Bản án số 23/2020/DS-PT ngày 17/02/2020 của TAND tỉnh Long An về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 23/2020/DS-PT ngày 17/02/2020 của TAND tỉnh Long An về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Long An
Số hiệu: 23/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/02/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái D "Tranh chấp quyền sử dụng đất" Võ Quốc C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
——————
Bản án số: 23/2020/DS-PT
Ngày: 17-02-2020
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
———————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hunh Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Kim Nga
Trịnh Thị Phúc
- Thư phiên a: ThThu Nga - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông
Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 ngày 17 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân
dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai ván thụ số 375/2019/TLPT-DS
ngày 19 tháng 12 năm 2019, về “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 133/2019/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2019
của Tòa án nhân dân huyện Đức H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 369/2019/QĐ-PT ngày
30 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái D sinh năm 1986 (có mặt);
Địa chỉ cư trú: Số 21A, đường Dương Minh Châu, khu phố X, phường Y,
thành phố Tây N, tỉnh Tây N.
- Bị đơn:
1. Ông Võ Quc C, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Người đại diện theo y quyền của Ông Quốc C: Đồng Thị B, sinh
năm 1968 (có mặt) (Theo văn bản ủy quyền ngày 23/9/2019)
2.Đồng Thanh T, sinh năm 1975 (có mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Lộc H, xã Lộc G, huyện Đức H, Tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đồng Thị B, sinh năm 1968 ( mặt);
2
2. Ông Võ Hoàng N, sinh năm 1959 (vắng mặt);
3. Ông Trần Văn Th, sinh năm 1969 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Lộc H, xã Lộc G, huyện Đức H, tỉnh Long An.
4. Ủy ban nhân dân huyện Đức H do ông Trần Văn Lành - chủ tịch.
Địa chỉ: Ô 7, Khu B, thị trấn Hậu N, huyện Đức H, tỉnh Long An.
Người đại diện theo y quyền: Ông Thanh Tuấn - Phó trưởng phòng tài
nguyên và môi trường huyện Đức H (vắng mặt) (theo văn bản ủy quyền số
8630/GUQ-CT ngày 23/10/2019).
- Người kháng o: Nguyên đơn Ông Nguyễn Thái D, b đơn Ông
Quốc C, bà Đồng Thanh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2018, đơn khởi kiện bổ sung ngày
03/10/2018, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ông Nguyễn Thái D do
Nguyễn Thị Cảnh người đại diện theo ủy quyền trình bày tại giai đoạn sơ
thẩm như sau:
Ông Nguyễn Thái D (con của C) chủ sdụng thửa đất 564, diện tích
704m
2
,
tờ bản đồ 14, tọa lạc tại Lộc G, huyện Đức H, tỉnh Long An theo cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất cấp ngày 02/10/2014. Do điều kiện nhà xa,
ông D không thường xuyên đến thăm đất nên Ông Quốc C Đồng Thanh
T mỗi người lấn sang đất ông D ngang 5m x dài 7m = 35m
2
để xây nbếp
chuồng heo. Do đó, Ông Nguyễn Thái D yêu cầu T ông C phải tháo dỡ tài
sản trên đất để trả lại cho ông D mỗi người 35m
2
đất thuộc thửa 564, tờ bản đồ số
14, tọa lạc tại xã Lộc G, huyện Đức H, tỉnh Long An.
Bị đơn Ông Võ Quốc C có văn bản trình bày tại phiên tòa sơ thẩm như sau:
Ông là chsử dụng thửa 570, tờ bản đồ 14, tọa lạc tại xã Lộc G, có diện tích
là 150m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 07/7/2014. Nguồn gốc
đất là do ông N, B (cha mông) mua của ông Triệu (cậu của ông D) vào năm
1993 và sau đó tặng cho ông. Khi mua cha mẹ ông mua ngang 5m x 30m tính từ b
kênh trong đo vào sdụng đất xây n, chuồng heo từ năm 1993 đến nay. Đến
năm 2014, cha ông mới sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông đứng
tên. Quá trình sử dụng đất gia đình ông sử dụng đúng hiện trạng chưa xảy ra tranh
chấp gì với ông Triệu. Đến khi Ông Nguyễn Thái D mua lại đất của ông Triệu
phần đất phía sau đất nhà ông thì ông D lại tranh chấp với gia đình ông. Năm 2018,
Nhà nước thông báo cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cán bộ địa
chính đo từ đường nhựa trở vào nên diện tích đất nhà ông tăng lên 193m
2
(vấn đề này ông đang làm thủ tục chỉnh lý). Trước đây, theo yêu cầu của Ông
Nguyễn Thái D, cán bộ địa chính Lộc G mời mẹ ông Đồng Thị B cùng
dự đo đạc vị trí đo tính tbờ kênh trong đo vào là 150m
2
. Nay ông D yêu cầu ông
trả phần đất diện tích 35m
2
thì ông không đng ý.
Bị đơn bà Đồng Thanh T trình bày tại cấp sơ thẩm như sau:
3
Năm 1998, bà mua một phần đất của ông Nguyễn Văn Triệu (cậu ông D)
ngang 5m x 30m tính từ mí kênh trong trở vào. Năm 2000, bà được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thửa 571 tờ bản đồ số 14 Lộc G, huyện Đức H, tỉnh
Long An. Tkhi mua đất đã sdụng xây nhà đến nay không ai tranh chấp
chấp về ranh giới quyền sử dụng đất. Nay ông D cho rằng lấn 35m
2
xây nhà
bếp là bà không đồng ý.
Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đồng Thị B ông Hoàng N
(cha mẹ của ông D) trình bày:
Ông thống nhất lời trình bày của Ông Võ Quốc C. Thửa đất 570, tờ bản
đồ 14 Lộc Giang do ông nhận chuyển nhượng của ông Triệu vào năm 1993
ngang 5m x 30m tính từ bờ kênh trong trở vào. Ông Triệu giao đất cho ông
sử dụng xây nhà, xây chuồng heo từ năm 1993 đến nay, không ai tranh chấp. Nay
ông D yêu cầu con bà tên Võ Quốc Công trả 35m
2
thì ông bà không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Th trình bày:
Ông Thượng là chồng của bà Đồng Thanh T, ông thống nhất lời trình bày
của bà T không ý kiến gì bổ sung gì thêm.
Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện Đức H trình
y:
Nguồn gốc diện tích 704m
2
, thuộc thửa 564, tờ bản đồ 14, tọa lạc tại Lộc
G do Ông Nguyễn Thái D nhận chuyển nhượng tông Phan Minh Hoàng và bà Lê
Thị Long năm 2014. Ủy ban nhân dân huyện Đức H cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho Ông Nguyễn Thái D vào ngày 02/10/2014 với diện tích đất nêu trên
là căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D với bên ông Hoàng và bà Long
được Văn phòng công chứng số 4 tỉnh Long An chứng thực ngày 27/7/2014 tại
hợp đồng số 6700, quyển số 14 TP/CC SCC/HĐGD. Trong hồ sơ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho Ông Nguyễn Thái D năm 2014 không đo đạc thực
tế, chỉ có trích lục bản đồ địa chính do Văn phòng đăng ký đất đai kiểm duyệt ngày
27/8/2014.
Nguồn gốc thửa đất 570, tờ bản đồ 14, đất tọa lạc tại Lộc G do ông
Thái Dương nhận tặng cho từ ông Hoàng N bà Đồng Thị B năm 2014. Ủy
ban nhân dân huyện Đức H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông
Quốc C ngày 07/7/2014 căn cứ vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa
ông Hoàng N Đồng Thị B với Ông Quốc C được Văn phòng công
chứng Tân Mỹ chứng thực tại hợp đồng số 497 quyển số 01 TP/CC SCC/HĐGD
ngày 07/3/2014. Trong hồ cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho Ông
Quốc C vào năm 2014 không đo đạc thực tế đất, chỉ có trích lục bản đồ địa
chính do Văn phòng đăng ký đất đại kiểm duyệt ngày 04/3/2014.
Nguồn gốc thửa đất 571, tbản đồ số 14, đất tọa lạc tại Lộc G diện
tích 150m
2
, loại đất ONT do bà T được công nhận quyền sử dụng đất năm 2000
(đăng lần đầu). Năm 2013, Đồng Thanh T đơn đăng cấp đổi Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 06/8/2015, Ủy ban nhân dân huyện Đức H
cấp đổi giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho Đồng Thanh T với diện tích
4
193,7m
2
tại thửa 17 (thửa 571) tờ bản đồ 52, Lộc G loại đất ONT thể hiện
có đo đạc thực tế đất.
Vụ án được Tòa án cấp thẩm tiến hành hòa giải nhưng các đương sự
không thỏa thuận được với nhau.
Tại bản án dân sự thẩm số 133/2019/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2019
của a án nhân dân huyện Đức H đã căn cứ Điều 35, Điều 184, Điều 186, Điều
271, Điều 273 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 100 và Điều 166
Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Ông Nguyễn Thái D do Nguyễn Thị
Cảnh đại diện tranh chấp: “Quyền sử dụng đất” với Đồng Thanh T và Ông
Quốc C.
- Gi nguyên hiện trạng quyền sử dụng đất tranh chấp cho bà Đồng Thanh T
diện tích 34.5m
2
thuộc thửa 17 tờ bản đồ 52 Lộc Giang (thửa là 751 tờ bản đồ
14 Lộc Giang); giữ nguyện hiện trạng quyền sử dụng đất tranh chấp cho Ông
Quốc C diện tích 35.1m
2
thuộc thửa 16 tờ bản đồ 52 Lộc Giang (thửa 570 tờ
bản đồ 14 Lộc Giang). Đính kèm mảnh trích đo do Chi nhánh văn phòng đăng
đất đai tại huyện Đức H duyệt ngày 29/5/2019.
- Buộc Đồng Thanh T liên đới ông Trần Văn Th bồi thường trị giá đất
cho Ông Nguyễn Thái D là 8.730.000đồng.
- Buộc Ông Quốc C bồi thường thị giá đất cho Ông Nguyễn Thái D
9.930.000đồng.
Áp dụng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tính lãi chậm thi hành.
2. Vđo đạc, định giá xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Thái D
phải chịu 4.516.000đồng (đã nộp xong). Buộc Đồng Thanh T Ông Quốc
C mỗi người phải nộp 2.250.000đồng hoàn trả cho Ông Nguyễn Thái D.
3. Án phí: Buộc Ông Nguyễn Thái D phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ
thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền
1.000.000đồng mà ông D đã nộp theo các biên lai thu số 3457 ngày 08/10/2018 và
2874 ngày 16/5/2018 tại Chi cục thi hành án huyện Đức H. Hoàn lại cho Ông
Nguyễn Thái D 700.000đồng theo các biên lai nêu trên. Buộc Ông Võ Quốc C phải
nộp 496.500đồng án pdân sự thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Buộc
Đồng Thanh T phải nộp 436.500 đồng án phí dân sự thẩm sung vào Ngân sách
Nhà nước.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về quyền, thời hạn kháng cáo, quyền và
nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật,
Ngày 19/9/2019, nguyên đơn Ông Nguyễn Thái D kháng o không đồng ý
bản án thẩm, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bđơn
5
tháo dcông trình kiến trúc trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho ông D phần
đất ông C, bà T đã lấn chiếm.
Ngày 23/9/2019, bđơn bà Đồng Thanh T kháng kháng cáo không đồng ý
bản án sơ thẩm, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 01/10/2019, bđơn Ông Quốc C do bà Đồng Thị B đại diện theo
ủy quyền kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm, đnghị không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các đương sthỏa thuận được với nhau toàn bnội dung ván. Các đương
sthống nhất trình bày: Đồng Thanh T được tiếp tục sử dụng phần đất tranh
chấp diện tích 34.5m
2
; Ông Võ Quốc C được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích
35.1m
2
. Bà Đồng Thanh T và Ông Quốc C mỗi người nghĩa vtrcho Ông
Nguyễn Thái D số tiền 20.000.000đồng là giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân n tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm và
các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của
nguyên đơn và bị đơn trong thời hạn luật định đủ điều kiện để xem xét theo trình tự
phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa, các đương sthỏa thuận được với nhau toàn b
nội dung ván. Đồng Thanh T được tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp diện
tích 34.5m
2
; Ông Quốc C được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 35.1m
2
.
Bà Đồng Thanh T và Ông Quốc C mỗi người nghĩa vtrcho Ông Nguyễn
Thái D số tiền 20.000.000đồng là giá trquyền sử dụng đất tranh chấp. Thỏa thuận
của các đương sự là tnguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội
đồng xét xghi nhận, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo nguyên đơn, bđơn được làm đúng
theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp
nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên a các đương sự vắng mặt
thuộc trường hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án
vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, thấy rằng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án, c thể như sau: Đồng Thanh T được tiếp tục sdụng phần đất
có diện tích 34.5m
2
, thuộc một phần thửa s01 và s17, tờ bản đồ 52, tọa lạc tại
Lộc G, huyện Đức H, tỉnh Long An. Đồng Thanh T nghĩa vụ bồi thường
giá trị quyền sdụng đất cho Ông Nguyễn Thái D với số tiền 20.000.000đồng.
Ông Quốc C được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 35.1m
2
thuộc một
phần thửa s01 và s16, tờ bản đồ 52, tọa lạc tại Lộc G, huyện Đức H, tỉnh
6
Long An. Ông Quốc C nghĩa vụ bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho
Ông Nguyễn Thái D với số tiền 20.000.000đồng (Vtrí, t cận khu đất được xác
định theo Mảnh trích đo bản đđịa chính do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai
tại huyện Đức H đo vẽ ngày 24/5/2019 và xét duyệt ngày 29/5/2019).
Do các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, việc
thỏa thuận của các đương sự hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của
luật, không trái đạo đức hội và phù hợp với quy định tại Điều 300 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận. Phát biểu của kiểm sát viên căn
cứ.
[4] Về chi phí đo đạc, định giá xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn
Thái D đã nộp tạm ứng số tiền 9.016.000đồng đã chi phí xong. Ông Nguyễn Thái
D phải chịu 4.516.000đồng, Ông Quốc C và bà Đồng Thanh T mi người phải
chịu 2.250.000đồng. Do Ông Nguyễn Thái D đã nộp tạm ứng trước nên Ông
Quốc C bà Đồng Thanh T mỗi người phải nộp 2.250.000đồng đhoàn trả cho
Ông Nguyễn Thái D.
[5] Về án phí dân sự thẩm: Ông Quốc C, bà Đồng Thanh T phải chịu
trên số tiền thanh toán cho Ông Nguyễn Thái D.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thái D, Ông Quốc C, bà
Đồng Thanh T mỗi người phải chu 300.000đồng.
[7] Các khoản khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực
pháp luật thi hành.
Vì các l trên,
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, Điều 26, Điều 35, Điều 38, Điều 39, Điều 147, Điều 184,
Điều 186, Điều 271, Điều 273, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân s năm 2015;
Điều 100 Điều 166 Luật đất đai 2013; Điều 26, 27, 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Thái D, Ông Võ Quốc C, bà
Đồng Thanh T.
Sửa một phần bản án dân s thẩm số 133/2019/DS-ST ngày 09 tháng 9
năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Đức H.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ông Nguyễn Thái D vviệc tranh
chấp quyền sử dụng đất với bđơn Đồng Thanh T Ông Quốc C. Công
nhận stự nguyện thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
1.1. Đồng Thanh T được tiếp tục sdụng phần đất có diện tích 34.5m
2
,
thuộc một phần thửa số 01 và s17, tờ bản đồ 52, tọa lạc tại Lộc G, huyện Đức
H, tỉnh Long An.
7
Đồng Thanh T nghĩa vụ tr cho Ông Nguyễn Thái D s tiền
20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) là giá trị quyền sử dụng phần đất diện tích
34.5m
2
, thuộc một phần thửa s01 và s17, tờ bản đồ 52, tọa lạc tại Lộc G,
huyện Đức H, tỉnh Long An.
1.2. Ông Quốc C được tiếp tục sử dụng phần đất có diện tích 35.1m
2
thuộc một phần thửa s01 và s16, tờ bản đồ 52, tọa lạc tại xã Lộc G, huyện Đức
H, tỉnh Long An.
Ông Quốc C nghĩa vụ tr cho Ông Nguyễn Thái D s tiền
20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) là giá trị quyền sử dụng phần đất diện tích
35.1m
2
thuộc một phần thửa s01 và s16, tờ bản đồ 52, tọa lạc tại xã Lộc G,
huyện Đức H, tỉnh Long An.
(V trí, t cận các khu đất được xác định theo Mảnh trích đo bản đđịa
chính do Chi nhánh văn phòng đăng đất đai tại huyện Đức H đo vẽ ngày
24/5/2019 và xét duyệt ngày 29/5/2019).
Các đương sự nghĩa vụ kê khai, đăng quyền sử dụng đất quyền sở
hữu tài sản đối với diện ch đất được xác định theo quy định của khoản 3 Điều
100, khoản 2 Điều 170 Luật Đất đai 2013.
Ông Nguyễn Thái D không được quyền ngăn cản Ông Võ Quốc C, bà Đồng
Thanh T thực hiện quyền của người được xác lập quyền sdụng đất theo bản án,
quyết định của Toà án.
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết
định của a án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
2. Về chi phí đo đạc, định giá xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn
Thái D đã nộp tạm ứng số tiền 9.016.000đồng, đã chi phí xong. Ông Nguyễn Thái
D phải chịu 4.516.000đồng, Ông Quốc C và bà Đồng Thanh T mi người phải
chịu 2.250.000đồng. Do Ông Nguyễn Thái D đã nộp tạm ứng trước nên Ông
Quốc C Đồng Thanh T mỗi người phải nộp 2.250.000đồng (hai triệu hai
trăm năm mươi nghìn đồng) đhoàn trả cho Ông Nguyễn Thái D.
3. Ván phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Ông Nguyễn Thái D không phải chịu án phí dân ssơ thẩm. Hoàn tr
cho Ông Nguyễn Thái D 1.000.000đồng (một triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo
các biên lai thu số 3457 ngày 08/10/2018 và 2874 ngày 16/5/2018 của Chi cục thi
hành án huyện Đức H, tỉnh Long An.
3.2. Buộc Ông Võ Quốc C phải chịu 1.000.000đồng (một triệu đồng).
3.3. Buộc bà Đồng Thanh T phải chịu 1.000.000đồng (một triệu đồng).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
4.1. Ông Nguyễn Thái D phải chịu 300.000đng (ba trăm nghìn đồng)
nhưng được trvào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân s
8
phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu s3685 ngày 19/9/2019 của Chi cục thi hành án
huyện Đức H, tỉnh Long An.
4.2. Ông Quốc C phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng
được trvào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sphúc
thẩm theo biên lai thu s 3721 ngày 01/10/2019 của Chi cục thi hành án huyện
Đức H, tỉnh Long An.
4.3. Bà Đồng Thanh T phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng
được trvào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sphúc
thẩm theo biên lai thu s 3722 ngày 01/10/2019 của Chi cục thi hành án huyện
Đức H, tỉnh Long An.
5. Vnghĩa vchậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành
án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi
suất quy định tại khoản 2 Điều 468 ca Bộ luật Dân sự năm 2015.
6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trong trường hp bn án được thi hành
theo quy định ti Điu 2 Lut thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s,
ngưi phi thi hành án dân s quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi
hành án, t nguyn thi hành hoc b cưỡng chế thi hành án theo quy đnh ti các
Điu 6,7 9 Lut Thi hành án dân s; thi hiu thi hành án được thc hin theo
quy định ti Điu 30 Lut thi hành án dân s.
7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tnh Long An;
- TAND huyn Đức H;
- Chi cc THADS huyn Đức H;
- Các đương s;
- Lưu: hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Hunh Th Hng Vân
Tải về
Bản án số 23/2020/DS-PT Bản án số 23/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất