Bản án số 29/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 29/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 29/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/12/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ SA PA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Tỉnh Lào Cai
Bản án số: 29/2020/HS - ST
Ngày 24/12/2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giàng Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Minh Huấn;
2. Ông Đỗ Trọng Bằng;
- Thư phiên tòa: Ông Hoàng M Toản Thư Tòa án nhân dân thị Sa
Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa tham gia phiên toà: Lồ
Kim Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 m 2020, tại Nhà n a tổ 1 phường Sa Pa, thị Sa Pa
tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ s29/2020/TLST- HS ngày
30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST- HS
ngày 14 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa đối với bị cáo:
Văn D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06/10/2001 tại huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai. i trú: Thôn KhĐ, SH, huyện BT, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Lao
động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; n tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Tr (sinh năm 1972) Trương Thị
Ng(sinh năm 1978) Nơi trú: Thôn KhĐ, SH, huyện BT, tỉnh LC. Bcáo
con duy nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Văn D bị tạm giữ từ ngày 23/10/2020 đến ngày 26/10/2020 tại Nhà
tạm giữ Công an thị xã Sa Pa, hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư t
từ ngày 19/11/2020 đến hết ngày 19/01/2021. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Phàn Láo L; Sinh năm 1999, trú tại thôn Lủ Khấu, xã Tả Phìn, thị
xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vng mặt tại phiên a).
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Anh Đỗ Đức H, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn KhĐ,
SH, huyện BT, tỉnh LC. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 20/10/2020, Văn D đi từ nhà tại Thôn KhĐ, SH, huyện BT,
tỉnh LC lên trung tâm thSa Pa chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Văn D đi
bộ một mình trên đường Thạch Sơn để về nhà bạn ngủ thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn
hiệu Honda Winner BKS 24B2-317.33 của anh Phàn Láo L, trú tại thôn Lủ Khấu, xã
Tả Phìn, thị Sa Pa, tỉnh Lào Cai dựng trên vỉa phía trước số nhà 129 đường
Thạch Sơn, thuộc tổ 2 phường Sa Pa không người trông coi, nên D đã nảy sinh ý
định trộm cắp chiếc xe để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. D quan sát các quán bán hàng
đã đóng cửa, tắt điện, xung quanh không người, nên lấy từ trong túi quần ra 01
chiếc T (vam phá khóa) mà D mang theo từ trước, cho vào vặn phá khóa rồi nổ máy
xe và điều khiển xe đi về nhà ở Bảo Thắng. Tuy nhiên do đã muộn, nên khi đến thành
phố Lào Cai, Lê Văn D đã ngủ qua đêm ngoài vỉa hè tại thành phố Lào Cai. Đến sáng
ngày 21/10/2020, D điều khiển chiếc xe trộm cắp được đến một cửa hiệu sửa
xe môtrong thành phố Lào Cai, D không nhớ tên, địa chỉ để đánh lại chìa khóa xe,
sau đó D tháo biển số xe cho vào túi nilon treo xe đi về thị trấn Phố Lu, huyện
Bảo Thắng để cất giấu rồi đi vnhà. Đến tối ngày 21/10/2020, Văn D sử dụng
mạng hội Facebook thấy bài viết của Phàn Láo L đăng hình chiếc xe
mình đã trộm cắp, nên D nhờ một người bạn tên M (D không biết rõ họ, tên, tuổi, địa
chỉ) đọc giúp, D biết được chủ bài viết nói trên là chủ sở hữu chiếc xe và đang tìm xe.
D dùng tài khoản Facebook của mình D con” kết bạn với tài khoản Facebook của
Phàn Láo L, rồi nhắn tin thoại qua Messenger trao đổi về việc biết được chiếc xe nói
trên trong hiệu cầm đồ, muốn lấy lại xe phải chuộc với giá 15 triệu đồng, Phàn Láo L
đồng ý, hẹn ngày 22/10/2020 sẽ giao xe tại thị xã Sa Pa. Sau đó, Lê Văn D rủ Đỗ Đức
H (sinh năm 1996, trú tại Thôn KhĐ, SH, huyện BT, tỉnh LC) đi giao xe cùng
mình với tiền công 700.000 đồng, H đồng ý, H không biết chiếc xe trên do D
trộm cắp. Khoảng 21 giờ ngày 22/10/2020, Văn D điều khiển xe đã trộm
cắp được, chở sau là ĐĐức H đi lên thị xã Sa Pa. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H
D lên đến Sa Pa biết Phàn Láo L đã báo Công an về việc mất trộm xe, nhận
thức được hành vi của mình không thể trốn tránh nên D đã đến Công an thị Sa Pa
để đầu thú. Quá trình điều tra, Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình.
Ti Kết lun định giá số 10 ngày 16/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị
Sa Pa kết luận giá trị còn lại của chiếc xe nhãn hiệu Honda Winner BKS
24B2-317.33: Tổng giá trị còn lại của tang vật được trưng cầu định giá là:
25.462.500 đồng”.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-SP ngày 30/11/2020 của Viện Kiểm sát nhân
dân thị Sa Pa truy tbị cáo vtội Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được
quy định tại Điều 173 khoản 1 của Bộ luật hình sự.
3
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa giữ nguyên quan
điểm truy tố đối với bcáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Văn D
phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s, khoản 1
Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Văn D từ 12 đến 15
tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu
đề nghị gì đối với bị cáo nên không xem xét.
Về xử vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ lut hình s; điểm a khoản 2
Điều 106 Bộ lut tố tng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc chìa khóa xe môtô nhãn hiệu Honda màu đen
là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà ớc 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sam Sung Note 4 màu trắng thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
- Đối với 01 xe nhãn hiệu Honda Winner màu đen, không biển số, số
máy KC26E1158172, số khung 2603GY310917 01 biển kiểm soát số 24B2-
317.33 đã được cơ quan điều tra trả lại cho người bị hại tại biên bn về việc trlại đvật
i liệu ngày 27/11/2020 là phù hợp.
- Tuyên án phí quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên tòa bị o Văn D đồng ý với tội danh điều luật mà Viện kiểm
sát nhân dân thị Sa Pa đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Tn cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào cáci liệu trong hồ sơ vụ án đã đưc thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phn tòa, Hi đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo không ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết
định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[2] Vhành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo n D đã
thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại quan
điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ
khác như: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; Đơn trình báo ngày
21/10/2020; Thông báo về việc tiếp nhận tố giác tội phạm; Biên bản khám nghiệm
hiện trường, bản ảnh hiện trường; Biên bản truy m vật chứng; Lệnh nhập kho vật
chứng; Quyết định xử lý vật chứng; Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu; Biên bản
ghi lời khai của bị cáo; Bản kết luận điều tra số 01 ngày 27/11/2020 của quan
4
cảnh sát điều tra Công an thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Bản cáo trạng số 27/CT-VKS-SP
ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cùng các
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 20/10/2020, Lê Văn D đã có hành
vi trộm cắp 01 xe mô nhãn hiệu Honda Winner BKS 24B2-317.33 của anh Phàn
Láo L giá trị sau khi định giá là 25.462.500 đồng (hai mươi lăm triệu bốn trăm sáu
mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1
Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thị Sa Pa truy tố bị cáo
Văn D về tội Trộm cắp tài sảntheo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật
hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sự hiểu biết vhội
cũng như pháp luật của nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi "Trộm cắp tài sản"
của người khác vi phạm pháp luật, song chỉ vì lười lao động, muốn có tiền tiêu sài
nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. nh vi của bị cáo nguy
hiểm cho hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến quyền
sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ nên cần phải xét
xử bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Vtình tiết ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không tình
tiếtng nặng trách nhiệmnh sự;
Bị cáo c nh tiết giảm nhtrách nhiệm hình sự là: Tại quan điều tra và
tại phn tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai o, ăn năn hối cải ; Bị cáo phạm tội
lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại
không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho người bị hại; Sau khi phạm tội
bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình và ra đầu thú, tạo thun lợi cho cơ
quan điều tra nhanh chóng điều tra ván. Người bị hại có đề nghị xin giảm nhtrách
nhiệm hình sự cho bcáo; Bị cáo có ông ngoại là nời có công với cách mạng.
Do đó, bị o Văn D được ởng nh tiết giảm nhquy định tại điểm h, i, s
khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bluật nh sự. Việc bị o thực hiện hành vi phạm tội
cũng một phần xuất trong việc quản lý tài sản của người bị hại trong việc quản
i sản, tạo cho bo có cơ hội đnảy sinh ý định và thực hiện hành vi phạm tội của
bị cáo.
[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo cần một mức
hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét tính chất
mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp
dụng hình phạt hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều
kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trthành người công dân lương thiện, có ích cho gia
đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 quy định: "Người phạm tội còn
thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Song xét thấy điều kiện
kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo sống cùng bố mẹ, không tài sản riêng nên
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản là bị hại anh Phàn Láo L
không yêu cầu đề nghị về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem
xét.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 xe nhãn hiệu Honda Winner màu đen, không
biển số, số máy KC26E1158172, số khung 2603GY310917 và 01 biển kiểm soát số
24B2-317.33 đã được cơ quan điều tra trả lại cho nời bị hại tại biên bản về việc trả lại
đồ vật tài liệu ngày 27/11/2020 p hợp.
Áp dụng khon 1 Điu 47 Bluật hình sự; đim a khoản 2 Điu 106 Bộ luật ttụng
hình s:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc chìa khóa xe môtô nhãn hiệu Honda màu
đen là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu ca Lê Văn D.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà ớc 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sam Sung Note 4 màu trắng thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
[8] Về án phí: Bị cáo Văn D phải chịu tiền án phí hình sự thẩm theo quy
định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Vtội danh: Tun b bị cáo Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản.
[2] Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 khoản 2
Điều 51 khoản 1, 2 Điu 65 Blut Hình s 2015: Xphạt bcáo n D 01 (một)
năm nhưng cho hưởng án treo. Thời gian th thách 02 m nh từ ngày tun án sơ
thẩm 24/12/2020.
Giao bị cáo Văn D cho UBND xã SH, huyn BT, tnh LC giám sát, giáo
dục.Trong trường hợp bị cáo Lê Văn D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định
tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02
lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về vật chứng: Áp dng khon 1 Điu 47 Bluật nh s; điểm a khoản 2 Điu
106 B lut ttụng nh sự:
- Tịch thu, tu hủy 01 (một) chiếc chìa khóa xe môtô nhãn hiệu Honda màu
đen là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu ca Lê Văn D.
- Tịch thu, sungng qu Nớc 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sam Sung Note 4 màu trắng thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23
nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định ván phí lệ phí a
án: Buộc bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Văn D được quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi
hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lào Cai;
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND thị xã Sa Pa.
- PV 06 Công an tỉnh;
- Công an thị xã Sa Pa (3);
- Sở tư pháp tỉnh;
- Bị cáo; Bị hại;
- THADS thị xã Sa Pa;
- Lưu Hồ sơ, HSTHA, TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Giàng Thị Thu Trang
7
8
9
10
Tải về
Bản án số 29/2020/HS-ST Bản án số 29/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất