Bản án số 29/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 29/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 29/2020/HS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 29/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội trộm cắp tài sản |
---|---|
Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai) |
Số hiệu: | 29/2020/HS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 24/12/2020 |
Lĩnh vực: | Hình sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ SA PA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Tỉnh Lào Cai
Bản án số: 29/2020/HS - ST
Ngày 24/12/2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giàng Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Minh Huấn;
2. Ông Đỗ Trọng Bằng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng M Toản – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sa
Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tham gia phiên toà: Bà Lồ
Kim Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2020, tại Nhà văn hóa tổ 1 phường Sa Pa, thị xã Sa Pa
tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2020/TLST- HS ngày
30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST- HS
ngày 14 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa đối với bị cáo:
Lê Văn D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06/10/2001 tại huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn KhĐ, xã SH, huyện BT, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Lao
động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Tr (sinh năm 1972) và bà Trương Thị
Ng(sinh năm 1978) – Nơi cư trú: Thôn KhĐ, xã SH, huyện BT, tỉnh LC. Bị cáo là
con duy nhất trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lê Văn D bị tạm giữ từ ngày 23/10/2020 đến ngày 26/10/2020 tại Nhà
tạm giữ Công an thị xã Sa Pa, hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú
từ ngày 19/11/2020 đến hết ngày 19/01/2021. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Phàn Láo L; Sinh năm 1999, trú tại thôn Lủ Khấu, xã Tả Phìn, thị
xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa).
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Anh Đỗ Đức H, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn KhĐ, xã
SH, huyện BT, tỉnh LC. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 20/10/2020, Lê Văn D đi từ nhà tại Thôn KhĐ, xã SH, huyện BT,
tỉnh LC lên trung tâm thị xã Sa Pa chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Lê Văn D đi
bộ một mình trên đường Thạch Sơn để về nhà bạn ngủ thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn
hiệu Honda Winner BKS 24B2-317.33 của anh Phàn Láo L, trú tại thôn Lủ Khấu, xã
Tả Phìn, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai dựng ở trên vỉa hè phía trước số nhà 129 đường
Thạch Sơn, thuộc tổ 2 phường Sa Pa không có người trông coi, nên D đã nảy sinh ý
định trộm cắp chiếc xe để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. D quan sát các quán bán hàng
đã đóng cửa, tắt điện, xung quanh không có người, nên lấy từ trong túi quần ra 01
chiếc T (vam phá khóa) mà D mang theo từ trước, cho vào vặn phá khóa rồi nổ máy
xe và điều khiển xe đi về nhà ở Bảo Thắng. Tuy nhiên do đã muộn, nên khi đến thành
phố Lào Cai, Lê Văn D đã ngủ qua đêm ngoài vỉa hè tại thành phố Lào Cai. Đến sáng
ngày 21/10/2020, D điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp được đến một cửa hiệu sửa
xe mô tô trong thành phố Lào Cai, D không nhớ tên, địa chỉ để đánh lại chìa khóa xe,
sau đó D tháo biển số xe cho vào túi nilon treo ở xe và đi về thị trấn Phố Lu, huyện
Bảo Thắng để cất giấu rồi đi về nhà. Đến tối ngày 21/10/2020, Lê Văn D sử dụng
mạng xã hội Facebook và thấy bài viết của Phàn Láo L đăng hình chiếc xe mô tô mà
mình đã trộm cắp, nên D nhờ một người bạn tên M (D không biết rõ họ, tên, tuổi, địa
chỉ) đọc giúp, D biết được chủ bài viết nói trên là chủ sở hữu chiếc xe và đang tìm xe.
D dùng tài khoản Facebook của mình là “D con” kết bạn với tài khoản Facebook của
Phàn Láo L, rồi nhắn tin thoại qua Messenger trao đổi về việc biết được chiếc xe nói
trên trong hiệu cầm đồ, muốn lấy lại xe phải chuộc với giá 15 triệu đồng, Phàn Láo L
đồng ý, hẹn ngày 22/10/2020 sẽ giao xe tại thị xã Sa Pa. Sau đó, Lê Văn D rủ Đỗ Đức
H (sinh năm 1996, trú tại Thôn KhĐ, xã SH, huyện BT, tỉnh LC) đi giao xe cùng
mình với tiền công là 700.000 đồng, H đồng ý, H không biết chiếc xe trên là do D
trộm cắp. Khoảng 21 giờ ngày 22/10/2020, Lê Văn D điều khiển xe mô tô đã trộm
cắp được, chở sau là Đỗ Đức H đi lên thị xã Sa Pa. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H
và D lên đến Sa Pa và biết Phàn Láo L đã báo Công an về việc mất trộm xe, nhận
thức được hành vi của mình không thể trốn tránh nên D đã đến Công an thị xã Sa Pa
để đầu thú. Quá trình điều tra, Lê Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình.
Tại Kết luận định giá số 10 ngày 16/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị
xã Sa Pa kết luận giá trị còn lại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS
24B2-317.33: Tổng giá trị còn lại của tang vật được trưng cầu định giá là:
25.462.500 đồng”.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-SP ngày 30/11/2020 của Viện Kiểm sát nhân
dân thị xã Sa Pa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được
quy định tại Điều 173 khoản 1 của Bộ luật hình sự.
3
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa giữ nguyên quan
điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn D
phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s, khoản 1 và
Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn D từ 12 đến 15
tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu
đề nghị gì đối với bị cáo nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2
Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc chìa khóa xe môtô nhãn hiệu Honda màu đen
là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sam Sung Note 4 màu trắng thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen, không biển số, số
máy KC26E1158172, số khung 2603GY310917 và 01 biển kiểm soát số 24B2-
317.33 đã được cơ quan điều tra trả lại cho người bị hại tại biên bản về việc trả lại đồ vật
tài liệu ngày 27/11/2020 là phù hợp.
- Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn D đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm
sát nhân dân thị xã Sa Pa đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử
xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Văn D đã
thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại cơ quan
điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ
khác như: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; Đơn trình báo ngày
21/10/2020; Thông báo về việc tiếp nhận tố giác tội phạm; Biên bản khám nghiệm
hiện trường, bản ảnh hiện trường; Biên bản truy tìm vật chứng; Lệnh nhập kho vật
chứng; Quyết định xử lý vật chứng; Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu; Biên bản
ghi lời khai của bị cáo; Bản kết luận điều tra số 01 ngày 27/11/2020 của Cơ quan
4
cảnh sát điều tra Công an thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Bản cáo trạng số 27/CT-VKS-SP
ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cùng các
chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 20/10/2020, Lê Văn D đã có hành
vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS 24B2-317.33 của anh Phàn
Láo L có giá trị sau khi định giá là 25.462.500 đồng (hai mươi lăm triệu bốn trăm sáu
mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1
Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố bị cáo
Lê Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật
hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội
cũng như pháp luật của nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi "Trộm cắp tài sản"
của người khác là vi phạm pháp luật, song chỉ vì lười lao động, muốn có tiền tiêu sài
cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến quyền
sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ nên cần phải xét
xử bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Tại cơ quan điều tra và
tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ; Bị cáo phạm tội
lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại
không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả cho người bị hại; Sau khi phạm tội
bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình và ra đầu thú, tạo thuận lợi cho cơ
quan điều tra nhanh chóng điều tra vụ án. Người bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng.
Do đó, bị cáo Lê Văn D được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s
khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội
cũng có một phần sơ xuất trong việc quản lý tài sản của người bị hại trong việc quản
lý tài sản, tạo cho bị cáo có cơ hội để nảy sinh ý định và thực hiện hành vi phạm tội của
bị cáo.
[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo cần có một mức
hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét tính chất
mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp
dụng hình phạt tù hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều
kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia
đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 quy định: "Người phạm tội còn
có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Song xét thấy điều kiện
kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo sống cùng bố mẹ, không có tài sản riêng gì nên
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

5
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản là bị hại anh Phàn Láo L
không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem
xét.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen, không
biển số, số máy KC26E1158172, số khung 2603GY310917 và 01 biển kiểm soát số
24B2-317.33 đã được cơ quan điều tra trả lại cho người bị hại tại biên bản về việc trả lại
đồ vật tài liệu ngày 27/11/2020 là phù hợp.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng
hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc chìa khóa xe môtô nhãn hiệu Honda màu
đen là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sam Sung Note 4 màu trắng thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
[8] Về án phí: Bị cáo Lê Văn D phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2
Điều 51 khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Lê Văn D 01 (một)
năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ
thẩm 24/12/2020.
Giao bị cáo Lê Văn D cho UBND xã SH, huyện BT, tỉnh LC giám sát, giáo
dục.Trong trường hợp bị cáo Lê Văn D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định
tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02
lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chiếc chìa khóa xe môtô nhãn hiệu Honda màu
đen là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sam Sung Note 4 màu trắng thuộc quyền sở hữu của Lê Văn D.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23
nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa
án: Buộc bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Văn D được quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi
hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lào Cai;
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND thị xã Sa Pa.
- PV 06 Công an tỉnh;
- Công an thị xã Sa Pa (3);
- Sở tư pháp tỉnh;
- Bị cáo; Bị hại;
- THADS thị xã Sa Pa;
- Lưu Hồ sơ, HSTHA, TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Giàng Thị Thu Trang
7
8
9
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của TAND huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 05/02/2024 của TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội trộm cắp tài sản
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 30/01/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm