Bản án số 21/2023/HS-PT ngày 31-05-2023 của TAND tỉnh Hà Nam về về tội tham ô tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2023/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 21/2023/HS-PT ngày 31-05-2023 của TAND tỉnh Hà Nam về về tội tham ô tài sản
Tội danh: 353.Tội tham ô tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hà Nam
Số hiệu: 21/2023/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/05/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Hoàng Đình V phạm tội Tham ô tài sản.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 21/2023/HS-PT
Ngày 31 - 5 - 2023.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thủy;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mai Hương và ông Nguyễn Quốc Trưởng.
- Thư phiên tòa: Đào Thị Lan Anh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông
Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử
phúc thẩm công khai ván hình sự phúc thẩm thụ lý số 24/2023/TLPT-HS ngày
03 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Hoàng Đình V do kháng cáo của bị cáo
đối với Bản án hình sự thẩm số 13/2023/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Đình V, sinh năm 1972 tại Nam; nơi trú: Thôn P, L,
huyện K, tỉnh Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Hoàng Văn Đ và Nguyễn Thị X; vợ Nguyễn Thị T 03 con, lớn nhất
sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại
ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Đình V: Ông Trần Trọng T - Luật sư
của Công ty Luật TNHH H, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Hà Nam, có mặt.
- Người bị hại không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị:
Thôn P, L, huyện K, tỉnh Nam; đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng
Văn M; chức vụ: Trưởng thôn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
2
Tháng 01 năm 2018, theo chủ trương của y ban nhân dân (UBND) tỉnh
Nam về việc sáp nhập thôn xóm thì xóm 5, xóm 6, xóm 7 L sáp nhập thành
thôn P; xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4 sáp nhập thành thôn P1, đều hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Tháng 01 năm 2019, Bùi T1 Hoàng Đình V
được nhân dân bầu làm Trưởng thôn nhiệm kỳ 2018 - 2021; đồng thời, kiêm
thư Chi bộ của thôn được giao nhiệm vụ, quyền hạn theo Điều 14 của Quyết
định số 37/2013/QĐ-UBND ngày 01/8/2013 của UBND tỉnh Nam theo
Hương Ước của thôn. Bà Hoàng Thị L là thủ quỹ và ông Hoàng Văn K kế toán
chung của hai thôn P và P1 (gọi tắt là thôn P), xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam.
Về hoạt động thu chi của thôn P: Theo quy ước của thôn cách thức hoạt
động thu chi qua các thời của Ban lãnh đạo thôn, mọi hoạt động thu chi của thôn
đều phải được đưa ra Chi bộ thôn họp bàn thống nhất triển khai tới mọi người
dân trong thôn tại các buổi họp Chi bộ họp nhân dân trong thôn, phải được sự
đồng thuận nhất trí của các cán bộ đảng viên và nhân dân thì mới được thu chi
theo kế hoạch. Mọi khoản tiền phát sinh khác ngoài kế hoạch đều phải báo cáo
trước Chi bộ để duyệt chi. Hàng năm, trước mỗi mùa vụ (Khoảng đầu tháng 7
đầu tháng 11) cấp ủy Chi bộ thôn họp thống nhất kế hoạch thu, chi mùa vụ (02
vụ/năm là vụ xuân và vụ mùa); sau đó, Bí thư, Trưởng thôn sẽ triển khai kế hoạch
thu chi cho toàn thể Chi bộ nhân dân trong thôn để thực hiện thu chi theo kế
hoạch. Hoàng Đình V thu tiền tnhân dân và nộp cho Hoàng Thị L ông
Hoàng Văn K. Sau cuối mỗi mùa vụ khi thu xong thì Bùi T1, Hoàng Đình V
cùng Hoàng Thị L, ông Hoàng Văn K quyết toán thu chi, viết phiếu, nhập tiền
vào quỹ sau đó sẽ đưa ra Chi bộ họp thông báo đến toàn thể nhân dân về các
khoản thu, chi mùa vụ các khoản thu chi phát sinh trong thôn. Cuối năm, ông
K tổng hợp thu chi làm báo cáo thu chi, tình hình quỹ thôn đưa cho Bùi
T1 xác nhận (Do thôn P không có thủ quỹ và kế toán riêng; vì vậy, việc ký xác
nhận chỉ có Bùi Lê T1) và triển khai toàn Chi bộ cùng nhân dân trong thôn biết.
Năm 2019, thực hiện dự án khu đấu giá quyền sử dụng đất tại xã L, huyện K
theo phương án bồi thường, hỗ trợ đất đai, tài sản, vật kiến trúc, cây trồng vật
nuôi, di chuyển mồ mả của các hộ bảnh hưởng bởi dự án được UBND huyện K
pduyệt theo Quyết định số 6114/QĐ-UBND ngày 05/8/2019, thôn P được bồi
thường số tiền 80.264.695 đồng. Ngày 21/01/2020, Hoàng Đình V nói với T1
Xuống UBND L, sau đó xuống Ngân hàng nông nghiệp lấy tiền đền cho
thôn”. Sau đó, Hoàng Đình V cùng Bùi T1 đến Ngân hàng ng nghiệp và
Phát triển nông thôn huyện K nhận tiền htrợ từ chị Trần Thị L1, cán bộ thủ quỹ
của Trung tâm phát triển quỹ đất, V nhận số tiền 80.264.695 đồng vào biên
bản nhận tiền; đồng thời, mang số tiền trên về nhà cất giữ trong tủ nhân.
Khoảng tháng 02 m 2020, Hoàng Đình V đã lấy số tiền 6.000.000 đồng để mua
điện thoại Iphone 6 Plus sử dụng cho bản thân; ngoài ra, V còn lấy số tiền
800.000 đồng để đi viếng đám hiếu trong thôn, số còn lại V tiếp tục cất giữ tại
nhà riêng nếu việc cần sử dụng V lấy ra để dùng. Trong thời gian giữ tiền, V
không họp dân, không công khai, không thông báo đến toàn thể nhân dân
không nộp vào quỹ của thôn theo quy định. Ngày 12/8/2021, UBND xã L nhận
được đơn tố cáo của công dân đối với hành vi của V. Ngày 18/8/2021, Hoàng
3
Đinh V đã nộp số tiền 80.264.695 đồng vào quỹ. Ngày 25/8/2021, UBND L
ban hành quyết định miễn nhiệm chức vụ Trưởng thôn nhiệm kỳ 2018 - 2021 đối
với Hoàng Đình V. Tháng 4 năm 2022, Hoàng Đình V bị xóa tên khỏi danh sách
Đảng viên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 S dự thảo Nghị quyết Chi bộ; 01 sổ Nghị quyết
Chi bộ thôn P1; 01 Báo cáo thu chi thôn P; 01 sổ Quyết toán vụ xuân thôn P năm
2021; 291 Phiếu thu, chi tiền quỹ thôn P từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 07 năm
2021; 01 Squỹ thôn P; 21 tờ tài liệu ghi chép bằng tay của Bùi T1 trong thời
gian giữ chức vụ thư, Trưởng thôn; Quyết định s 6113/QĐ-UBND ngày
05/8/2019 vviệc thu hồi đất của UBND L; 01 Danh sách tổng hợp giá trị bồi
thường, hỗ trợ của các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án; 01 Bảng tính bồi thường
06/TTPTQĐ về bảng tính gtrị bồi thường, hỗ trợ đất đai, cây trồng, vật nuôi và
các chính sách hỗ trợ trên đất; 01 Biên bản thanh toán bồi thường, hỗ trợ giải
phóng mặt bằng dự án; 01 Phiếu chi ngày 21/01/2020 của Trung tâm phát triển
quỹ đất; 01 Biên bản xác minh của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy L ngày
06/9/2021; 01 Quyết định số 64 ngày 25/8/2021 của UBND L; 01 Quyết định
số 01 ngày 02/01/2019 của UBND L; 01 Quyết định số 6114 ngày 05/8/2019
của UBND huyện K; 01 Quyết định số 01-QĐ/ĐV ngày 17/01/2020 của Đảng y
L; 01 Quyết định số 09-QĐ/ĐV ngày 16/11/2021 về việc thi hành kỷ luật; 01
Quyết định số 02-QĐ/ĐV ngày 17/01/2020 của Đảng ủy L; 01 Quyết định số
02/QĐ-UBND ngày 02/01/2019 của UBND xã L; 01 Quyết định số 65/QĐ-
UBND ngày 25/8/2021 của UBND L; 01 Quyết định số 10-QĐ/ĐV ngày
16/11/2021 của Đảng ủy L; 01 Biên bản nhận đơn tố cáo của công dân ngày
12/8/2021; 01 Biên bản làm việc ngày 17/8/2021; 01 Đơn tố cáo ngày 11/8/2021
của ông Tạ Văn N; 01 Đơn xin rút đơn tố cáo ngày 18/8/2021 của ông Tạ Văn N;
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám bên trong có 01 thẻ sim Viettel.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục số tiền 80.264.695 đồng để trả
lại cho thôn P, xã L. Người đại diện theo pháp luật thôn P không yêu cầu bồi
thường thêm về phần trách nhiệm dân sự.
Bản án hình sự thẩm số 13/2023/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2023 của
Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Nam đã căn cứ khoản 1 Điều 353;
điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a
khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự điểm a khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình V phạm tội “Tham ô
tài sản”; xử phạt Hoàng Đình V 03 năm 09 tháng tù. Ngoài ra, án thẩm n
quyền định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 08/3/2023, bị cáo Hoàng Đình V kháng cáo xin giảm hình phạt
hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 của
Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
4
của bị cáo; sửa một phần Bản án hình sự thẩm số 13/2023/HS-ST ngày
23/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Nam theo hướng xử
phạt bị cáo Hoàng Đình V từ 33 tháng đến 39 tháng không chấp nhận
kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Quan điểm bào chữa của Luật sư đề nghị Hội đồng xét xxem xét tất cả
các tình tiết giảm nhẹ bị cáo đã xuất trình tại cấp thẩm cấp phúc thẩm
để xử phạt bị cáo 24 tháng tù.
Bị cáo nhất trí với quan điểm của Luật đề nghị Hội đồng xét xcho
bị cáo được hưởng án treo.
Quan điểm của Viện kiểm sát xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt gần 100
triệu đồng nên không thể áp dụng mức hình phạt như đề nghị của Luật bị
cáo phạm tội thuộc trường hợp lợi dụng chức vụ để trục lợi. Do đó, không đủ
điều kiện được hưởng án treo; Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia
đình và các tình tiết của vụ án để giảm nhẹ cho bị cáo cho bị cáo được hưởng
án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, đơn thể
hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự
và hợp lệ cần được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định.
[2] Về tội danh: Lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của
đại diện bị hại và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ vụ án, nên đủ
sở đkết luận: Hoàng Đình V lợi dụng chức vụ thư Chi bộ và Trưởng Thôn
P, L, huyện K để chiếm đoạt tiền của tập thể, cụ thể: Ngày 21 tháng 01 năm
2020, Hoàng Đình V được Trần Thị L Thủ quỹ của Trung tâm Phát triển
quỹ đất huyện K giao tiền bồi thường hỗ trợ đất đai, tài sản, vật kiến trúc của
Thôn P, L, huyện K do bị ảnh hưởng bởi dán xây dựng khu đấu giá đất tại
L với số tiền 80.264.695 đồng. Sau đó, Hoàng Đình V mang số tiền
80.264.695 đồng về nhà mình cất giữ trong tủ nhân, không báo cáo trước Chi
bộ không họp dân, không thông báo công khai đến toàn thể nhân dân trong
thôn P, L không nộp số tiền 80.264.695 đồng vào quỹ của thôn theo quy
định. Đến khoảng tháng 02 năm 2020, V lấy số tiền 6.000.000 đồng mua chiếc
điện thoại Iphone 6 Plus để sử dụng nhân. Ngày 12 tháng 8 năm 2021, công
dân thôn P, L tố cáo hành vi của V nên ngày 18 tháng 8 năm 2021, Hoàng
Đình V đã nộp toàn bộ số tiền 80.264.695 đồng vào quỹ của Thôn P, L. Như
vậy, Bản án thẩm đã tuyên bố bcáo Hoàng Đình V phạm tội Tham ô tài
sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự căn cứ, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo giảm hình phạt của Hoàng Đình V, Hội đồng xét xử
5
thấy: Cấp thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như tự nguyện
khắc phục toàn bộ hậu quả; khai báo thành khẩn; gia đình công với cách
mạng; bản thân bị cáo đã tham gia quân đội hoàn thành nghĩa vụ quân sự;
trong quá trình công tác bcáo được tặng thưởng nhiều Giấy khen. Cấp thẩm
đã áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình s để giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu chứng
minh một phần nhân dân thôn P, xã L ký đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo; bản
thân bị cáo sức khỏe yếu (Do năm 2009 bị tai nạn giao thông gãy xương hố mắt
hiện vẫn đang phải nẹp); bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn; sau
khi xét x thẩm đã nộp toàn bộ số tiền án phí thể hiện sự ăn năn, hối cải của
bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội; đây những tình tiết giảm nhẹ mới
quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm
tội lần đầu không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. vậy,
cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bcáo như đề nghị của Viện kiểm sát để
thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người biết ăn năn hối cải, khắc
phục toàn bộ hậu quả.
[4] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho hội, bcáo đã lợi dụng chức
vụ, quyền hạn được giao để tham ô số tiền 80.264.695 đồng. Mặc dù, bị cáo
nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng hành vi
phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi
nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số
02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày
15/4/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp
dụng Điều 65 của Bộ luật Hình svề án treo”. vậy, kháng cáo xin hưởng án
treo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần
nên bị cáo không phải chịu án phình sự phúc thẩm. Đối với số tiền 200.000
đồng bị cáo đã nộp trước khi xét xử phúc thẩm tại Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cần ghi nhận để đối trừ khi thi hành án.
Các Quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Hoàng Đình V; sửa Bản
án hình sự thẩm số 13/2023/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Tán
nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
n cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của
Bộ luật Hình sự Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
6
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình V phạm tội “Tham ô tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo Hoàng Đình V 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn tù
tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Hoàng Đình V không phải chịu.
Ghi nhận bị cáo Hoàng Đình V đã nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim
Bảng, tỉnh Nam theo Biên lai số AA/2021/0000098 ngày 01 tháng 3 năm
2023 để đối trừ khi thi hành án.
Các quyết định khác của Bản án hình sự thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Hà Nam;
- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
- Phòng KTNV&THA Tòa án tỉnh Hà Nam;
- TAND huyện Kim Bảng;
- VKSND huyện Kim Bảng;
- Cơ quan CSĐT ng an huyện Kim Bảng;
- Chi cục THADS huyện Kim Bảng;
- UBND xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Bị hại;
- Bộ phận HCTP;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
Nguyễn Đức Thủy
Tải về
21-2023-HS- PT-HA-NAM.pdf 21-2023-HS- PT-HA-NAM.pdf

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

21-2023-HS- PT-HA-NAM.doc 21-2023-HS- PT-HA-NAM.doc

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất