Bản án số 21/2022/HNGĐ-ST ngày 11/07/2022 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 21/2022/HNGĐ-ST ngày 11/07/2022 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lộc Bình (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 21/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/07/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: . Về quan hệ hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST
Ngày 11-7-2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tuấn;
Bà Lường Bích Diệp.
-Thư ký phiên toà:Lý Thị Slỉnh Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc
Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên toà: Bà Hứa Thùy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2022 tại tr s Toà án nhân dân huyện Lộc Bình,
tỉnh Lạng Sơn xét xử thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số:
65/2022/TLST - HNGĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra t xử số:
23/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên
tòa số: 15/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 6 năm 2022; Thông báo chuyển
ngày xét xử số: 01/2022/TB-TA, ngày 04 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thị V, sinh năm 1990, trú tại: Thôn B, K,
huyn L, tnh Lng Sơn; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nông Văn T, sinh năm 1987, trú tại: Thôn B, K,
huyn L, tnh Lng Sơn; mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 18/5/2022, các lời khai sau đó tại
phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Mã Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị anh Nông Văn T được tự do tìm hiểu, tự
nguyện sống với nhau, được hai bên gia đình tổ chức cưới cho theo phong tục
địa phương, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân K, huyện L vào ngày
03/5/2012. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng bình thường, được một năm thì
anh Nông Văn T và chị xảy ra mâu thuẫn do anh Nông Văn T mải chơi, tụ tập
2
bạn bè, rượu chè, quan hngoài luồng, không chăm lo cho gia đình, chđã
khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Nông Văn T vẫn không thay đổi, do đó dẫn đến
việc chị anh Nông Văn T thường xuyên cãi chửi nhau. Xác định việc mâu
thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đến tháng 7/2020
thì chị bỏ đi làm công ty về nhà bố mđẻ sống tại thôn Tằm Chả, Khuất
sống đến nay, ly thân từ đó, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm
vợ chồng với anh Nông Văn T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được
nên xin được ly hôn.
Về con chung: 02 con chung là cháu Nông Trung T, sinh ngày
01/7/2012 cháu Nông Kim T, sinh ngày 23/01/2019. Các cháu hiện nay đang
sống cùng anh Nông Văn T. Khi ly hôn chị yêu cầu anh Nông Văn T người
trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con, anh Nông Văn T làm th
xây, thu nhập 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/tháng, chn định, các
cháu vẫn được anh Nông Văn T nuôi dưỡng, chăm sóc đầy đủ. Chị không cấp
dưỡng nuôi con chung cho anh Nông Văn T, nếu có điều kiện thì chị mua đồ cho
con theo khả năng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 03/6/2022, quá trình giải quyết vụ án
tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nông Văn T trình bày: V điều kiện kết hôn,
thời gian kết hôn con chung như chị Thị V trình y là đúng. Vợ chồng
không u thuẫn lớn chỉ do anh ng n T hay đi ăn uống, giao lưu bạn
, ngoài ra không n mâu thuẫn gì. Năm 2020 chị Thị V bỏ về nhà bố mẹ
đẻ sống tại thôn T, K, huyn L, tỉnh Lạng n anh cũng chưa từng về đón
chị Mã Thị V lần o. Chị Mã Thị V muốn đi hay ở là do chị quyết định, anh xác
định tình cảm với chị ThV còn nên anh không nhất trí ly hôn, mong muốn
được đoàn tụ cùng nuôi dạy con cái. Các con còn nhỏ nên anh cũng lo bố mẹ ly
hôn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, con lớn 10 năm nữa anh sẽ làm đơn ly hôn với chị
Thị V.
Về con chung: Anh Nông n T nguyện vọng được trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung cháu Nông Trung T, sinh ngày
01/7/2012 cháu Nông Kim T, sinh ngày 23/01/2019 đến khi con đủ 18 tui,
không u cu ch Th V cấp dưỡng nuôi con, từ khi ly thân các cháu đều
sống với anh, anh làm thợ xây, thu nhập 01 tháng là 7.000.000 đồng đến
8.000.000 đồng/tháng, chỗ ổn định, các cháu vẫn được nuôi dưỡng đầy đủ,
ngoài ra anh còn có bố mẹ đẻ hỗ trợ chămc các cháu. Từ khi chị Mã Thị V bỏ
đi cũng không vthăm nom con lần nào, con ốm gọi điện thoại báo thì chị
Thị V cũng không về.
V tài sn chung: Không u cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không
có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng
Sơn: Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải
quyết vụ án, tại phiên tòa thẩm, Thẩm phán, Hội đồng t xử, Thư Tòa án
3
thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện
đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71 Điều 72 Bộ luật Ttng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị Mã Thị Vanh Nông Văn T có mâu thuẫn do bất đồng
quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. ChThị V xác định nh
cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Mặc dù anh Nông
n T cho rằng anh còn tình cảm với chị Mã Thị V, mong muốn hòa giải đoàn tụ
để ng nhau nuôi dạy con cái nhưng không hành động n gắn tình cảm vợ
chồng. Tại phiên tòa, chị Thị V vẫn cương quyết ly hôn. Đnghị Hội đồng
xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật n nhân gia đình năm 2014 xử cho chị
Thị V được ly hôn với anh Nông Văn T. Về con chung: Xét thấy 02 con
chung cháu Nông Trung T, sinh ngày 01/7/2012 cháu Nông Kim T, sinh
ngày 23/01/2019 hiện nay đang sống học tập ổn định cùng với anh Nông Văn
T tại Thôn B, K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; anh Nông Văn T khả năng
điều kiện nuôi dạy con, có chỗ ở ổn định và có thu nhập khoảng 7.000.000 đồng
đến 8.000.000 đồng/01 tháng đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục
con chung, ch ThV cũng nhất trí anh Nông Văn T người trực tiếp nuôi
các con chung, anh Nông n T cũng yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung,
cháu Nông Trung T đã đủ 07 tuổi cũng nguyện vọng được sống với bố anh
Nông n T. Do đó, căn cứ các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhângia
đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung cháu ng Trung
T, sinh ngày 01/7/2012 cháu ng Kim T, sinh ngày 23/01/2019 cho anh
Nông n T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị ThV
chưa phải cấp ỡng nuôi con do anh Nông Văn T chưa yêu cầu. Về tài sản
chung, các đương sự không yêu cầu giải quyết, nợ chung: Không . Nguyên đơn
chị Mã Thị V phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét, thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết tranh chấp nuôi con khi ly hôn vì vậy quan hệ
pháp luật "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nông Văn T, cư trú tại Thôn B, xã K,
huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án
nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Chị Mã Thị V anh Nông Văn T
được tự do tìm hiểu và gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Giấy chứng
nhận số 19/2012, quyển số 01/2010, đăng ngày 03/5/2012, đây hôn nhân
hợp pháp được pháp luật công nhận bảo vệ. Theo nguyên đơn chị Thị
V xác định quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn, không hiểu nhau,
thường xuyên cãi cọ, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung,
4
chị Mã Thị V và anh Nông Văn T đã ly thân từ tháng 7/2020 đến nay, không còn
quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bị đơn anh Nông Văn T thừa nhận anh hay đi
ăn uống, giao lưu và cũng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, anh chưa về đón
chị lần nào, mặt khác tại phiên tòa anh Nông Văn T cũng thừa nhận anh không
nhất trí ly hôn cũng một phần do các con chung còn nhỏ, không muốn con bị
ảnh hưởng tâm lý vì bố mẹ ly hôn, đợi 10 năm nữa con lớn anh mới làm đơn xin
ly hôn với chị Thị V, hiện tại chị Thị V muốn đi hay do chị Thị
V, anh không giữ cũng không đuổi chị Mã Thị V. Hội đồng xét xử nhận thấy chị
Mã Thị V và anh Nông Văn T đã sống ly thân, không còn quan tâm yêu thương,
chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mc đích hôn nhân
không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, anh Nông Văn T không có
biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng trong thời gian vợ chồng sống ly
thân. Vì vậy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ theo quy định tại khoản
1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Thị V anh Nông Văn T 02 con chung
cháu Nông Trung T, sinh ngày 01/7/2012 Nông Kim T, sinh ngày
23/01/2019; tkhi ly thân cả 02 cháu sống với anh Nông Văn T, chị Thị V
anh Nông Văn T đều nhất trí khi ly hôn anh Nông Văn T người được trực
tiếp chăm sóc, giáo dục 02 con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Cháu
Nông Trung T ã đủ 07 tuổi) nguyện vọng được sống với bố. Anh Nông
Văn T thu nhập ổn định, làm thợ xây thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng
đến 8.000.000 đồng/tháng, mặt khác anh còn được bố mđhỗ trợ việc chăm
sóc các cháu các cháu từ khi ly thân vẫn sống cùng anh, được anh chăm c
đầy đủ, ổn định cuộc sống. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con
chung cháu Nông Trung T, sinh ngày 01/7/2012 cháu Nông Kim T, sinh
ngày 23/01/2019 cho anh Nông Văn T người được trực tiếp chăm c, nuôi
dưỡng, giáo dục hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật bảo đảm
quyền lợi tốt nhất cho các cháu. Chị Thị V chưa phải cấp dưỡng nuôi con
chung do anh Nông Văn T chưa yêu cầu.
[4] Về tài sản chung: Không đề nghị xem xét giải quyết; nợ chung: Không
có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát căn cứ, phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Thị V phải chịu án phí theo khoản 4
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân s điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vQuốc hội khoá
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản và sử dụng án phí lệ
phí Toà án.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều
83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm
a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mã Thị V được ly hôn với anh Nông
Văn T. (Giấy chứng nhận kết hôn s 19/2012, quyển s01/2010, đăng ngày
03/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn)
2. Về con chung: Giao 02 con chung cháu Nông Trung T, sinh ngày
01/7/2012 cháu Nông Kim T, sinh ngày 23/01/2019 cho anh Nông Văn T
người được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị
Mã Thị V chưa phải cấp dưỡng nuôi do anh Nông Văn T chưa có yêu cầu.
Chị Thị V quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được
cản trở chị Mã Thị V thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
án phí dân sự thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Xác nhận chị Thị V đã
nộp đủ 300.000 đồng (ba trăm nghìn) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án sAA/2021/0005127 ngày 23/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân s
huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh
Lạng Sơn;
- UBND xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Mai
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Hồng Trần Văn Tiến Nông Thị Huyền Trang
Tải về
Bản án số 21/2022/HNGĐ-ST Bản án số 21/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất