Bản án số 33/2021/DS-PT ngày 04/02/2021 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 33/2021/DS-PT ngày 04/02/2021 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Dương
Số hiệu: 33/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/02/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC P- M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bn án s: 33/2021/DS-PT
Ngày 04-02-2021
V/v tranh chp hợp đồng dân s
đặt cc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TNH BÌNH ƠNG
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa:
Các Thm phán:
Ông Nguyễn Trung Dũng
Hunh Th Thanh Tuyn
Trn Th Thanh Trúc.
- Thư phiên tòa: Nguyn Th Hng Xuân - Thư Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương.
- Đại din Vin Kim sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên
tòa: Bà Đặng Hà Nhung Kim sát viên.
Trong các ngày 21, 28 tháng 01 ngày 04 tháng 02 năm 2021, ti tr s
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thm công khai v án dân s th
s 325/2020/TLPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2020 v vic Tranh chp hp
đồng dân s đặt cc”.
Do Bản án dân ssơ thẩm số 41/2020/DS-ST ngày 01/9/2020 của Tòa án
nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét x phúc thm s 334/2020/QĐ-PT ngày
30 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Xuân P, sinh năm 1980; hộ khẩu thường trú: Số
A, đường C, tổ D, khu phố B, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đỗ Thành H, sinh
năm 1996; địa chỉ: Tổ B, khu phố K, phường T, thị T, tỉnh Bình Dương (Văn
bản ủy quyền ngày 07/12/2020).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn
Doãn H Luật của Công ty Luật Hợp danh N thuộc đoàn Luật tỉnh Bình
Dương.
2
- Bị đơn: Kim M, sinh năm 1958; hộ khẩu thường trú: Ấp C, L,
huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1958;
địa chỉ: p C, T, huyện C, Thành phố H (Văn bản ủy quyền ngày
12/11/2020).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh
Bình Dương; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo quy định của pháp luật: Ông Nguyễn Phương L, chức
vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1977; hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp L,
xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
2. Ông Cao Tấn T, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã L, huyện
B, tỉnh Bình Dương.
3. Ông Mai Diệp K, sinh năm 1976; hộ khẩu thường trú: Ấp C, L,
huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Trn Xuân P b đơn Kim
M.
NI DUNG V ÁN:
- Nguyên đơn trình bày: Ngày 08/4/2018, bà Kim M đồng ý chuyển
nhượng cho ông Trần Xuân P một thửa đất tổng diện tích 11.270m
2
, đất
trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp C, L,
huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H00886/QĐ-UB do y ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày
05/02/2007 cho bà Võ Kim M với giá chuyển nhượng 5.500.000.000 đồng (năm
tỷ năm trăm triệu đồng). M đã cam kết diện tích 11.270m
2
thể hiện trong
giấy chứng nhận quyền sdụng đất nêu trên đúng với thực tế. Cùng ngày
M đã nhận của ông P số tiền cọc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) theo
“Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018”. Số tiền 5.000.000.000 đồng (năm t
đồng) còn lại hai bên thống nhất vào ngày 08/6/2018, bên mua là ông P có trách
nhiệm thanh toán một lần sau khi M đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng tại
văn phòng công chứng. Trong thời gian đặt cọc để đảm bảo quyền lợi của mình
thì ông P đến thửa đất kiểm tra đo đạc phát hiện diện tích không đúng với
thực tế chuyển nhượng mà chỉ còn khoảng 8.000m
2
. Sau đó, ông P gặp bà M
trao đổi sự việc yêu cầu M phải khấu trừ số tiền đã thỏa thuận chuyển
nhượng do diện tích giảm nhưng phía bà M không đồng ý. Tại thời điểm chuyển
nhượng thì trên đất tranh chấp 300 cây cao su, khi ông P đặt cọc xong thì
M đồng ý cho ông P thanh lý cây cao su với stiền bán được 72.000.000 đồng,
ông P giao lại cho M 30.000.000 đồng. vậy, ông P khởi kiện yêu cầu
3
M phải trả lại số tiền đặt cọc 500.000.000 đồng tiền 500.000.000 đồng
tiền phạt cọc do vi phạm hợp đồng.
- Bị đơn trình bày: Ngày 08/4/2018, bà Võ Kim M đồng ý chuyển nhượng
cho ông Trần Xuân P diện tích đất 11.273m
2
thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số
39 tọa lạc tại ấp C, L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số H00886/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày
05/02/2007 cho Kim M với giá trị 5.500.000.000 đồng (năm tnăm trăm
triệu đồng). Hai bên lập “Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018” ông P
đã đặt cọc cho bà M số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), số tiền còn
lại đến ngày 08/6/2018 sẽ thanh toán 01 lần khi ông P hoàn tất thủ tục chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tại văn phòng công chứng. Phần đất tranh chấp
nguồn gốc do vợ chồng ông N, M khai phá năm 1986 đến năm 2000 thì
tiến hành trồng 450 cây cao su cho đến nay. Khi hai bên thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nói trên thì bà M người trực tiếp chỉ ranh đất, tứ
cận cùng tài sản trên đất 450 cây cao su cho ông P biết rõ. Ông P không ý
kiến cũng không yêu cầu quan chuyên môn đo đạc lại phần đất trên
đồng ý tự nguyện giao kết “Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018”. Sau khi lập
“Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018” thì bà M đã giao bản chính giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cùng giấy tờ khác như giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ
khẩu (photo) cho ông P giữ để làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Tuy nhiên
khoảng 05 đến 07 ngày sau tông P giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nói trên cho M. Đến ngày 08/6/2018, ngày thanh toán số tiền còn lại
5.000.000.000 đồng (năm tđồng) bà M điện thoại cho ông P yêu cầu thực
hiện đúng cam kết theo “Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018” nhưng ông P
không giao số tiền còn lại và cho rằng chờ khi nào ông P làm thủ tục tách phần
đất trên thành nhiều thửa đất với mục đích chuyển nhượng cho người khác mới
lấy tiền thanh toán cho M 5.000.000.000 đồng. M đã nhiều lần yêu cầu
ông P tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng như đã thỏa thuận nhưng phía
ông P cố tình không thực hiện mà không nói rõ lý do cũng như không thông báo
cho bà M biết. Tại thời điểm bà M đồng ý chuyển nhượng phần đất trên cho ông
P thì tổng số lượng cây cao su đang thu hoạch là 450 cây trồng năm 2000, trung
bình một ngày cạo khai thác mthì ngày tiếp theo phải ngưng thu hoạch. Trước
yêu cầu khởi kiện của ông P thì M không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
ông P vì 04 lý do sau:
1. Ông P không thiện chí tiếp tục việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
trong khi đó tôi đã bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H00886/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/02/2007 cho
Kim M (bản chính); giấy chứng minh nhân dân sổ hộ khẩu (photo chứng
thực) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất là 450 cây cao su trồng năm 2000 cho
ông P quản lý, khai thác, sử dụng. Trên thực tế phía ông P đã thanh toàn bộ
450 cây su để bán cho người khác.
4
2. Theo thỏa thuận tại chứng cứ: “Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018”
thì bên nhận chuyển nhượng ông Trần Xuân P người trực tiếp làm thủ tục
tách quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Quá trình giao dịch chuyển nhượng phần đất trên thì bản thân có nói
cho ông P biết diện tích đất được Ủy ban nhân dân huyện D cấp theo bản đồ địa
chính chính quy, không đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch về diện tích này.
4. Ông P đã vi phạm cam kết thỏa thuận thể hiện tại chứng cứ “Giấy biên
nhận đặt cọc ngày 08/4/2018” ngày 08/6/2018 không thanh toán số tiền còn
lại 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng).
5. Việc không hoàn thành thủ tục tách quyền sử dụng đất cho bên nhận
chuyển nhượng xét đây là lỗi của ông P vì ông P không tiếp tục việc mua bán, từ
bỏ quyền, lợi ích của mình. Bản thân tôi vẫn đồng ý tiếp tục việc chuyển nhượng
theo thỏa thuận và không có lỗi gì.
Bên cạnh đó, ngày 04/11/2019, bà M làm đơn phản tố yêu cầu ông P phải
bồi thường giá trị của 450 cây cao su bị cưa thanh trị giá 225.000.000 đồng;
buộc ông P phải bồi thường cho M thu nhập bị mất do việc cưa thanh cây
cao su gây ra tạm tính từ ngày 08/4/2018 đến ngày xét xử thẩm
300.000.000 đồng. Tổng số tiền M yêu cầu ông P phải thanh toán
525.000.000 đồng.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Ủy ban nhân dân huyện D) thể
hiện: Tại Công văn số 1200/UBND-BTCD ngày 09/7/2020 về việc trả lời Công
văn số 95/TA-DS ngày 17/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện D như sau:
I. Xác định quyền sử dụng đất việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
1. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00886/QĐ-
UB do Ủy ban nhân dân huyện Dầu Tiếng cấp ngày 05/02/2007 cho Kim
M được cấp theo trình tự, luật định tại Luật Đất đai 2003 Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
- Khi cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất hình thể diện tích được
trích đo theo bản đồ địa chính chính quy đo đạc, chỉnh lý. Hồ lưu tại Chi
nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D không thể hiện việc ký liên ranh.
- Nguồn gốc sử dụng đất: Thừa kế quyền sử dụng đất số 00532 cấp ngày
10/12/2002.
2. Diện tích 11.273m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ
H00886/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/02/2007 cho
Kim M so với diện tích 9.139,6m
2
(trong đó diện tích thuộc HL suối: 310,5m
2
;
diện tích sử dụng còn lại: 8.829,1m
2
) thể hiện tại Mảnh trích lục địa chính có đo
đạc chỉnh số 668-2019 ngày 19/10/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện D có sự thay đổi diện tích giảm 2.135m
2
.
5
- Nguyên nhân: Do trước đây quyền sử dụng đất được cấp theo bản đồ địa
chính chính quy, không có qua đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch về diện tích.
II. Tham gia tố tụng:
Ủy ban nhân dân huyện D không trực tiếp tham gia tố tụng, cũng không
ủy quyền cho người đại diện tham gia hòa giải tham gia phiên tòa xét xử vụ
án dân scho đến khi vụ án kết thúc bằng một bản án hoặc quyết định hiệu
lực pháp luật trong vụ án “Tranh chấp hơp đồng đặt cọc”, giữa
- Nguyên đơn: Ông Trần Xuân P
- Bị đơn: Bà Võ Kim M.
- Người làm chứng (ông Cao Tấn T) trình bày: Tại bên bản làm việc ngày
10/12/2019 thể hiện: Giữa ông Cao Tấn T ông Trần Xuân P không mối
quan hệ gì. Ông T làm nghề mua cây thanh lý, vào thời điểm khoảng thời gian
tháng 6 năm 2018 thì gặp ông Đ (nhân thân lai lịch của ông Đ thì phía ông T
không biết rõ, ông Đ độ tuổi khoảng 46 đến 47 tuổi nhà ở gần chợ B) giới
thiệu bán khoảng 400 500 cây cao su thanh lý. Sau khi xem xét số lượng
chất lượng cây cao su thì hai bên thống nhất với giá trị mua bán 72.000.000
đồng (bảy mươi hai triệu đồng). Địa điểm cây cao su thanh lý tọa lạc ấp C, xã L,
huyện D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Thời gian thực hiện công việc hoàn thành
khoảng 04 đến 05 ngày làm việc hai bên đã thanh toán xong số tiền
72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng) và không còn giao dịch gì khác.
- Người làm chứng (ông Nguyễn Hữu T) trình bày: Tại Biên bản làm việc
ngày 14/5/2020, ông T mối quan hệ anh vcủa ông Trần Xuân P. Ngày
08/4/2018, phía ông P đặt tiền cọc cho bà Kim M stiền 500.000.000
đồng (năm trăm triệu đồng). Văn bản này được lập khoảng thời gian 21 giờ ngày
08/4/2018 tại nhà M, toàn bộ chữ viết là do ông P lập, sau khi thống nhất nội
dung phía M đồng ý chuyển nhượng cho ông P diện tích đất 11.273m
2
thuộc
thửa đất số 402, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp C, L, huyện D, tỉnh Bình
Dương và các bên tự nguyện tên, lăn tay xác nhận. Bản thân ông Thức cũng
tên, lăn tay với cách người làm chứng. Việc ông P bà M xem xét
hiện trạng đất hay không thì ông T không rõ. Tuy nhiên sau đó, ông P liên hệ
Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai để làm thủ tục đo đạc, sau khi đo đạc
xong thì phía ông P phát hiện ra diện tích đất giảm so với diện tích theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (khoảng hơn 9.000m
2
) tông P gặp M để
thỏa thuận lại giá trị nhưng không thành nên dẫn đến tranh chấp. Hai bên M
ông P thỏa thuận đồng ý với ông P thanh toàn bộ cây cao su trên phần
đất chuyển nhượng với mục đích là san lấp mặt bằng.
- Người m chứng (ông Mai Diệp K) trình bày: Tại Biên bản làm việc
ngày 11/5/2020, giữa ông K và Kim M hoàn toàn không mối quan hệ
gì. Năm 2017, phía M có thuê ông K cạo m cao su trên tổng diện tích
11.273m
2
thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện D,
tỉnh Bình Dương. Ông K xác định số cây cao su khai thác mủ là 450 cây, mỗi
một ngày thu hoạch lượng mgiá trị từ 700.000 đồng đến 800.000 đồng, với số
6
tiền công mỗi ngày cạo là 200.000 đồng. Sau khi khai thác mxong, phía ông K
chở đi bán cho T địa chỉ ấp C, C, huyện B, tỉnh Bình Dương giao lại
tiền cho bà M. Đến khi ông Trần Xuân P nhận chuyển nhượng diện tích đất trên
của M thì ông K không cạo m cho M nữa. Trước khi M chuyển
nhượng cho ông P phần đất này thì ông K thỏa thuận với M cho ông K
cạo toàn bộ mủ cao su (cạo thanh lý) 450 cây trong thời gian 01 năm thì ông K
sẽ thanh toán cho bà M số tiền 41.000.000 đồng nhưng khi ông K đang tiến hành
cạo mủ cao su thì bà M yêu cầu ông K không thực hiện nữa và trả lại số tiền trên
cho ông K với mục đích bán phần đất trên cho ông P.
Ti Bn án dân s thẩm s 41/2020/DS-ST ngày 01/9/2020 ca Tòa án
nhân dân huyn D, tỉnh Bình Dương tuyên x:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân P về việc yêu cầu
bà Võ Kim M trả lại số tiền đặt cọc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) ngày
08/4/2018.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân P về việc yêu
cầu phạt cọc số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) đối với bà Võ Kim
M.
3. Hủy bỏ “Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018” giữa ông Trần
Xuân P và Kim M liên quan đến diện tích đất 11.273m
2
thuộc thửa đất số
402, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số H00886/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D
cấp ngày 05/02/2007 cho bà Võ Kim M.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố ngày 04/11/2019 của bà Kim M
về việc yêu cầu ông Trần Xuân P bồi thường thiệt hại phát sinh số tiền
222.107.040 đồng (hai trăm hai mươi hai triệu, một trăm lẽ bảy ngàn, không
trăm bốn mươi đồng).
5. Đình chỉ xét xử thẩm stiền 302.892.960 đồng (ba trăm lẽ hai triệu,
tám trăm chín ơi hai ngàn, chín trăm sáu mươi đồng) của yêu cầu phản tố bị
đơn bà Võ Kim M đối với nguyên đơn ông Trần Xuân P.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng khác, án phí và
quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 11/9/2020, nguyên đơn ông Trần Xuân P đơn kháng cáo toàn bộ
bản án thẩm. Ngày 14/9/2020, Kim M kháng cáo mt phn bản án
thm vi ni dung sa mt phn bản án thẩm theo hướng chp nhn yêu cu
phn t ca b đơn.
Ti phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vn gi nguyên yêu cu khi kin
yêu cu kháng cáo; b đơn vn gi nguyên yêu cu phn t yêu cu kháng
cáo. Các đương sự không tha thuận được vi nhau v vic gii quyết v án.
Ý kiến ca người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất về việc ký kết hợp đồng đặt cọc theo Giấy
7
biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018 với stiền 5.500.000.000 đồng (năm tỷ năm
trăm triệu đồng) nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn số tiền 500.000.000 đồng
(năm trăm triệu đồng) còn một số nội dung của Giấy biên nhận đặt cọc ngày
08/4/2018 thì không phù hợp do hợp đồng làm theo mẫu. Đối với yêu cầu phạt
cọc của nguyên đơn thì căn cứ. Bởi lẽ M không giao đúng diện tích
chuyển nhượng như Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018, không thực hiện
làm sổ đỏ và không tiến hành đo đạc li. Riêng s cây cao su trên đất thì ngun
đơn ông M nhn cao su theo s ch ranh ca b đơn nhưng không đếm y,
theo thc tế với các vườn cao su khác thì khong 350 cây. Xét vic hai bên
không thc hin do li b đơn nên yêu cu khi kin của nguyên đơn là phù hp,
yêu cu kháng cáo ca b đơn không căn cứ nên đề ngh Hội đồng xét x
sa bản án thẩm, chp nhn yêu cu kháng cáo của nguyên đơn không
chp nhn yêu cu kháng cáo ca b đơn.
Đại din Vin Kim sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm
v vic gii quyết v án:
- V t tng: Những người tiến hành t tng tham gia t tụng đã thực
hiện đúng quy định ca B lut T tng dân s ti Tòa án cp phúc thm.
- Về nội dung: Ngày 08/4/2018 nguyên đơn, bị đơn hợp đồng đặt
cọc, thỏa thuận việc giao nhận tiền cọc giữa hai bên. Tại điều khoản thanh toán
thể hiện: Vào ngày 08/6/2018, “bên mua là ông P có trách nhiệm thanh toán một
lần sau khi M đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng hoặc ủy quyền giao
toàn bộ giấy chứng nhận QSD đất….”. Như vậy theo hợp đồng đặt cọc thì M
phải nghĩa vụ thực hiện thủ tục để tiến tới kết hợp đồng chuyển nhượng.
Tuy nhiên, hai bên đều xác định sau khi ký hợp đồng đặt cọc thì M giao giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ cho ông P để làm thủ tục đo đạc nhưng
05 ngày sau thì ông P trả lại giấy tờ cho bà M thì bà M cũng không thực hiện thủ
tục để tiến tới thực hiện việc hợp đồng chuyển nhượng. Các bên thay đổi
về chủ thể thực hiện thủ tục chuyển nhượng nhưng không có thỏa thuận ràng.
Tòa án cấp thẩm chưa đánh giá toàn bchứng cứ thỏa thuận của các bên
trong hợp đồng lại nhận định ông P cố tình không thực hiện thủ tục đo đạc để ký
hợp đồng chuyển nhượng lỗi của ông P và tuyên buộc ông P mất tiền cọc
chưa phù hợp. Bên cạnh đó, diện tích đất sau khi được đo đạc thực tế thì giảm
2.133,4m
2
thay đổi rất nhiều theo diện tích các bên thỏa thuận ban đầu
trong hợp đồng đặt cọc, nguyên đơn bị đơn đều không biết như vậy thực tế
đối tượng các bên thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc sự thay đổi rất lớn. Đến
nay, các bên không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa, do việc thỏa thuận
nghĩa vụ trong hợp đồng không rõ ràng, diện tích đất thực tế giảm đi rất nhiều so
với thỏa thuận của các bên, Tòa án cấp sơ thẩm hủy hợp đồng đặt cọc là phù hợp
nhưng như phân tích trên cần buộc bị đơn trả lại tiền cọc cho nguyên đơn mới
phù hợp.
Đối với số tiền bồi thường thiệt hại cây cao su trên đất cho thấy: Bị đơn
thừa nhận sau khi hợp đồng đặt cọc thì đồng ý cho nguyên đơn thanh 450
cây cao su trên đất để san lấp mặt bằng theo ý của nguyên đơn. Tuy nhiên, do
8
hợp đồng chuyển nhượng của các bên không tiến tới thực hiện được nên thực tế
giá trị cây cao su trên đất vẫn tài sản của bị đơn. Bị đơn đồng ý cho nguyên
đơn thanh lý cao su và nguyên đơn đã thanh lý, nguyên đơn không khai thác m
cao su để hưởng lợi. Việc Tòa án cấp thẩm buộc nguyên đơn phải thanh toán
giá trị sản lượng mcao su cho bị đơn không phù hợp. Chỉ căn cứ buộc
nguyên đơn thanh toán giá trị gỗ cao su nguyên đơn đã thanh theo Công
văn số 423/CSDT- KT ngày 20/4/2020: 111.449.500 đồng.
Từ căn cứ trên sở chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn,
một phần kháng cáo của bị đơn đề nghị Hội đồng xét x sửa án sơ thẩm số
41/2020/DS-ST ngày 01/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình
Dương.
Sau khi nghiên cu các tài liu, chng c có trong h sơ v án và đã được
thm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qu tranh tng ti phiên tòa, li trình bày
của đương sự và người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến Kim sát viên.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Những người làm chứng ông Nguyễn Hữu T, ông Cao Tấn T ông Mai
Diệp K đơn đ ngh gii quyết vng mt nên Hội đng xét x tiến hành xét
x vng mt những đương sự trên theo quy định tại Điều 296 ca B lut T
tng dân s năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại din hp pháp ca b đơn rút lại mt
phn yêu cu khi kiện đối vi s tin bồi thường thit hại 302.892.960 đồng
(ba trăm lẽ hai triệu tám trăm chín mươi hai ngàn chín trăm sáu mươi đng) nên
Hội đồng xét x căn cứ khoản 2 Điều 244 B lut T tng dân s năm 2015
đình chỉ yêu cu phn t này ca b đơn Kim M đi với nguyên đơn ông
Trn Xuân P.
[2] Về nội dung vụ án: Ngày 08/4/2018, Kim M chuyển nhượng
cho ông Trần Xuân P một thửa đất có tổng diện tích 11.270m
2
, đất trồng cây lâu
năm thuộc thửa đất số 402, tờ bản đồ số 39 tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện D, tỉnh
Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số H00886/QĐ-UB do
Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 05/02/2007 cho
Kim M với giá chuyển nhượng 5.500.000.000 đồng (năm tỷ năm trăm triệu
đồng). Cùng ngày M đã nhận của ông Phát số tiền cọc 500.000.000 đồng
(năm trăm triệu đồng) theo “Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018”, số tiền
5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) còn lại hai bên thống nhất vào ngày
08/6/2018, bên mua ông P trách nhiệm thanh toán một lần sau khi đã hoàn
tất thủ tục chuyển nhượng tại văn phòng công chứng. Sau khi đặt cọc ông P
đến thửa đất kiểm tra đo đạc phát hiện diện tích không đúng với thực tế chuyển
nhượng chỉ còn khoảng 8.000m
2
nên ông P gặp M trao đổi sự việc
yêu cầu M phải khấu trừ số tiền đã thỏa thuận chuyển nhượng do diện tích
giảm nhưng phía M không đồng ý. Do đó, nguyên đơn ông P khởi kiện yêu
cầu Kim M phải trả lại stiền cọc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu
9
đồng) theo “Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018” phạt cọc 500.000.000
đồng do vi phạm hợp đồng.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày
05/11/2019, bị đơn đơn yêu cầu phản tố với nội dung buộc nguyên đơn phải
bồi thường giá trị của 450 cây cao su bị cưa thanh với trị giá 225.000.000
đồng; buộc ông P phải bồi thường cho M thu nhập bị mất do việc cưa thanh
cây cao su gây ra tạm tính từ ngày 08/4/2018 đến ngày xét xử thẩm là
300.000.000 đồng. Tổng số tiền M yêu cầu ông P phải thanh toán
525.000.000 đồng.
[3] Xét ý kiến của hai bên đương sự, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ
có trong hồ sơ, thấy rằng:
[3.1] Căn cứ Giấy biên nhận đặt cọc ngày 08/4/2018 phần cuối chữ
, dấu lăn tay của bà Kim M (bên A), ông Trần Xuân P (bên B) người
làm chứng Nguyễn Hữu T được các đương s thống nhất cho thấy các bên
đương sự đều thng nht về việc chuyển nhượng đất, giá cả, thời gian hợp
đồng cũng như việc bà M đã nhận của ông P số tiền cọc 500.000.000 đồng (năm
trăm triệu đồng). Riêng số tiền 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) còn lại hai
bên thống nhất vào ngày 08/6/2018, bên mua là ông P có trách nhiệm thanh toán
một lần sau khi đã hoàn tất thủ tục chuyển nhượng tại văn phòng công chứng
nên các tình tiết được phân tích trên thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng
minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tuy nhiên, ngày 08/6/2018 thì các bên không ra phòng công chứng
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất như hai bên đã . Căn cứ Điều
117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng trên bị vô hiệu. Do giao dịch dân
sự hiệu nên các bên phải hoàn trả cho nhau những đã nhận, bên nào lỗi
thì phải bồi thường theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3.2] Về xác định lỗi của các bên làm cho giao dịch dân sự hiệu: Tại
giấy biên nhận đặt cọc thể hiện: “…Điều kiện thanh toán lần 1 khi bên A
hoàn thành việc Hợp đồng chuyển nhượng hoặc ủy quyền cho bên B
giao giấy chứng nhận QSDĐ, hộ khẩu photo, CMND photo của chủ đất các
giấy tờ liên quan khác cho bên B không đồi hỏi bất kỳ một khoản chi phí
nào…”. Theo đó, M phải có nghĩa vụ thực hiện thủ tục để tiến tới kết hợp
đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, hai bên đều xác định sau ký hợp đồng thì bà M
giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giấy tờ cho ông P để làm thủ tục đo
đạc nhưng 05 ngày sau thì ông P trả lại giấy tờ cho M thì M cũng không
thực hiện thủ tục để tiến tới thực hiện việc hợp đồng chuyển nhượng. Do các
bên thay đổi về chủ thể thực hiện thủ tục chuyển nhượng nhưng không
thỏa thuận ràng, cụ thể: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng số vào sổ
H0086QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 05/02/2007 cho
Kim M với diện tích 43.310m
2
; trong đó LNC: 40.860,1m
2
; HLLG: 2.450m
2
.
Nguồn gốc do nhận thừa kế năm 2002. Vào ngày 24/02/2011, M đã chuyển
nhượng một phần diện tích cho Đoàn Thị Ngọc S với diện tích 32.037m
2
10
(LNC: 30.412m
2
; HLLG: 1.625m
2
). Như vậy, diện tích đất còn lại của bà M sau
khi chuyển nhượng 11.273m
2
. Xét các bên chưa xác định thực tế diện tích còn
lại chính xác hay không. Thực tế sự thay đổi về diện tích nên việc thỏa
thuận chuyển nhượng giữa hai bên không thống nhất như diện tích đất sau khi
được đo đạc thực tế chỉ còn 9.139,6m
2
(giảm 2.133,4m
2
) so với diện tích hai bên
hợp đồng chuyển nhượng 11.273m
2
, là thay đổi rất nhiều so với diện tích các
bên thỏa thuận ban đầu nên hợp đồng không thực hiện được do đối tượng không
thực hiện được. Xét thấy, cả hai bên đều lỗi ngang nhau làm cho giao dịch
đặt cọc vô hiệu nên không phải bồi thường cho nhau.
Ngày 08/4/2018, bị đơn nhận số tiền 500.000.000 đồng của nguyên
đơn nên phải nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 500.000.000 đồng
(năm trăm triệu đồng).
[3.3] Đối với yêu cầu phản tcủa M về việc yêu cầu ông P phải bồi
thường giá trị của 450 cây cao su bị cưa thanh trị giá 222.107.040 đồng. Hội
đồng xét xử thy: Sau khi hai bên “Giấy biên nhận đặt cọc” ngày 08/4/2018
thì M bàn giao toàn bộ diện tích đất cùng tài sản gắn liền với đất 450 cây
cao su cho ông P quản lý, sử dụng để thanh lý cao su san lp mt bng theo ý
ca nguyên đơn. Đồng thi, ti Biên bn làm vic ngày 11/5/2020 ca Tòa án
nhân dân huyn D, tỉnh Bình Dương đi vi ông Mai Dip K (bút lc 92) th
hiện: Năm 2017, phía M thuê ông K co m cao su trên tng diện tích đt
11.273m
2
thuc thửa đất s 402, t bản đồ s 39 ta lc ti p C, xã L, huyn D,
tỉnh Bình Dương. Ông K xác định s cây cao su khai thác m 450 cây, mi
mt ngày thu hoạch lượng m giá tr t 700.000 đồng đến 800.000 đồng, s
tin công mi ngày cạo là 200.000 đồng. Ngoài ra, trước khi chuyển nhượng cho
ông P phần đất trên thì ông K tha thun vi M, cho ông K co toàn b
s cây cao su (co thanh lý) 450 cây trong thời gian 01 năm thì ông K s thanh
toán cho bà M s tiền 41.000.000 đồng nhưng khi ông K đang tiến hành co m
cao su thì M yêu cu ông K không thc hin na tr li s tin trên cho
ông K vi mục đích bán đất cho ông P. Ti Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu Công
ty Cao su D xác định giá tr tài sản cây cao su căn cứ. Nguyên đơn cho
rng ti thời điểm chuyển nhượng thì trên đt tranh chp 300 cây cao su,
nguyên đơn đã thanh cây cao su vi s tiền bán được 72.000.000 đng
đã giao cho M s tiền 30.000.000 đng nhưng không chứng cứ chứng
minh và bị đơn cũng không thừa nhận đã nhận số tiền trên của nguyên đơn nên
không cósở để xem xét. Căn cứ Công văn số 423/CSDT-KT ngày 20/4/2020
ca Công ty TNHH MTV Cao su D thì giá tr g ci ca 450 cây cao su
111.449.500 đng. Ti phiên tòa cp phúc thẩm, các đương sự thng nht vic
xác định giá tr cây cao su không yêu cu Hội đồng định giá li nên Tòa án cp
phúc thẩm căn cứ vào Công văn số 423/CSDT-KT ngày 20/4/2020 ca Công ty
TNHH MTV Cao su D để gii quyết.
Do hợp đồng hiu nên giá tr cây cao su trên đất vn tài sn ca b
đơn. Mc dù, b đơn đồng ý cho nguyên đơn thanh cao su nguyên đơn đã
thanh lý, nguyên đơn không khai thác mủ cao su để ng li nên ch căn cứ
11
chp nhn mt phn yêu cu phn t ca b đơn v vic bồi thường giá tr cây
cao su 111.449.500 đồng, không s chp nhn yêu cu phn t v vic
thanh toán giá tr sản lượng m cao su.
[3.4] Ngày 14 tháng 6 năm 2019, Tòa án cấp thm ra Quyết định áp
dng bin pháp khn cp tm thi s 12/2019/QĐ-BPKCTT “Cấm chuyn dch
quyn v tài sản đối vi tài sản đang tranh chấpquy định ti khon 7 Điu 114
ca B lut T tng dân s, c th cm chuyn dch quyn v tài sn ca
Kim M đối vi diện tích đất 43.310,1m
2
thuc thửa đất s 402, t bản đồ s
39 ta lc ti p C, L, huyn D, tỉnh Bình Dương theo Giy chng nhn
quyn s dụng đất s vào s H00866/QĐ-UB do y ban nhân dân huyn D cp
cho Kim M ngày 05/02/2007 cho đến khi bn án, quyết định hiu
lc ca Tòa án. Sau khi Tòa án ra Quyết đnh áp dng bin pháp khn cp tm
thi thì Kim M không ý kiến hay khiếu ni. Do đó, Quyết định áp
dng bin pháp khn cp tm thi s 12/2019/QĐ-BPKCTT ngày 14/6/2019 ca
Tòa án nhân dân huyn D, tỉnh Bình Dương sẽ đưc xem xét, x theo quy
định pháp lut.
[4] T nhng phân tích nêu trên, s chp nhn mt phn kháng cáo
của nguyên đơn một phn kháng cáo ca b đơn, sửa mt phn bản án
thm.
[5] Ý kiến ca ni bo v quyn và li ích hp pháp của nguyên đơn là
phù hp.
Ý kiến ca đại din Vin Kim sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù hp.
[6] V án phí dân s sơ thẩm:
- Nguyên đơn phi chu án phí dân s thẩm đối vi yêu cu ca nguyên
đơn không đưc Tòa án chp nhn yêu cu phn t ca b đơn được Tòa án
chp nhn.
- B đơn phải chu án phí dân s thẩm đi vi yêu cu của nguyên đơn
đã được Tòa án chp nhn yêu cu phn t ca b đơn không được Tòa án
chp nhn. Tuy nhiên b đơn người cao tuổi theo điểm đ khoản 1 Điều 12
Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường v
Quc hội quy đnh v mc thu, min, gim, thu, np, qun s dng án phí
và l phí Tòa án nên b đơn bà Võ Kim M thuộc trường hợp được min án phí.
[7] V án phí dân sự phúc thẩm: Do sa bản án thẩm nên người kháng
cáo không phi chu.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 147, Điều 148, Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 309
và Điều 313 ca B lut T tng dân s,
12
- Căn cứ Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 ca y
ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun lý
s dng án phí và l phí Tòa án.
1. Chp nhn mt phn yêu cu kháng cáo ca nguyên đơn ông Trần Xuân
P và mt phn yêu cu kháng cáo ca b đơn bà Võ Kim M.
2. Sa Bn án dân s thẩm s 41/2020/DS-ST ngày 01/9/2020 ca Tòa
án nhân dân huyn D, tỉnh Bình Dương như sau:
2.1. Chp nhn yêu cu khi kin ca ông Trn Xuân P v vic yêu cu
Kim M tr li s tiền đặt cc 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) ngày
08/4/2018.
2.2. Không chp nhn yêu cu khi kin ca ông Trn Xuân P v vic yêu
cu pht cc s tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) đối vi bà Võ Kim
M.
2.3. Hy b “Giấy biên nhận đt cc” ngày 08/4/2018 gia ông Trn
Xuân P và Kim M liên quan đến diện tích đất 11.273m
2
thuc thửa đất s
402, t bản đồ s 39 ta lc ti p C, xã L, huyn D, tỉnh Bình Dương theo Giy
chng nhn quyn s dụng đất s H00886/-UB do y ban nhân dân huyn D
cp ngày 05/02/2007 cho bà Võ Kim M.
2.4. Chp nhn mt phn yêu cu phn t ngày 04/11/2019 ca
Kim M v vic yêu cu ông Trn Xuân P bồi thường thit hi giá tr g ci ca
450 cây cao su 111.449.500 đồng (một trăm mười mt triu bn trăm bốn
mươi chín nghìn năm trăm đồng).
2.5. Không chp nhn yêu cu phn t ngày 04/11/2019 ca bà Võ Kim M
v vic yêu cu ông Trn Xuân P bồi thường thit hi giá tr sản lượng m đang
thu hoạch: 110.657.540 đồng (một trăm mười triệu sáu tm m mươi by
nghìn năm trăm bốn mươi đồng).
2.6. Đình ch xét x sơ thẩm s tiền 302.892.960 đồng (ba trăm lẽ hai
triệu tám trăm chín mươi hai ngàn chín trăm sáu mươi đng) ca yêu cu phn
t b đơn bà Võ Kim M đối với nguyên đơn ông Trần Xuân P.
K t khi bn án hiu lc pháp luật, người được thi hành án nộp đơn
yêu cu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong s tin
phi thi hành thì còn phi tr tin lãi theo mc lãi suất quy đnh tại Điều 357
khoản 2 Điều 468 B lut dân s năm 2015 tương ng vi s tin thi gian
chm tr.
6. Chi phí t tng khác:
- Chi phí đo đạc là 1.663.861 đồng. Nguyên đơn phi chịu và đã nộp xong
theo biên bn thanh hợp đồng đo đạc s 198/12/TLHĐ-CNVPĐKĐĐ ngày
10/12/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.
13
- Chi phí trích lc h sơ địa chính 150.000 đồng, nguyên đơn tự nguyn
chịu đã nộp xong theo biên lai thu tin phí, l phí in sn mnh gngày
14/6/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D.
7. Án phí dân s sơ thẩm:
- Bà Võ Kim M đưc min np án phí.
- Ông Trn Xuân P phi np 28.457.980 đồng (hai mươi tám triu bn
trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm tám mươi đồng) được khu tr
12.300.000 đồng (mười hai triệu ba trăm ngàn đng) tin tm ng án phí đã np
theo biên lai thu s AA/2016/0031626 ngày 13 tháng 6 năm 2019 ti Chi cc
Thi hành án dân s huyn D, tnh Bình Dương. Ông Trn Xuân P tiếp tc np s
tin còn li 16.157.980 đồng (mười sáu triu một trăm năm mươi by nghìn chín
trăm tám mươi đồng).
Trường hp Bản án được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut Thi hành
án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tho thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án
hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6 và Điu 9 Lut Thi
hành án dân s; thi hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Lut Thi hành
án dân s./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Chi cc THADS H. D;
- TAND H. D;
- Các đương sự;
- Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân s.
Tải về
Bản án số 33/2021/DS-PT Bản án số 33/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất