Bản án số 27/2020/HS-ST ngày 27/11/2020 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 27/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 27/2020/HS-ST ngày 27/11/2020 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tội danh: 251.Tội mua bán trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 27/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/11/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ SA PA -TỈNH LÀO CAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 27/2020/HS - ST
Ngày 27/11/2020
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Mạnh T
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tuấn – Nghề nghiệp:
Nguyên giáo viên; 2. Ông Sùng A Cở Nghề nghiệp: Cán bu trí.
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tham gia phiên toà:
Lồ Kim Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị Sa Pa, tỉnh
Lào Cai xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thụ số
25/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 27/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2020. Đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hữu V; Tên gi khác: Không; Sinh ngày 16/9/1996, tại S, T.
Nơi trú: Khu phố Thường Q, thành phố S, tỉnh T; Ngh nghip: Lao động t
do; Trình độ học vấn: 6/12; n tc: Kinh; Gii tính: Nam; Tôn giáo: Không;
Quc tch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu Đ (sinh năm 1969) Nguyễn
Thị L (sinh m 1965), cùng trú tại Khu phố Thường Q, thành phố S, tỉnh T.
Bị cáo chưa vợ, chưa con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo
nhân thân xấu. Tại bản án số 38/2015/HSST ngày 26/8/2015 bị cáo bị Tòa án
nhân dân thị Sầm Sơn xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách 18 tháng. Phạt bổ sung 4.000.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành
xong hình phạt chính hình phạt bổ sung. Đến thời điểm phạm tội lần này bị
cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo Nguyễn Hữu V bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2020, hiện đang
bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa. Có mặt.
2. PH Quang T; Tên gi khác: Không; Sinh ngày 13/02/2003 (Đến ngày
bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 06 tháng 16 ngày), ti C, P; Nơi
trú: Tổ 6 phường Y, thành phố Yi, tỉnh Y; Ngh nghip: Lao động t do;
Trình độ học vấn: 8/12; Dân tc: Kinh; Gii tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo;
Quc tch: Vit Nam; Con ông: PH Quang H (sinh năm 1975) bà: Đỗ Thị B
2
(sinh năm 1977), cùng trú tại: Tổ 6, phường Y, thành phố Yi, tỉnh Y. Bị cáo
chưa có vợ, chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo PH Quang T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2020, hiện đang bị
tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo PH Quang T là: Ông PH Quang H
Sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ 6, phường Y, thành phố Yi, tỉnh Y.
Người bào chữa cho bcáo PH Quang T là: Nông Thị Thúy Hằng
Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai.
Người làm chứng: 1. Ông Trần Mạnh T, sinh ngày 05/01/2001 Địa chỉ:
Thôn 3, xã Đ, huyện Y, tỉnh Y. 2. Ông Nguyễn Văn Hoàng A, sinh năm 1991 –
Địa chỉ: Số 191, ngõ 45, đường T, quận H, thành phố H.
Người chứng kiến: 1. Ông Phạm Đình D, sinh m 2001 Địa chỉ: Tổ 4,
phường Hàm Rồng, thị Sa Pa, tỉnh Lào Cai; 2. Ông Nguyễn Trung Q, sinh
năm 1971 – Địa chỉ: Tổ 2, phường P, thị xã S, tỉnh Lào Cai; Ông Nguyễn Ngọc
Sang, sinh năm 1956 Địa chỉ: Tổ 5, phường Hàm Rồng, thịSa Pa, tỉnh Lào
Cai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hvụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 30 ngày 29/08/2020 tại khu vực đường Ngũ Chỉ Sơn,
tổ 2, phường S, thị xã S, tổ công tác của Công an thị Sa Pa phát hiện PH
Quang T đang điều khiển xe môtô chở theo Nguyễn Hữu V biểu hiện nghi
vấn phạm tội về ma y. Tổ công tác đã mời ông Nguyễn Trung Q chứng kiến,
tiến hành kiểm tra đối với T Vạn. Quá trình kiểm tra đã phát hiện thu giữ
tại túi áo khoác phía trước bên phải chiếc áo T đang mặc trên người 02 gói nilon
màu trắng dạng túi kẹp Zip có đặc điểm:
+ 01 túi nilon kẹp zip đường chỉ màu đỏ, bên trong chứa 11 viên nén
màu hồng, hình chữ nhật, trên mt mặt các viên nén dập nổi in chữ
“DUREX” , PH Quang T khai là “Kẹo” ma túy tổng hợp. (Bì M1)
+ 01 túi nilon kẹp zip có đường chỉ màu đỏ, bên trong chứa 04 túi nilon nh
màu trắng (loại túi kẹp zip có đường chmàu xA): bên trong các túi đều chứa tinh
thể dạng đá màu trắng, T khai là “Ke” ma túy tổng hợp. (Bì M2)
Tại kết luận giám định số 185/GĐMT ngày 04/09/2020 của Phòng kỹ
thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai kết luận: Mẫu M1: 6,11 gam các viên nén
màu hồng, hình chữ nhật gửi giám định loại chất ma y MDMA; Mẫu M2:
2,77 gam các hạt tinh thể màu trắng gi giám định là loại chất ma túy Ketamine.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hữu V và PH Quang T khai nhận: Vạn, T,
Trần Mạnh T cùng số nhà 222 đường Điện Biên Phủ, tổ 5 phường Hàm Rồng,
3
thị Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Khoảng 23 giờ ngày 29/8/2020, T gọi điện cho T để
gặp Vạn, không số điện thoại của Vạn, T vnhà đưa điện thoại cho Vạn
nói chuyện. T hỏi Vạn bán lại số ma túy Vạn đã khoe với T không, Vạn
trả lời đưa lại điện thoại cho T. Khi T nghe máy, T bảo T chở Vạn đi
đưa đồ tại khách sạn Mường ThA, sgửi số điện thoại người nhận sau rồi tắt
máy. Sau đó, T lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 21B2-009.17 để chở
Vạn đi, Vạn đưa 02 gói ma y cho T. Lúc này T biết đưa Vạn đi bán ma túy
nhưng vẫn đồng ý, cầm lấy toàn bộ số ma y nói trên cho vào túi áo khoác
phía trước bên phải của chiếc áo T đang mặc trên người, T không biết cụ thể
việc giao dịch số lượng ma y như thế nào. Tiếp đó, T điều khiển xe
chở Vạn đến khách sạn Mường ThA. Khi đến nơi, T xem điện thoại thấy T
nhắn số điện thoại của người mua là “0868.862.888”, T gọi cho số điện thoại nói
trên rồi xóa tin nhắn. Trong lúc đang đứng đợi khách mua thì T Vạn bị
quan điều tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng và lập biên bản theo quy định.
Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ, Nguyễn Hữu V khai nhận: Ngày
26/8/2020, Vạn mua số ma túy nói trên từ một người đàn ông không rõ tên, tuổi,
địa chỉ tại thành phố Sầm Sơn, tỉnh ThA Hóa với giá 3.900.000 đồng để sử dụng
cho bản thân bán lại kiếm lời; Sau đó Vạn mang toàn bộ số ma y trên lên
thị xã Sa Pa.
Ti Cơ quan điều tra, các bcáo đã khai nhận toàn bnh vi phạm tội.
Ti bản cáo trạng s 22/CT-VKS ngày 16/11/2020 ca Vin Kiểm sát nhân dân
thị Sa Pa truy tố bị cáo Nguyn Hữu V PH Quang T về tội "Mua bán trái pp
chất ma túy", tội phạmnh phạt đưc quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 của
Blut nh sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa giữ nguyên
quan điểm truy tố đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các
bị cáo Nguyễn Hu V PH Quang T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma y".
Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17;
Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bcáo Nguyễn Hữu V từ 7 m 03 tháng đến
07 năm 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo
30/8/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với b cáo.
Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17;
Điều 58; Điều 98 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo PH Quang T t5
năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt
bị cáo 30/8/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử vật chứng, án phí quyền kháng
cáo đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo PH Quang T nhất trí với đề nghị của Đại diện
Viện kiểm sát về tội dA Điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng
xét xử xử phạt bị cáp mức án 04 năm 09 tháng tù.
4
Người làm chứng Trần Mạnh T phủ nhận toàn bộ lời khai của bị cáo
Nguyễn Hữu V PH Quang T về việc T L quan đến việc mua bán ma y
với Vạn T. T không thừa nhận việc L lạc điện thoại với T Vạn để trao đổi
mua bán ma túy. chỉ L lạc với T để báo cho T T đi về Yên Bái nhờ T
chuyển đồ cho T. Ngoài ra T hoàn toàn không biết vhành vi phạm tội của
Vạn và T.
Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý với tội dA Viện kiểm sát nhân dân thị
Sa Pa đã truy tố đối với các bị cáo, cácbị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tn cơ snội dung vụ án, căn cứ vàoc i liệu trong hồ ván đã được
thẩm tra, t hỏi, trA luận tại phn tòa, Hội đồng t xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân thị Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật T tụng
hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, các bị cáo không ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên a m nay các bị cáo
Nguyễn Hữu V và PH Quang T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội của bị cáo như đã khai tại quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo
được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Biên bản bắt người
phạm tội quả tang; Biên bản km t nơi của Nguyn Hu V và PH Quang T;
Biên bản niêm phong đồ vật tạm giữ; Biên bản mở niêm phong, xác định khối
lượng, trích mu tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Biên bản
xác minh qua điện thoại; Biên bản kiểm tra điện thoại của PH Quang T. Bản
kết luận giám định số 185/GĐMT ngày 04/9/2020 của phòng Kthuật hình sự
Công an tỉnh Lào Cai; Các biên bản c minh; Biên bản xét nghiệm chất ma
y; Bản tự khai, biên bản ghi lời khai của bị cáo; Bản kết luận điều tra số 23
ngày 13 tháng 11 năm 2020 của quan CSĐT Công an th Sa Pa. Bản o
trạng số 22/CT-VKSSP ngày 16/11/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị Sa
Pa, tỉnh Lào Cai, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 29/8/2020, tại tổ 2 phường S,
thị xã S, tỉnh Lào Cai, các bị cáo đã tàng trữ để bán trái phép 6,11 gam MDMA,
2,77 gam Ketamin. Theo quy định tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày
02/2/2018 quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại
một số Điều của Bộ luật hình sự 2015. Thì tổng khối lượng các chất ma y thu
giữ của các bị cáo được tính như sau: Đối với 6,11 gam MDMA, tỷ lệ so với
mức tối thiểu MDMA quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự (6,11gam
5
so với 30gam) là 20,37%; Đối với 2,77 gam Ketamine, tỷ lệ so với mức tối thiểu
Ketamine (ma ythể rắn khác) quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự
(2,77gam so với 100gam) 2,77%; Tổng t lệ 23,14%, nhỏ hơn 100%. Vậy,
Tổng khối lượng các chất ma túy do Nguyễn Hữu V PH Quang T tàng trữ để
bán trái phép thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật
hình sự. Do đó, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất
ma ytheo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép
chất ma túy" theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bcáo những người đủ năng lực trách nhiệm nh sự, sự hiểu
biết về hội cũng như pháp luật của nhà nước. Bo nhận thức được nh vi
"Mua bán trái phép chất ma túy" vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức
chấp hành pháp luật muốn kiếm lời bất chính nên các bị cáo đã thực hiện
hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị
an tại địa phương, xâm phạm chính sách độc quyền quản của Nhà nước đối
với các chất ma túy nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật.
[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây vụ án đồng phạm mang
tính chất giản đơn, các bị cáo không sự bàn bạThân công nhiệm vụ từ trước
ng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Hữu V người mua
ma túy đtàng trữ, sau đó trực tiếp mang đi bán nhằm thu lợi từ việc mua bán
trái phép chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm với vai trò thứ nhất trong vụ án.
Bị cáo PH Quang T biết Vạn đi bán ma túy nhưng vẫn trực tiếp cầm ma túy cho
Vạn chở Vạn đi bán Ma túy nên phải chịu trách nhiệm với vai trò thứ hai
trong vụ án.
[4] Về tình tiết ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm nh sự: Bị cáo Nguyễn Hữu
V là nời có nhân thân xấu, tại bn án số 38/2015/HSST ngày 26/8/2015 bịo bị
Tòa án nhân dân th Sầm n xử phạt 09 tháng , nhưng cho ởng án treo.
Thời gian thử thách 18 tháng. Phạt bổ sung 4.000.000 đồng. Bo đã chấp hành
xong hình phạt chính hình phạt bổ sung. Đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo
đã được a án tích. B cáo Nguyễn Hữu V PH Quang T đều tình tiết giảm
nhtrách nhiệm nh sự thành khẩn khai o, ăn n hối cải. Do đó, các bị o
đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
nh sự. Bcáo T bà nội bà Nguyễn Thị Hiển được khen thưởng Huân chương
kháng chiến chống Mỹ Hạng Ba n bị o được hưởng nh tiết giảm nhẹ được
quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bo T khi phạm tội mới
17 tuổi 06 tháng 16 ngày, nên cần áp dụng những quy định tại Chương XII của Bộ
luật nh sự, những quy định đối với người ới 18 tuổi phạm tội để xem t khi
quyết định nh phạt đối với bo.
6
[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với các bị cáo Nguyễn
Hữu V và PH Quang T cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mc
độ hành vi phạm tội của từng bị cáo đã thực hiện. Xét tính chất mức độ hành vi
phạm tội của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhtrách nhiệm nh sự, nhân thân
của các bị cáo đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp
dụng hình phạt thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo,
giáo dục các bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và
xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 quy định: "Người phạm tội
còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Song xét thấy
điều kiện kinh tế của các bị cáo khó khăn, bị cáo Nguyễn Hữu V không tài
sản riêng gì, bị cáo PH Quang T khi phạm tội dưới 18 tuổi nên không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị Sa Pa, tỉnh Lào Cai về
hình phạt, mc án phù hợp với tích chất mc độ hành vi phạm tội của các
bị cáo nên cần chấp nhận.
Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo PH Quang T đề nghị Hội
đồng xét xử, xử phạt bị cáo 04 năm 09 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy là nhẹ,
không tương xứng với tích chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không
có căn cứ chấp nhận.
[7] Đối với Trần Mạnh T, Nguyễn Văn Hoàng A qua quá trình trA tụng tại
phiên tòa các tài liệu trong hồ vụ án thể hiện, ngoài lời khai của bị cáo
Nguyễn Hữu V PH Quang T không căn c nào khác chứng minh T
Hoàng A L quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Vạn T.
Quá trình đối chất tại quan điều tra giữa Vn, T T cũng như quá trình trA
tụng tại phiên tòa cũng không chứng minh được hành vi phạm tội ca T
Hoàng A nên không có đủ căn cứ để kết tội đối với T và Hoàng A.
[8] Về vật chứng:
- Đối với 01 t niêm phong in sẵn của phòng kỹ thuật nh sự Công an
tỉnh Lào Cai, bên trong chứa ma túy n lại sau trích mẫu giám định thu gitrong
vụ Nguyn Hữu V PH Quang T. Đâyvật chứng nhà nước cấm tàng trữ, mua
bán nên cần tịch thu tiêu hy.
- Đối với 01 đin thoại Apple Iphone X màu trắng và 01 điện thoại di động
nn hiệu Nokia 105 màu đen thu gicủa Nguyễn Hữu V, đây i sn rng của
Vn, không L quan đến hành vi phạm tội của bo nên cần tr lại cho bcáo.
- Đối với 01 điện thoại Apple Iphone 5 màu trắng thu giữ của PH Quang T,
đây i sản riêng của bị cáo, không L quan đến hành vi phạm tội của bị cáo
nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại Nokia 105 màu đen kèm theo mt sim điện thoại
Vinaphone số Seri 89840200010948511365 thu giữ của PH Quang T. Bị cáo đã
7
sử dụng chiếc điện thoại này để L lạc mua bán ma y. Do đó, cần tịch thu, nộp
ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: Bcáo Nguyễn Hữu V PH Quang T phải chịu tiền án phí
hình sự thẩmtheo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí
Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội dA: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu V PH Quang T phạm
tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
[2] Về hình phạt:
Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 58; Điểm s khoản 1 Điều
51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu V 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng
tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo 30/8/2020.
Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 58; Điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 98 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo PH
Quang T 05 (Năm) m tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị
cáo 30/8/2020.
[3] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật nh sự; Điểm a khoản 2, điểm a
khoản 3 Điều 106 Bộ luật ttụng nh sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 t niêm phong in sẵn của phòng kỹ thuật nh sự
ng an tỉnh Lào Cai, trên một mặt của niêm phong ghi "Vật chứng còn lại
sau tch mẫu giám định thu giữ trong vụ PH Quang T Nguyễn Hữu V "Mua n
trái phép chất ma túy". Pt hiện và thu giữ ngày 29/8/2020 tại tổ 2, phường S, th
S, tỉnh Lào Cai.
Tịch thu, nộp nn sách n nước:
- 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, số seri353101112482418, kèm theo
một sim điện thoại Vinaphone số Seri 89840200010948511365 đăng thuê
bao 0346.875.873 thu giữ của PH Quang T.
Trả lại các tài sản:
- Trả lại cho bị cáo PH Quang T 01 điện thoại Apple Iphone 5 màu trắng,
số seri DNPJM18KF8GK, kèm theo một sim điện thoại Vinaphone số seri
89840200010598539724 đăng ký thuê bao 0942.283.795.
- Trả lại cho bị áo Nguyễn Hữu V 01 điện thoại Apple Iphone X màu trắng,
số máy MQAD2VN/A, số seri DNPYP30FJCLT 01 điện thoại di động nhãn
hiệu Nokia 105 màu đen.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị Sa Pa với
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sa Pa ngày 17/11/2020.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23
nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí
8
Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu V PH Quang T mỗi b cáo phải chịu
200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bcáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu V trong thời hạn 45 ngày để đảm bảo cho
việc thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b,
9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi nh án được thực hiện theo Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh;
- VKSND thị xã SP 2.
- Công an thị xã Sa Pa;
- PV 06 Công an tỉnh;
- Sở tư pháp tỉnh;
- Bị cáo 2;
- THADS thị xã Sa Pa;
- Lưu Hồ sơ HS, HSTHA, TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh T
Tải về
Bản án số 27/2020/HS-ST Bản án số 27/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất