Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 28/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 28/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn |
| Số hiệu: | 18/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nông Thị T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28-9-2025
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung,
chia tài sản chung và vay nợ chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA
ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Chung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Thanh Hòa
Bà Vi Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
5 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 5 - Lạng Sơn tham gia
phiên toà: Ông Ma Văn Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân (huyện Đ cũ) nay là
Chi nhánh Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai
vụ
án thụ lý số 08/2025/TLST- HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025 và
quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 24/9/2025, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nông Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ đăng ký thường
trú: Thôn N, xã C, tỉnh Lạng Sơn, chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã C, tỉnh Lạng Sơn
có mặt.
Số định danh: 020188002082
- Bị đơn: Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1979; địa chỉ đăng ký thường trú
và chỗ ở: Thôn N, xã C, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
Số định danh: 020079001533
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng N2. Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B cũ nay là phường G,
Thành Phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng
Giám đốc Ngân hàng N2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Việt C -
Giám đốc Ngân hàng N2 Chi nhánh khu vực Đ, tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ: Thôn C,
xã Đ, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
2
2. Ngân hàng C4. Địa chỉ trụ sở chính: Số A, phố L, phường H, quận H
cũ, nay là phường H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông
Dương Quyết T1 - Tổng Giám đốc Ngân hàng C4. Người đại diện theo ủy
quyền: Ông Nguyễn Quốc B - Giám đốc Phòng C4 khu vực Đ, tỉnh Lạng Sơn;
địa chỉ: Thôn H, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên L; địa chỉ: Thôn K, xã Đ,
tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Văn T2 -
Chức vụ: Giám đốc, vắng mặt.
4. Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn. Người đại diện theo pháp luật:
Ông Nguyễn Công H - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Người đại diện theo ủy
quyền: Ông Vi Văn P, Phó trưởng Phòng Kinh tế - Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh
Lạng Sơn (theo văn bản ủy quyền số 798/QĐ-UBND, ngày 28/9/2025), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà
Nông Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ được gia đình
hai bên tổ chức làm đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và về
chung sống với nhau từ năm 2005, đến ngày 29/7/2011 mới đi làm thủ tục đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn theo quy định của pháp
luật. Trước khi kết hôn vợ chồng bà Nông Thị T được tự do tìm hiểu nhau, việc
kết hôn trên tinh thần tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn
vợ chồng sinh sống tại thôn N, xã C, tỉnh Lạng Sơn, cuộc sống chung của vợ
chồng rất hạnh phúc, vợ chồng luôn thương yêu nhau, cùng nhau chăm lo làm
ăn, chăm sóc gia đình và con cái. Đến năm 2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh
mâu thuẫn, nguyên nhân do là ông Dương Văn Đ chơi bời, cờ bạc khi thua tiền
về hay chửi bới, đánh đập bà Nông Thị T. Tháng 10 năm 2024 ông Dương Văn
Đ làm hàn cho xưởng gỗ Hùng C1 bị tai nạn lao động phải cưa 01 tay trái và đứt
03 ngón chân, chân phải 02 ngón giữa và trỏ, chân trái đứt 01 ngón giữa, sau khi
điều trị được 03 tháng đã đi lại bình thường, ông Dương Văn Đ chửi bới và đuổi
bà Nông Thị T ra khỏi nhà, bà Nông Thị T đã bỏ nhà đến sinh sống tại nhà tạm
quây bằng tôn trên đất của bố mẹ đẻ chia cho. Trong thời gian bà Nông Thị T
sống ly thân ông Dương Văn Đ đã nhiều lần nhắn tin lên mạng xã hội Facebook
xúc phạm danh dự, nhận phẩm bà Nông Thị T, bà Nông Thị T đã trình báo với
Công an để đề nghị ông Dương Văn Đ không được đăng thông tin hình ảnh sai
sự thật xúc phạm danh dự nhân phẩm của bà Nông Thị T. Bà Nông Thị T xác
định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Nông Thị
T được ly hôn với ông Dương Văn Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung tên là Dương Lệ B1,
sinh ngày 06/6/2006 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết; Dương
Bảo T3, sinh ngày 26/02/2008; Dương Bảo P1, sinh ngày 27/9/2020. Khi ly hôn
bà Nông Thị T yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo
3
dục cháu Dương Bảo T3 và yêu cầu ông Dương Văn Đ phải có trách nhiệm
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Dương Bảo P1, hai bên
không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Còn cháu Dương Lệ B1 hiện
nay đã trưởng thành bà Nông Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung:
1. 03 ha đất rừng có cây thông và cây keo tại C, thuộc thôn N, xã C, tỉnh
Lạng Sơn. Bà Nông Thị T cho rằng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên hai vợ chồng, nguồn gốc đất là do Công ty L trả lại. Kết quả
xem xét thẩm định tại chỗ xác định đất là tài sản chung của vợ chồng bà Nông
Thị T đang quản lý thuộc một phần thửa đất số 57, tờ bản đồ địa chính đất lâm
nghiệp số 01 của xã C cũ, có ký hiệu thửa tạm là 57.1, diện tích 24.810m
2
, vị trí
đỉnh thửa là A1, A2, A3, A4, A5, A8, A9.
2. 03 ha đất rừng sản xuất tại Cốc P, thuộc thôn N, xã C, tỉnh Lạng Sơn.
Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai vợ chồng,
nguồn gốc đất là do vợ chồng tự khai phá. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ
xác định đất là tài sản chung của vợ chồng bà Nông Thị T đang quản lý và đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa đất số 126, tờ
bản đồ đất Công ty L trả lại địa phương số 6 của xã C cũ, (theo Bản đồ giao đất
lâm nghiệp xã C năm 2008 số 1LN, thuộc một phần thửa đất số 134), có ký hiệu
thửa tạm là 134.1, diện tích 25.174m
2
, vị trí đỉnh thửa là A1, A2, A3, A4, A5,
A6, A8, A9, A10, A11, A15, A16, A17.
3. 03 ha đất rừng sản xuất tại K giữa, thuộc thôn N, xã C, tỉnh Lạng Sơn.
Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai vợ chồng,
nguồn gốc đất là do Công ty L trả lại. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác
định đất là tài sản chung của vợ chồng bà Nông Thị T đang quản lý thuộc một
phần thửa đất số 93 tờ bản đồ đất Công ty L trả lại địa phương số 6 của xã C cũ
(theo Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã C năm 2008 số 1LN thuộc một phần thửa
đất số 103), có ký hiệu thửa tạm là 103.1, diện tích 19.550,7m
2
, vị trí đỉnh thửa
là A1, A2, A3, A4, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13.
4. 02 ha đất rừng sản xuất tại K ngọn, thuộc thôn N, xã C, tỉnh Lạng Sơn.
Chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguồn gốc đất là do Công ty
L trả lại. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định đất là tài sản chung của vợ
chồng bà Nông Thị T đang quản lý thuộc một phần các thửa đất số 82 và 147 tờ
bản đồ đất Công ty L trả lại địa phương số 6 của xã C cũ (theo Bản đồ giao đất
lâm nghiệp xã C năm 2008 số 1LN thuộc một phần thửa đất số 117), có ký hiệu
thửa tạm là 117.1, diện tích 9.008m
2
, vị trí đỉnh thửa là A1, A2, A3, A4, A5, A6,
A7, A8.
5. 01 ngôi nhà 2 tầng, có một tầng hầm diện tích mỗi sàn là 42m
2
, 01 nhà
ống 28m
2
được xây trên diện tích ở và vườn khoảng 200m
2
, tại địa chỉ: Thôn N,
xã C, tỉnh Lạng Sơn, đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định đất là tài sản chung của vợ chồng bà
Nông Thị T đang quản lý thuộc một phần thửa đất số 22 tờ bản đồ địa chính số
4
31 của xã C cũ, có ký hiệu thửa tạm là 22.1, diện tích 392,2m
2
, vị trí đỉnh thửa là
A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10 có hàng rào bao bọc xung quanh.
Đối với đất và tài sản trên đất khi ly hôn bà Nông Thị T yêu cầu được chia
phần của bà Nông Thị T được quản lý, sử dụng là phần diện tích đất thuộc một
một phần thửa đất số 93 tờ bản đồ đất Công ty L trả lại địa phương số 6 của xã C
cũ (theo Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã C năm 2008 số 1LN thuộc một phần
thửa đất số 103), có ký hiệu thửa tạm là 103.1, diện tích 19.550,7m
2
, vị trí đỉnh
thửa là A1, A2, A3, A4, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13 và yêu cầu được
sở hữu toàn bộ cây keo bà Nông Thị T mới đầu tư trồng trên đất.
Các phần diện tích đất và tài sản trên đất khác của 02 vợ chồng. Khi ly
hôn bà Nông Thị T để anh Dương Văn Đ được quyền quản lý, sử dụng đất và sở
hữu toàn bộ tài sản trên đất.
- Tiền đền bù giải phóng mặt bằng bếp và công trình phụ với số tiền
khoảng 80.000.000 đồng, hiện nay ông Dương Văn Đ đang giữ số tiền này. Bà
Nông Thị T yêu cầu chia đôi số tiền này mỗi người một nửa là 40.000.000 đồng.
Về các khoản nợ chung, cho vay chung: Tại đơn khởi kiện bà Nông Thị T
xác định không có vay nợ chung, nhưng bà Nông Thị T xác định bản thân bà
Nông Thị T có đứng tên vay với Ngân hàng A chi nhánh huyện Đ, tỉnh Lạng
Sơn số tiền 100.000.000 đồng từ năm 2024, mục đích vay về để thuê đất ông
Dương Văn N để trồng cây keo, hiện nay còn khoảng 13.000 cây keo trồng từ
năm 2024 là cây bà Nông Thị T tự đầu tư trồng nhưng ông Dương Văn Đ có góp
công sức trồng nên xác định cũng là tài sản chung nhưng trong đơn khởi kiện bà
Nông Thị T chưa yêu cầu chia vì còn liên quan đến ông Dương Văn N là người
bỏ đất để trồng cây nên cũng được 1/2 giá trị khi khai thác. Đối với số tiền
100.000.000 đồng bà Nông Thị T vay A, bà Nông Thị T tự chịu trách nhiệm trả
nợ không liên quan đến ông Dương Văn Đ.
Tại phiên tòa bà Nông Thị T trình bày về mâu thuẫn vợ chồng phát sinh
từ năm 2014 nguyên nhân do ông Dương Văn Đ không tu chí làm ăn, hay chơi
cờ bạc, nhiều lần có đánh bà Nông Thị T nhưng mỗi lần đánh xong vợ chồng
vẫn chung sống với nhau. Đến tháng 02 năm 2025 ông Dương Văn Đ chửi, lấy
cây sào móc áo và vứt bỏ áo bà ra ngoài nên bà bỏ nhà đi sinh sống tại nhà do
hai vợ chồng xây trên đất anh trai bà Nông Thị T, mới đầu bỏ đi mục đích chỉ để
dọa ông Dương Văn Đ, nếu ông Dương Văn Đ gọi để quay về thì bà vẫn quay
về chung sống cùng ông Dương Văn Đ, nhưng sau đó ông Dương Văn Đ không
gọi quay về còn đăng lên mạng xã hội bêu xấu bà nên bà yêu cầu giải quyết ly
hôn. Về con chung bà đề nghị được nuôi cả ba con chung không yêu cầu ông
Dương Văn Đ cấp dưỡng nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi ông Dương Văn Đ bà
Nông Thị T xác định hiện nay ông Dương Văn Đ chưa có khả năng lao động
nhưng sau này có thể tự chăm sóc được bản thân, hiện nay đã được hưởng trợ
cấp người khuyết tật và được người sử dụng lao động bồi thường và đóng bảo
hiểm cho, vì vậy bà không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi ông Dương Văn Đ. Về
tài sản chung của vợ chồng bà đề nghị rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung của
5
vợ chồng. Về vay nợ chung bà đề nghị cả hai vợ chồng cùng chịu trách nhiệm
trả nợ chung do hai vợ chồng cùng vay, còn nợ ai vay riêng thì người ấy tự chịu
trách nhiệm trả.
Bị đơn ông Dương Văn Đ trình bày: Ông Dương Văn Đ với bà Nông Thị
T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 29/7/2011,
việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc lừa dối, sau khi kết hôn
cuộc sống chung của vợ chồng rất hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng không có
mâu thuẫn gì xảy ra. Đến cuối tháng 10/2024 ông Dương Văn Đ đi làm tại
xưởng bóc gỗ của bà Hoàng Thị H1, tại thôn Q, xã C, tỉnh Lạng Sơn thì bị tai
nạn lao động, nay ông Dương Văn Đ đang được hưởng trợ cấp hàng tháng đối
với người khuyết tật. Đối với chủ doanh nghiệp là bà Hoàng Thị H1 chưa có trợ
cấp tai nạn lao động hàng tháng cho ông Dương Văn Đ, hiện nay ông Dương
Văn Đ đã bị cắt 01 tay trái từ trên khuỷu tay và bị vỡ xương cẳng chân phải; cắt
02 ngón áp út và ngón giữa chân phải; cắt ngón cái chân trái; gãy ngón giữa và
cứng khớp ngón trỏ tay phải. Từ khi ông Dương Văn Đ không có khả năng lao
động nuôi sống bản thân thì bà Nông Thị T có quan hệ với người đàn ông khác,
thường xuyên bỏ bê công việc gia đình, đến nay bà Nông Thị T đã chuyển hộ
khẩu và đưa 02 con gái lớn đến thôn Q, xã C sinh sống với người đàn ông khác
tên là Hoàng Thế P2, địa chỉ tại xã T, tỉnh Lạng Sơn. Ông Dương Văn Đ không
đồng ý ly hôn với bà Nông Thị T, vì vẫn còn tình cảm với bà Nông Thị T và vợ
chồng không có mâu thuẫn gì, bản thân ông Dương Văn Đ hiện nay không có
khả năng lao động, không có khả năng tự chăm sóc bản thân và không có khả
năng nuôi con, nếu ly hôn Tòa án giao các con cho bà Nông Thị T trong khi bà
Nông Thị Thủy sinh S cùng người đàn ông khác ông không yên tâm, ông Dương
Văn Đ đề nghị bà Nông Thị T về đoàn tụ gia đình để cùng trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục các con và chăm sóc bản thân ông, vì hiện nay ông không
có khả năng tự chăm sóc cho bản thân cũng không có khả năng chăm sóc con cái
và gia đình, cần có bà Nông Thị T để gánh vác công việc gia đình.
Về tài sản chung: Toàn bộ tài sản bà Nông Thị T trình bày và dẫn đạc khi
xem xét thẩm định tại chỗ đều là tài sản do bố mẹ ông Dương Văn Đ để lại, bà
Nông Thị T không có công sức đóng góp gì; bà Nông Thị T chỉ có công sức
cùng xây dựng ngôi nhà ông Dương Văn Đ đang ở, nhưng tiền là do ông bỏ ra
làm hết.
Về nợ chung: Vợ chồng ông có vay Ngân hàng N2, Chi nhánh khu vực Đ,
tỉnh Lạng Sơn và Ngân hàng C4, tại phòng G, nợ mỗi Ngân hàng số tiền
100.000.000 đồng, ông Dương Văn Đ chưa yêu cầu Tòa án giải quyết vì ông
chưa đồng ý ly hôn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng N2 trình bày: Căn
cứ hồ sơ vay vốn Ngân hàng N2 Chi nhánh Đ1 của bà Nông Thị T và ông
Dương Văn Đ gồm: Hợp đồng tín dụng số 8406-LAV-202400159 ngày
13/03/2024, số tiền giải ngân 100.000.000 đồng; dùng vào mục đích chung của
gia đình; thời hạn vay hạn mức 60 tháng. Đến nay dư nợ gốc là: 80.000.000
6
đồng; tiền lãi phát sinh. Hợp đồng này 2 ông bà cùng ký hợp đồng. Hợp đồng tín
dụng số 8406-LAV-202500462 ngày 11/06/2025, số tiền giải ngân 120.000.000
đồng; dùng vào mục đích chung của gia đình; thời hạn vay hạn mức 60 tháng.
Đến nay dư nợ gốc là: 114.000.000 đồng; tiền lãi phát sinh. Hợp đồng thấu chi
đứng tên bà Nông Thị T số 8406-LAV-202401490 ngày 30/12/2024 số tiền
30.000.000 đồng. Ngày 28/04/2025 vay tăng thêm 30.000.000 đồng thành tổng
dư nợ là 60.000.000 đồng. Ngân hàng xác định Hợp đồng tín dụng số 8406-
LAV-202400159 đây là khoản nợ dùng vào mục đích chung của gia đình, tại
thời điểm Ngân hàng cho vay đều đứng tên cả 2 ông bà cùng ký trong hợp đồng
tín dụng. Vì vậy 2 ông bà đều có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng cho đến hết
dư nợ. Hợp đồng số 8406-LAV-202500462 và Hợp đồng thấu chi số 8406-
LAV-202401490 bà Nông Thị T có trách nhiệm trả hết toàn bộ dư nợ tại 2 hợp
đồng này. Ngân hàng đề nghị Tòa án xét xử về nội dung vay nợ theo ý kiến của
Ngân hàng nêu trên và Ngân hàng vắng mặt không tham gia xét xử tại Tòa án.
Ngân hàng C4, trình bày: Ngân hàng C4 - Phòng C4 khu vực Đ, tỉnh Lạng
Sơn xác định bà Nông Thị T với ông Dương Văn Đ có nợ Ngân hàng chính sách
xã hội số tiền 120.000.000 đồng gồm 02 khoản vay, khi ly hôn Ngân hàng đồng
ý với quyết định của bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ. Sau khi có quyết
định của Tòa án, Phòng C4 khu vực Đ, tỉnh Lạng Sơn sẽ chịu trách nhiệm
hướng dẫn người vay làm thủ tục nhận nợ riêng theo quy định.
Ủy ban nhân dân xã C trình bày: Phần đất yêu cầu chia tài sản chung do
chị Nông Thị T dẫn đi đo đạc gồm 04 vị trí thuộc các thửa đất số 82, 147, 93,
107, 126, 109, 103, 131 tờ bản đồ số 6 đất công ty Lâm nghiệp trả về địa
phương, thửa số 22 tờ bản đồ số 31 (Bản đồ địa chính xã C), thửa số 57 tờ bản
đồ số 1 (Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã C). Toànbộ các thửa đất nêu trên đều
chưa được giao hồ sơ giao quyền quản lý và sửdụng rừng và đất trồng rừng. Bản
đồ đất do Công ty L trả về địa phương: Đã có quyết định trả lại đất của Công ty
từ những năm 2016, tuy nhiên công ty T4 chưa hoàn thiện và bàn giao bản đồ
cho xã nên tại xã không có hồ sơ đối với bản đồ này. Hiện nay, bản đồ có giá trị
pháp lý tại địa phương là Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã C năm 2008, Bản đồ
địa chính xã C năm 2010. Xác định đất Công ty trả về địa phương là đất Công ty
không quản lý, không có tài sản của Công ty trên đất, đất đã được nhân dân quản
lý, sử dụng ổn định và có tài sản trên đất.
Bà Vi Thị N1 là mẹ đẻ ông Dương Văn Đ khai: Về quan hệ hôn nhân bà
Nông Thị T với ông Dương Văn Đ không có mâu thuẫn gì, bà Nông Thị T tự bỏ
nhà đi sinh sống với người đàn ông khác sau khi ông Dương Văn Đ bị tai nan
lao động không có khả năng tự chăm sóc bản thân. Bà Vi Thị N1 hiện nay tuổi
đã cao, không có khả năng chăm sóc con trai là ông Dương Văn Đ và các cháu,
nếu bà Nông Thị T ly hôn ông Dương Văn Đ thì ông Dương Văn Đ và các con
của ông Dương Văn Đ không có nơi nương tựa. Đề nghị Tòa án cho bà Nông
Thị T về đoàn tụ gia đình với ông Dương Văn Đ để chăm lo cho gia đình và
nuôi dạy con cái. Về tài sản chung của vợ chồng: Đối với các phần diện tích đất
đã được xem xét thẩm định tại chỗ đều do hai vợ chồng bà Vi Thị N1 khai phá
7
để lại cho con trai là Dương Văn Đ, các phần diện tích đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hay chưa bà Vi Thị N1 không biết. Bà Nông Thị T
không có công sức đóng góp, tôn tạo gì nên việc bà Nông Thị T yêu cầu được
chia tài sản của vợ chồng bà không đồng ý.
Chị Dương Lệ B1, sinh ngày 06/6/2006 trình bày: Chị Dương Lệ B1 là
con chung của bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ. Chị Dương Lệ B1 sinh ra
và lớn lên được bố mẹ chăm sóc và học hành đầy đủ, hiện nay chị Dương Lệ B1
đã học hết lớp 12/12, đang chuẩn bị đi làm công nhân, chị Dương Lệ B1 có khả
năng lao động để tự nuôi sống bản thân không cần bố mẹ chăm sóc. Từ nhỏ chị
Dương Lệ B1 thấy bố hay đánh mẹ nguyên nhân tại sao chị Dương Lệ B1 không
biết, mỗi khi đánh nhau xong bố, mẹ vẫn chung sống với nhau. Đến đầu năm
2025 mẹ chị Dương Lệ B1 bỏ đi chỗ khác sinh sống, chị Dương Lệ B1 vẫn ở
cùng bố chăm sóc bố và các em, đến sau tết nguyên đán 2025 chị Dương Lệ B1
đến sinh sống cùng với mẹ là Nông Thị T tại thôn Q, xã C, tỉnh Lạng Sơn cho
đến nay. Hiện nay mẹ chị Dương Lệ B1 có thuê 02 người đàn ông là ông Hoàng
Viết P3 và ông Nông Văn C2 thịt lợn để bán, hai ông ở riêng, ăn riêng không
sinh hoạt chung cùng ba mẹ con chị Dương Lệ B1. Nguyên nhân bà Nông Thị T
bỏ nhà đi sinh sống riêng chị Dương Lệ B1 không biết.
Cháu Dương Bảo T3 trình bày: Cháu là con chung của mẹ Nông Thị T và
bố Dương Văn Đ. Cháu sinh ra và lớn lên được bố mẹ chăm sóc và học hành
đầy đủ, hiện nay cháu đang học lớp 12 Trường Trung học phổ thông D nội trú
tỉnh Lạng Sơn. Từ nhỏ cháu thấy bố hay đánh mẹ nguyên nhân tại sao cháu
không biết cụ thể như thế nào, mỗi khi đánh nhau xong bố mẹ vẫn chung sống
với nhau. Đến đầu năm 2025 mẹ bỏ đi chỗ khác sinh sống, khi cháu về nghỉ hè
cháu sinh sống cùng với mẹ cháu là Nông Thị T tại thôn Q, xã C, tỉnh Lạng Sơn.
Nay cháu đang đi học và sinh sống tại trường, việc chu cấp cho cháu ăn học chủ
yếu do mẹ cháu, còn bố cháu có chu cấp nhưng ít, từ khi bố cháu bị tai nạn cho
đến nay chưa chu cấp cho cháu bao giờ. Hiện nay mẹ cháu có thuê 02 người đàn
ông là Hoàng Viết P3 và Nông Văn C2 thịt lợn để bán, hai ông ở riêng, ăn riêng
không sinh hoạt chung cùng ba mẹ con cháu. Nguyên nhân mẹ cháu bỏ nhà đi
sinh sống riêng cháu không biết.
Biên bản xác minh ngày 17/9/2025 tại thôn N, xã C xác định: Ông Dương
Văn Đ và bà Nông Thị Thủy tổ C3 đám cưới theo phong tục tập quán địa
phương khoảng năm 2005, sau khi tổ chức đám cưới được một thời gian thì vợ
chồng về chung sống với nhau tại thôn N, xã C, tỉnh Lạng Sơn. Từ khi kết hôn
về chung sống tại thôn N, xã C không thấy vợ chồng có mâu thuẫn gì phải hòa
giải tại thôn. Ông Dương Văn Đ là người luôn chăm lo đời sống và là trụ cột
chính gia đình. Sau khi vợ chồng chung sống với nhau ông Dương Văn Đ luôn
quan tâm đến bà Nông Thị T, tạo điều kiện cho bà Nông Thị T đi học lớp nấu ăn
02 năm, sau đó cho bà Nông Thị T đi làm việc tại Trường Mầm non xã C, rồi
chuyển công tác đến Trường Mầm non C5 làm việc cho đến nay, ông Dương
Văn Đ còn chu cấp cho bà Nông Thị T đi học lấy giấy phép lái xe ô tô. Ông
Dương Văn Đ làm nghề nông nghiệp nhưng khi có thời gian ông Dương Văn Đ
8
vẫn làm những công việc khác để có thêm thu nhập chăm lo cho cuộc sống gia
đình. Đến khoảng tháng 9, tháng 10/2024 ông Dương Văn Đ đang làm công
nhân tại xưởng bóc gỗ ở thôn Q thì bị tai nạn lao động, hiện nay không có khả
năng lao động, cuộc sống phụ thuộc vào sự chăm sóc của anh chị em trong gia
đình và hàng xóm láng giềng. Sau khi ông Dương Văn Đ bị tai nạn lao động,
ban đầu bà Nông Thị T vẫn còn đi chăm sóc cho đến khi ra viện, được một thời
gian thì nghe thông tin dư luận xã hội đồn là bà Nông Thị T có quan hệ với
người đàn ông khác, sau đó thấy vào một buổi tối ông Dương Văn Đ tự bò bằng
một tay và lê chân đi ra đường, được hàng xóm nhìn thấy và đưa về nhà. Được
một thời gian sau không thấy bà Nông Thị T có mặt ở nhà cho đến nay và từ đó
ông Dương Văn Đ hay đăng lên mạng xã hội nội dung nói bà Nông Thị T bỏ đi
với người đàn ông khác trong khi chồng bị tai nạn không có khả năng lao động,
không có khả năng chăm sóc cho bản thân và chăm sóc các con còn nhỏ; được
một thời gian sau thì 02 con gái lớn chuyển đi sinh sống cùng với bà Nông Thị
T, còn một người con trai mới 05 tuổi vẫn chung sống cùng với ông Dương Văn
Đ. Sau một thời gian bà Nông Thị T bảo 02 con gái lớn đến đón con trai út và có
lời lẽ xúc phạm đến ông Dương Văn Đ, ông Dương Văn Đ không đồng ý, nhất
quyết không mở cổng, sau đó 02 con gái lớn bỏ đi về. Về điều kiện nuôi con:
Hiện nay ông Dương Văn Đ không tự chăm sóc được bản thân, không có khả
năng lao động nên không có khả năng nuôi con và tự nuôi bản thân, nếu ly hôn
thì cuộc sống của ông Dương Văn Đ và các con sinh sống cùng với ông Dương
Văn Đ phụ thuộc vào sự giúp đỡ của anh em trong gia đình và hàng xóm. Về
điều kiện của bà Nông Thị T nếu ly hôn thì bà Nông Thị T có điều kiện nuôi con
và cấp dưỡng được cho ông Dương Văn Đ cho đến khi chết. Về tài sản chung:
Bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ có 04 vị trí đất rừng đang quản lý, sử dụng
và đất nhà ở như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đã xác định, nhưng về nguồn
gốc đất là do bố mẹ đẻ của ông Dương Văn Đ để lại, riêng đất tại vị trí Cốc Mìn
vợ chồng có mua một phần với ông Dương Văn N. Về nhà ở có công sức của bà
Nông Thị T cùng đóng góp công sức để làm vào năm 2009. Ngoài ra bà Nông
Thị T và ông Dương Văn Đ còn có 01 căn nhà xây bằng gạch bê tông, lợp phi
bờ rô xi măng hiện nay bà Nông Thị T và 02 con đang sinh sống. Về nợ chung:
Vợ chồng có vay Ngân hàng N2 tại Chi nhánh khu vực Đ, mục đích vay về
trồng cây, số tiền vay bao nhiêu không nắm được. Ngoài ra khi bà Nông Thị T
bỏ đi ông Dương Văn Đ đã thuê người đi trồng cây keo tại vị trí Khe Cun giữa
(thửa đất số 126) như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đã xác định.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ
án đến trước khi xét xử, Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục,
tiến hành thu thập chứng cứ, hướng dẫn đương sự viết tự khai, lấy lời khai
nguyên đơn, bị đơn theo quy định, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt, niêm yết
các văn bản tố tụng đúng theo quy định. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của
pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực
9
hiện đúng quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Viện kiểm sát không có đề
nghị, kiến nghị gì.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158,
khoản 1 Điều 165; khoản 2 Điều 166; các Điều 217, 218 và khoản 2 Điều 244;
khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51,
khoản 1 Điều 56, các Điều 38, 69, 70, 71 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a
khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân,
xử không chấp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con chung và vay nợ chung của bà
Nông Thị T vì không có căn cứ. Đình chỉ giải quyết xét xử chia tài sản chung
của vợ chồng bà Nông Thị T với ông Dương Văn Đ do bà Nông Thị T tự
nguyện rút yêu cầu tại phiên tòa. Về chi phí tố tụng bà Nông Thị T phải chịu
toàn bộ chi phí tố tụng, xác nhận bà Nông Thị T đã nộp tạm ứng trước để chi.
Về án phí nguyên đơn bà Nông Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung,
chia tài sản chung và vay nợ chung, bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú:
thôn N, xã C, tỉnh Lạng Sơn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân huyện Đình Lập cũ nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lạng Sơn theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án ông Dương Văn Đ không có mặt
theo yêu cầu của Tòa án do không thể đi lại được, Tòa án đã đến nhà ông Dương
Văn Đ để tiến hành hòa giải nhưng các bên không đồng ý tiến hành hòa giải nên
vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có đề nghị xét
xử vắng mặt nên Tòa án căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng
dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan.
[2] Về quan hệ hôn nhân, xét thấy bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ có
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn, theo Giấy chứng nhận
kết hôn số 20/2011, ngày 29/7/2011 của Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Lạng Sơn,
việc kết hôn là tự nguyện không ai bị ép buộc, lừa dối nên được coi là hôn nhân
hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc.
Đầu tháng 02 năm 2025 sau khi ông Dương Văn Đ bị tai nạn lao động không thể
tự chăm sóc bản thân và gia đình, bà Nông Thị T đã tự bỏ đi nơi khác sinh sống
và đưa cả 02 con gái lớn đi theo trong đó có chị Dương Lệ B1 đã trưởng thành.
Bà Nông Thị T yêu cầu được ly hôn, ông Dương Văn Đ không đồng ý và có
10
nguyện vọng mong muốn bà Nông Thị T về đoàn tụ để chăm sóc ông Dương
Văn Đ; chăm sóc các con và quán xuyến công việc gia đình vì ông Dương Văn
Đ bị tai nạn lao động không còn khả năng tự chăm sóc bản thân và gia đình. Hội
đồng xét xử thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ
chưa xảy ra mâu thuẫn trầm trọng được thể hiện tại biên bản xác minh tại thôn
N, xã C, tỉnh Lạng Sơn. Tại phiên tòa bà Nông Thị T cũng xác định do chồng
dùng cây khều lấy áo của bà vứt ra ngoài nên bà bỏ đi đến nhà cũ do 02 vợ
chồng xây tại thôn Q, xã C ở là để dọa ông Dương Văn Đ, nếu ông Dương Văn
Đ gọi về thì bà vẫn tiếp tục quay lại sinh sống cùng ông Dương Văn Đ. Việc bà
Nông Thị T bỏ nhà đi sinh sống ở nơi khác và đem theo các con lớn, để lại con
nhỏ ở cùng với ông Dương Văn Đ là vi phạm nghĩa vụ của cha mẹ đối với con,
thiếu trách nhiệm, thiếu tình nghĩa đối với chồng mới bị tai nạn lao động không
còn khả năng chăm sóc bản thân. Hội đồng xét xử thấy quan hệ vợ chồng của bà
Nông Thị T với ông Dương Văn Đ không thuộc các trường hợp theo quy định
tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên không có căn cứ chấp nhận yêu
cầu ly hôn của bà Nông Thị T. Cần buộc bà Nông Thị T về đoàn tụ gia đình với
ông Dương Văn Đ để thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của vợ với chồng trong
thời gian chồng đang hoạn nạn và thực hiện nghĩa vụ của mẹ với con khi cha
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.
[3] Về con chung, bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ có 03 người con
chung tên là Dương Lệ B1, sinh ngày 06/6/2006 đã trưởng thành; Dương Bảo
T3, sinh ngày 26/02/2008; Dương Bảo P1, sinh ngày 27/9/2020 cần được sự
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục của bố mẹ, nhưng hiện nay ông
Dương Văn Đ không có khả năng tự chăm sóc được bản thân nên bà Nông Thị T
phải về đoàn tụ gia đình để cùng chồng trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và
giáo dục các con chưa trưởng thành.
[4] Về tài sản chung: Giữa ông Dương Văn Đ với bà Nông Thị T không
thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; quan điểm
của hai vợ chồng còn có sự mâu thuẫn trong việc xác định tài sản chung của vợ
chồng; còn một số tài sản chưa được các bên đương sự chứng minh đầy đủ, một
số tài sản chung là quyền sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và có liên quan đến người thứ 3. Tại phiên tòa bà Nông Thị T tự
nguyện xin rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, vì vậy Hội
đồng xét xử đình chỉ xét xử chia tài sản chung của vợ chồng và giải quyết hậu
quả của việc đình chỉ xét xử theo quy định. Bà Nông Thị T về đoàn tụ gia đình
cùng với ông Dương Văn Đ có trách nhiệm cùng chồng và con đã thành niên lao
động sản xuất tạo ra của cải vật chất để chăm lo cho cuộc sống gia đình.
[5] Vay nợ chung: Ngân hàng N2 xác định đối với các khoản vay chung
vợ chồng cùng chịu trách nhiệm trả, đối với khoản nợ riêng của ai thì người đó
tự chịu trách nhiệm trả. Ngân hàng C4 xác định nhất trí với các quyết định của
các đương sự về phân chia nợ, sau này có bản án Ngân hàng sẽ có trách nhiệm
hướng dẫn các đương sự nhận nợ riêng. Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn nên
về nợ chung hai vợ chồng bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ cùng có trách
11
nhiệm trả nợ gốc và lãi cho các Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết
cho đến khi hai vợ chồng tất toán xong các hợp đồng.
[6] Về chi phí tố tụng hết 46.500.000 đồng, bà Nông Thị T đã nộp tạm
ứng trước để chi, do tại phiên tòa bà Nông Thị T tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu
chia tài sản chung của vợ chồng, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử chia tài sản
chung của vợ chồng nên bà Nông Thị T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Xác
nhận bà Nông Thị T đã nộp tạm ứng trước số tiền 49.600.000 đồng để chi, số
tiền còn thừa là 3.100.000 đồng Tòa án đã trả lại cho bà Nông Thị T.
[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn bà Nông Thị T phải
chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung ngân sách Nhà
nước.
[8] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án, về điều luật
áp dụng và các vấn đề khác là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1
Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1 Điều
165; khoản 2 Điều 166; các Điều 217, 218 và khoản 2 Điều 244; các Điều 227
và Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 38, 69, 70, 71
Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nông
Thị T, bà Nông Thị T về đoàn tụ gia đình với ông Dương Văn Đ để trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dụng các con chưa thành niên.
2. Về con chung: Vợ chồng bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ cùng có
trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chưa thành
niên.
3. Về tài sản chung:
Đình chỉ xét xử chia tài sản chung của vợ chồng gồm các tài sản sau:
3.1. Diện tích đất 24.810m
2
và tài sản trên đất tại C, thuộc thôn N, xã C,
tỉnh Lạng Sơn thuộc một phần thửa đất số 57, tờ bản đồ địa chính đất lâm
12
nghiệp số 01 của xã C cũ, có ký hiệu thửa tạm là 57.1, diện tích, vị trí đỉnh thửa
là A1, A2, A3, A4, A5, A8, A9 và tài sản trên đất.
3.2. Diện tích đất 25.174m
2
và tài sản trên đất
thuộc một phần thửa đất số
126, tờ bản đồ đất Công ty L trả lại địa phương số 6 của xã C cũ, (theo Bản đồ
giao đất lâm nghiệp xã C năm 2008 số 1LN, thuộc một phần thửa đất số 134), có
ký hiệu thửa tạm là 134.1, vị trí đỉnh thửa là A1, A2, A3, A4, A5, A6, A8, A9,
A10, A11, A15, A16, A17.
3.3. Diện tích đất 19.550,7m
2
và tài sản trên đất thuộc một phần thửa đất
số 93 tờ bản đồ đất Công ty L trả lại địa phương số 6 của xã C cũ (theo Bản đồ
giao đất lâm nghiệp xã C năm 2008 số 1LN thuộc một phần thửa đất số 103), có
ký hiệu thửa tạm là 103.1, vị trí đỉnh thửa là A1, A2, A3, A4, A6, A7, A8, A9,
A10, A11, A12, A13.
3.4. Diện tích đất 9.008m
2
và tài sản trên đất thuộc một phần các thửa đất
số 82 và 147 tờ bản đồ đất Công ty L trả lại địa phương số 6 của xã C cũ (theo
Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã C năm 2008 số 1LN thuộc một phần thửa đất số
117), có ký hiệu thửa tạm là 117.1, vị trí đỉnh thửa là A1, A2, A3, A4, A5, A6,
A7, A8.
3.5. Diện tích đất 392,2m
2
và tài sản trên đất thuộc một phần thửa đất số
22 tờ bản đồ địa chính số 31 của xã C cũ, có ký hiệu thửa tạm là 22.1, diện tích,
vị trí đỉnh thửa là A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10.
3.6. Tiền đền bù giải phóng mặt bằng bếp và công trình phụ với số tiền
khoảng 80.000.000 đồng, hiện nay ông Dương Văn Đ đang giữ số tiền này.
Các đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án chia tài sản chung của vợ
chồng.
4. Về vay nợ chung: Vợ chồng bà Nông Thị T và ông Dương Văn Đ cùng
có trách nhiệm tiếp tục thực hiện các hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi
hai vợ chồng tất toán xong các hợp đồng.
5. Về chi phí tố tụng: Bà Nông Thị T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng
tổng số tiền 46.500.000 đồng (bốn mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Xác
nhận bà Nông Thị T đã nộp tạm ứng trước để chi.
6. Về án phí: Bà Nông Thị T phải chịu số tiền 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. Xác nhận
bà Nông Thị T đã nộp 5.000.000 đồng tiền án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng
án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23, số 0002891, ngày 21/01/2025, tại Chi
Cục Thi hành án dân sự huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn, số tiền trên được
chuyển vào tài khoản số 3949.0.01054441.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh
Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước khu vực V1 - Phòng nghiệp vụ 2. Sau khi trừ số
tiền án phí phải chịu, số tiền còn thừa lại là 4.700.000 đồng (bốn triệu bẩy trăm
nghìn đồng) trả lại cho bà Nông Thị T.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
13
quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND khu vực 5 - Lạng Sơn;
- Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- UBND xã Châu Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Công Chung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm