranh giới đất tranh chấp khi đo đạc 39m
2
. Trên phần đất tranh chấp này
các công trình xây dựng, cây cối của hai bên gồm : 01 phần tường mái
nhà cấp 4 ba gian lợp ngói (đã lợp thêm mái tôn) quay hướng Tây, 01 phần
tường nhà bếp, nhà vệ sinh + nhà tắm, téc nước Inox của gia đình Trần Thị
H; 01 phần mái ngói nhà bếp quay hướng Đông và 01 cây Lúc lắc của gia đình
ông Th, bà T trồng.
10
Xét thấy, hồ địa chính các thửa đất cũng không tài liệu nào tả
các điểm mốc giới cố định làm căn cứ xác định ranh giới đất, nhưng các công
trình xây dựng trên của gia đình H được xây dựng từ năm 1988 năm
1993 đến nay cũng đã tồn tại trên 30 năm; các ng trình xây dựng của gia
đình ông Th tại vị trí giáp ranh cũng đã tồn tại khoảng gần 30 năm nay, trước
thời điểm các hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
05/11/1997 nhưng đến năm 2024 phá bức tường rào, các bên mới xảy ra tranh
chấp về ranh giới đất. Do đó, việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất căn cứ
vào hồ địa chính, xem xét đến vị trí các công trình xây dựng kiên cố do các
bên sử dụng làm mốc giới ngăn cách trong quá trình sử dụng đất.
Đối chiếu giữa đồ đo đạc hiện trạng của Công ty TNHH AK ngày
08/8/2025 với bản đồ địa chính xem xét vị trí các công trình xây dựng
kiên cố đã tồn tại trên 30 năm tại phần đất giáp ranh sở khẳng định ranh
giới tiếp giáp giữa thửa đất số 21 của gia đình H thửa đất số 22 của gia
đình ông Th là đường thẳng dài 34,85m (được giới hạn bởi các điểm từ A - 13)
theo chiều Bắc - Nam nằm khoảng giữa các công trình xây dựng kiên cố của
hai bên tại phần diện tích 39m
2
đất giáp ranh đang tranh chấp, trong đó
20m
2
đất trong ranh giới của thửa đất số 21 19m
2
đất trong ranh giới của
thửa đất số 22 là phù hp quy định pháp luật.
Nguyên đơn bđơn đều yêu cầu công nhận phần diện tích 39m
2
đất
giáp ranh thuc quyền sdụng của mình không sở, chỉ căn cứ
chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo ranh giới giữa
hai thửa đất tranh chấp được xác định thì một phần tường bếp, nhà vệ sinh,
bồn nước Inox của gia đình H 01 cây Lúc lắc của gia đình ông Th, bà T
lấn sang ranh giới đất của nhau. Xét thấy, các công trình trên đã xuống cấp
không còn giá trị hoặc thể di chuyển được, nên cần buộc các bên phải tự
tháo rỡ hoặc di chuyển tài sản đtrả đất cho nhau theo đúng rA giới đất đã
được xác định.
Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chng cứ trên, Tán cấp thẩm chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Trần Thị H về việc trA chấp rA giới
quyền sdụng đất đối với ông Lưu Văn Th Ngô Thị T. Buộc H phải
tháo rỡ một phần công trình bếp, nhà tắm di chuyển bồn nước Inox thuộc
quyền sở hữu ca bà H trên phần đất thuc ranh giới thửa đất số 22 của ông Th,
T. Buộc ông Th, bà T phải di chuyển cây Lúc lắc thuộc quyền sở hữu của
ông Th, T trên phần đất thuộc ranh giới thửa đất số 21 của gia đình H
các đồng sở hữu là các thừa kế của ông Nguyễn Văn Q hoàn toàn có căn cứ,
đúng quy định tại Điều 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Tại cấp phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không
cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo
của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không căn cứ
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị H về việc đề nghị
11
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 41/2025/DS-
ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
[2.4] Về án phí dân sphúc thẩm: Do kháng cáo của bà Trần Thị H
không được chấp nhận, nên Trần Thị H phải nộp án phí n sự phúc thẩm
theo quy định của pháp luật; Tuy nhiên bà Trần Thị H người cao tuổi, thuộc
trường hợp được miễn án phí đã Đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét
xử phúc thẩm miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Trần Thị H.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Ttụng dân
sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản Y và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
2. V án phí dân s phúc thm: Bà Trần Thị H được miễn toàn bộ số tin
tm ng án phí phúc thm.
3. Bản án dân sự phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án,
(ngày 03/02/2026).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi
nh án dân sự, quyền thoả thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi nh án,
tự nguyện thi nh án hoặc bị cưỡng chế thi nh án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi nh án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi nh án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- TAND khu vực 9 - Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Phòng GĐKT, TT &THA;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Tòa Dân sự;
- Lưu HCTP.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trần Thị Sâm
Tải về
Bản án số 36/2026/DS-PT Bản án số 36/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 36/2026/DS-PT Bản án số 36/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất