Bản án số 18/2020/DS-PT ngày 14/02/2020 của TAND tỉnh Sóc Trăng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 18/2020/DS-PT ngày 14/02/2020 của TAND tỉnh Sóc Trăng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Sóc Trăng
Số hiệu: 18/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/02/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà P yêu cầu bà C trả lại đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TNH SÓC TRĂNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 18/2020/DS-PT
Ngày: 14 02 2020
V/v tranh chấp đòi lại quyền sử
dụng đất bị lấn chiếm.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Văn Phụng.
Ông Nguyễn Hoàng Thành.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thanh Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 189/2019/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm
2019 về việc tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm.
Do Bản án dân sự thẩm số: 74/2019/DS-ST ngày 07/11/2019 của Tòa án
nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 277/2019/QĐ-PT ngày 26
tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Huỳnh Yến P, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 103A, p A, thtrấn
K, huyn S, tnh Sóc Trăng (Vng mt).
- B đơn:
1. Bà Thị C, sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện S, tỉnh Sóc Trăng
(Có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Thị C: Sơn Thị G, Luật
thực hiện trợ giúp pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh Sóc
Trăng (Có mặt).
2. Ông T, sinh m 1939; địa chỉ: Ấp N, H, huyện S, tỉnh Sóc Trăng
(Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông T: Ông Sa M, sinh năm 1980; địa chỉ:
Ấp N, H, huyện S, tỉnh Sóc Trăng người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy
quyền ngày 14/5/2019). (Có mt).
3. Bà Kiêm Th U, sinh năm 1941 (Chết ngày 19/4/2018).
2
- Người quyn lợi, nghĩa vliên quan:
1. Ông Lý Ư, sinh năm 1963 (Có mặt).
2. Ông Lý H, sinh năm 1966 (Có mt).
3.Lý Thị Sa A, sinh năm 1968 (Có mặt).
4.Lý Thị Ơ, sinh năm 1969 (Có mt).
5. Ông Lý R, sinh năm 1973 (Có mt).
6. Bà Lý Thị Sa V, sinh năm 1975 (Có mt).
7. Ông Lý Sa L, sinh năm 1978 (Có mt).
8. Ông Lý Sa M, sinh năm 1980 (Có mt).
9. Bà Lý Thị Sa K, sinh năm 1983 (Có mt).
Cùng địa chỉ: Ấp N, H, huyện S, tỉnh Sóc Tng.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Sa M: Sơn Thị G,
Luật thực hiện trợ giúp pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp Nhà nước tỉnh
Sóc Trăng (Có mặt).
10. Ngân hàng Thương mại cổ phần ; địa chỉ: Số 21, CL, quận Đ, thành phố
Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần QĐ: Ông
Quốc Ê, sinh năm 1979, địa chỉ: Số 26, LD, phường B, thành phS, tỉnh Sóc Trăng
người đại diện theo ủy quyền (n bản ủy quyền ngày 5/11/2019). (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn Ô, sinh năm 1953 (Vắng mặt).
2. Võ Thị Y, sinh năm 1950 (Vắng mặt).
3. Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1963 (Vắng mặt).
4. Nguyễn Thị Thanh O, sinh năm 1966 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp A, thị trấn K, huyện S, tỉnh c Trăng.
5. Bà Trần Thị ch Z; địa chỉ: Ấp An Định, thị trấn Kế ch, huyện Kế ch,
tỉnh Sóc Trăng (Vng mặt).
- Người phiên dịch: Ông Lý Q, giáo viên trường Trung học sở Thạnh Phú
(Có mặt).
- Ngưi kháng o: Bà Lý Thị C bị đơn và ông Lý Sa M là nời có quyền li,
nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án thẩm các tài liệu trong hồ vụ án, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
- Theo đơn khởi kiện ngày 11/03/2019 và các tài liệu trong hồ sơ, nguyên
đơn Huỳnh Yến P trình bày:
3
Phần đất thuộc thửa số 66, tờ bản đồ 84, diện tích 327m
2
, tọa lạc tại ấp A, thị
trấn K, huyện S mà đang sử dụng nguồn gốc đất của nhận chuyển nhượng
của ông Lý Văn D, lúc chuyển nhượng ông D đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất (QSDĐ) cắm cọc ranh với tất cả các hộ giáp đất này. Sau khi nhận
chuyển nhượng được một thời gian thì bà đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện
Kế Sách cấp Giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày 27/4/2015.
Năm 2011, cất nhà trên phần đất này, phần giáp đất ông T thì cất
chưa hết đất mà chừa lại một khoảng, khi đó ông T ng biết và có đến xem nhưng
không có ý kiến gì, lúc đó hai bên cũng không nói với nhau về việc bà cất nhà và
phần đất còn thừa lại giáp đất ông T bao nhiêu. Khi cất nhà thì các trụ ranh vẫn
còn.
Gần đây nhu cầu làm hàng rào nên muốn xác định ranh đất cho
ràng. Cuối năm 2018, bà yêu cầu địa chính thị trấn Kế Sách đo đạc để xác định ranh
thì phía bị đơn không đồng ý yêu cầu cán bộ địa chính Thới An Hội kết hợp
để đo nên cán bđịa chính Thới An Hội kết hợp với địa chính thị trấn Kế Sách
đo đạc nhưng bên bị đơn cũng không đồng ý với kết quả đo đạc, vì họ cho rằng các
cán bộ địa chính xác định ranh không đúng nhưng hcũng không xác định vị trí
nào đúng, nên nói sẽ khởi kiện tại Tòa án nhưng thời gian dài không kiện. Hiện
nay phần đất của ông T thì do các con ông T đang quản lý, sử dụng.
Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Lý Thị C, ông Lý T và bà Kiêm Thị U trả lại
cho phần đất lấn chiếm có diện tích 53m
2
tứ cạnh: Hướng đông giáp kênh
số đo 2,3m; hướng tây giáp thửa 67 có số đo 0,7m; hướng nam giáp phần đất của
P có số đo 35,14m; hướng bắc giáp đất ông T có số đo 35,14m.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Lý T, đồng thời là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lý Sa M trình bày:
Thửa đất số 49, tờ bản đồ 48, tại Ấp N, H, huyện S, tỉnh Sóc Trăng đất
của ông ông để lại, cha mẹ ông canh tác sau đó giao cho ông và bà Lý Thị C canh
tác hơn 20 năm nay. Gia đình ông canh tác phần đất này đến năm 2015 mới được
cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 3.924,6m
2
. Khi quan thẩm quyền
cấp Giấy chứng nhận QSDĐ có đo đạc, lúc đó bà P vẫn chưa sử dụng phần đất này
mà chbà Kim Thị I giáp ranh, sau này I mới bán phần đất này cho
bà Út J là mẹ của ông D mà bà P đã trình bày là người trực tiếp chuyển nhượng đất
cho bà P.
Sau khi đo đạc, khoảng 10 năm sau cha mẹ ông mới được cấp Giấy chứng
nhận QSDĐ, chỉ đo đạc duy nhất một lần vào năm 2004 theo biên bản xác minh ranh
giới, mốc giới, nguồn gốc thửa đất vào năm 2004 ông đã cung cấp cho Tòa án,
lúc đó đo bằng thủ công hay đo bằng máy ông không rõ, ông không do vì sao
diện tích cha mông được cấp giấy lại nhiều hơn so với thời điểm đo đạc vào
năm 2004, năm 2004 đo đạc thì diện tích 3.780m
2
nhưng khi cấp giấy thì được cấp
diện tích 3.924,6m
2
. Ngoài ra, vào năm 1999, nhà nước thu hồi một phần diện
tích trong thửa đất này là 60m
2
ở vị trí cặp lộ, số thửa cũ là thửa 1083, tờ bản đồ số
06.
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của P, phần đất gia đình ông đang
sử dụng là đúng với hiện trạng đất từ trước đến nay.
4
- Bị đơn bà Lý Thị C trình bày:
thống nhất với lời trình bày của ông Sa M về nguồn gốc thửa đất. Phần
đất của gia đình bà giáp đất mà Út J nhận chuyển nhượng của bà Kiêm Thị I có cọc
ranh ở đầu phía tây và phía đông nhưng không hiểu lý do vì sao chỉ còn cọc ranh ở
hướng tây, còn cọc hướng đông hiện nay không còn. Khi P nhận chuyển nhượng
đất từ ông D thì không cọc ranh. Gia đình bà không ai chứng kiến việc P
cắm cọc ranh. Khi P cất nhà gia đình biết nhưng không ý kiến gì, gia
đình cũng nhận thấy P cất lấn qua đất của bên bà nhưng gia đình không
dám nói. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông, bà Lý Ư, H, Thị Sa
A, Lý Thị Ơ, Lý R, Lý Thị Sa V, Lý Sa L, Thị Sa K trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của ông Lý Sa M và Thị C và không có ý
kiến trình bày bổ sung.
- Đại diện Ngân hàng Thương mại cphần , ông Quốc Ê trình bày:
P thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đvay tiền của Ngân
hàng Thương mại cphần QĐ, ngân hàng không ý kiến về việc tranh chấp này, đề
nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sự việc đã được Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải
quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2019/DS-ST ngày 07/11/2019 đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, điểm c khoản
1 Điều 39; khoản 2 Điều 229, Điu 147, Điều 157, Điu 165, Điều 266, Điều 271,
Điều 273, Điều 278, Điều 280, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 5 Điều 166, Điều 170 của Luật Đất đai năm
2013; căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; căn cứ khoản 4 Điều 26 Ngh
quyết s: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hi.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Yến P.
2. Buộc ông T, bà Thị C các ông, bà Ư, H, Thị Sa A,
Thị Ơ, R, Thị Sa V, Thị Sa L, Thị Sa K, Sa M trách nhiệm trả
lại cho Huỳnh Yến P một phần đất lấn chiếm diện tích 7,10m
2
, tứ cạnh:
Hướng đông giáp bờ mương số đo 0,20m; hướng tây giáp đất ông T (Thửa
49) có số đo 0,20m; hướng nam giáp đất bà P số đo 32,77m; hướng bắc giáp đất
ông Lý T (Thửa 49) có số 32,78m; đất này thuộc thửa số 66, tờ bản đồ số 84, tọa lạc
ấp A, thị trấn K, huyện S, tỉnh Sóc Trăng (Kèm Theo bản án là Sơ đồ hiện trạng thửa
đất ngày 4/4/2019 và Sơ đồ kèm theo bản án số 74/2019/DS-ST ngày 7/11/2019).
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí
tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/11/2019, bị đơn Thị C người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Sa M đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự thẩm số: 74/2019/DS-
ST ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Yêu cầu
Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà P.
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vliên
quan ông M giữ nguyên đơn kháng cáo; c đương sự không tự thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của Thị C ông M cho rằng
nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 53m
2
đất, sau đó thay đổi còn 34,01m
2
đất; theo
đồ Tòa án huyện Kế Sách thẩm định và so với Giấy chứng nhận QSDĐ hai bên đều
thiếu, nhưng bị đơn được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ chính quy nên số đo là chính
xác, nhưng thực tế hiện nay bị đơn sử dụng diện ch đất ít hơn diện tích đất được
cấp giấy. Mặt khác, những người làm chứng xác định trước đâybờ mẫu, khi bà P
cất nhà đã cất hết bờ mẫu hay không thì không biết, nhưng bờ mẫu hai bên vẫn còn;
hơn nữa mái nhà P che qua đất bị đơn, nên bị đơn không lấn chiếm đất của
nguyên đơn. Ngoài ra, P khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất diện tích
53m
2
và Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận 7,10m
2
, nhưng lại buộc bị đơn chịu 50%
tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản là thiệt thòi quyền lợi cho bị đơn. Vì vậy, đề
nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn và đề nghị căn cứ khoản 2 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để sửa Bản án dân sự thẩm của Tòa án nhân
dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà P.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh
Sóc Trăng là trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa
phúc thẩm thì HĐXX, Thư ký Tòa án những người tham gia tố tụng đã chấp hành
đúng pháp luật về tố tụng. Về nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ
trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định pháp luật có liên
quan đnghị HĐXX không chấp nhận nội dung kháng cáo của Thị C ông M
đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên
Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn ông T vắng mặt, nhưng người đại
diện hợp pháp tham gia phiên tòa; nguyên đơn bà Huỳnh Yến P, người đại diện hợp
pháp của Ngân ng Thương mại cổ phần ông Quốc Ê những người làm
chứng ông Nguyễn Văn Ô, Thị Y, ông Nguyễn Văn X, Nguyễn Thị Thanh
O, Trần Thị Bích Z vắng mặt không do, nên HĐXX căn cứ vào khoản 3 Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về người kháng cáo, nội dung, hình thức đơn kháng o thời hạn kháng
cáo của Thị C ông M đúng quy định tại Điều 271, Điều 272 khoản 1 Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên kháng cáo hợp lệ, được Tòa án chấp nhận
và tiến hành xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[3] Khi khởi kiện thì bà P xác định Kiêm Thị U bị đơn, nhưng U đã
chết vào ngày 19/4/2018 trước khi khởi kiện, chồng U ông T c con gồm:
Ông Ư, Lý Thị C, ông H, Lý Thị Sa A, Thị Ơ, ông R,
Thị Sa V, ông Sa L, ông Sa M, Thị Sa K; khi giải quyết vụ án có liên
quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa tất các các con
của U (Trông T Thị C bị đơn) vào tham gia tố tụng với tư cách ngưi
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng
6
dân sựm 2015.
[4] Về nguồn gốc đất: Nguồn gốc đất của P do P nhận chuyển nhượng
của ông Lý Văn D, bà P đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách cấp Giấy
chứng nhận QSDĐ vào ngày 27/4/2015 với diện tích 327m
2
, thuộc thửa đất số 66,
tờ bản đồ số 84, tọa lạc tại ấp A, thị trấn K, huyện S, tỉnh Sóc Trăng. Còn nguồn gốc
đất của phía các bị đơn do ông bà đlại cho ông T U; ông T và bà U đi đăng
ký và được Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách cấp Giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày
10/11/2015 với diện tích 3.924,6m
2
, thuộc thửa đất số 49, tbản đồ số 48, tọa lạc tại
Ấp N, xã H, huyện S, tỉnh Sóc Trăng (Hai thửa đất này giáp ranh với nhau).
[5] Xét kháng cáo của Thị C ông M về việc yêu cầu Tòa án nhân dân
tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của P. Xét
thấy, theo Giấy chứng nhận QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách cấp cho
P vào ngày 27/4/2015, thửa đất số 66, tờ bản đsố 84, với diện tích 327m
2
, nhưng
theo sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 04/4/2019 (BL số 226) thì thửa đất số 66, tờ bản
đồ số 84, có diện tích thực tế là 319,3m
2
(Thiếu 7,7m
2
). Còn theo Giấy chứng nhận
QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện Kế Sách cấp cho ông T và bà U vào 10/11/2015
thì thửa đất số 49, tbản đồ s48, diện tích 3.924,6m
2
, nhưng theo đồ hiện
trạng thửa đất ngày 04/4/2019 (BL số 226) tthửa đất số 49, tờ bản đồ số 48,
diện tích thực tế 3.889,5m
2
(Thiếu 35,1m
2
). Tuy nhiên, tại Biên bản xác minh ranh
giới, mốc giới, nguồn gốc thửa đất ngày 28/12/2004 thì thửa đất số 1083 (Thửa mới
49) diện tích 3.780m
2
(BL số 29) theo ông M trình bày, đối với thửa đất số
1083 (Thửa mới 49) o năm 2004 khi đo đạc chỉ diện tích 3.780m
2
, nhưng
ông không rõ lý do sao khi được cấp giấy thì có diện tích 3.924,6m
2
(BL số 205);
tại hồ kỹ thuật thửa đất ngày 04/8/2010 (BL số 138) được đo đạc chính quy thì
thửa đất mới số 49 diện tích 3.924,6m
2
, trên snày Ủy ban nhân dân huyện
Kế Sách cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông T và bà U; tuy nhiên, hồ sơ kỹ thuật
thửa đất ngày 04/8/2010 không những người tứ cạnh giáp ranh, n số liệu
chưa chính xác. Mặt khác, theo hồ kỹ thuật thửa đất ngày 04/8/2010 thì cạnh
hướng đông của thửa đất s49 vtrí số 6 đến 7 số đo 65,18m, còn theo sơ đồ
hiện trạng thửa đất ngày 04/4/2019 (BL số 226) thì cạnh hướng đông của thửa đất
số 49 vị trí số 7 đến 8 đến 9 đến 1 đã xác định đủ số đo 65,18m thì còn thừa 0,13m
nằm trong phần đất tranh chấp. Đồng thời, theo hồ kỹ thuật thửa đất ngày
04/8/2010 thì cạnh hướng tây của thửa đất số 49 vị trí số 1 1 đến 2 số đo
10,60m (10,04m + 0,56m), còn theo đồ hiện trạng thửa đất ngày 04/4/2019 thì
cạnh hướng tây của thửa đất số 49 vị tsố 4 đến 5 đã xác định đủ số đo 10,60m
thì còn thừa 2,53m là phần đất tranh chấp. Như vậy, thửa đất số 49 ngoài việc tăng
diện tích không căn cứ khi được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ thì hiện trạng đất
hiện nay vẫn còn thừa cạnh hướng đông là 0,13m và còn thừa cạnh hướng tây
2,53m chiều dài tương ứng với chiều dài thửa đất số 66 của P. Ngoài ra, so với
Biên bản xác minh ranh giới, mốc giới, nguồn gốc thửa đất ngày 28/12/2004 thì diện
tích thực tế thửa đất 1083 (Thửa mới 49) vẫn còn thừa diện tích 109,5m
2
. Chính
vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị đơn những người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trả lại cho bà P phần đất tranh chấp cạnh ở hướng đông và hướng tây mỗi cạnh
số đo 0,20m và chiều dài tương ứng với chiều dài thửa đất số 66 của P
lợi hơn cho phía các bị đơn những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Còn
đối với tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản không thể căn cứ vào diện tích đất
tranh chấp để xác định, đây tranh chấp QSDĐ, nên Tòa án cấp thẩm buộc
7
mỗi bên phải chịu 50% là phù hợp với quy định tại Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố
tụng dân snăm 2015. Do đó, toàn bộ kháng cáo của Thị C ông M không
có căn cứ, nên không được HĐXX chấp nhận.
[6] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Thị C ông
M đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của Thị C ông M đề nghị căn cứ
khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để sửa Bản án dân sự sơ thẩm
của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng theo hướng không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của P không căn cứ như nhận định phần trên, nên không
được HĐXX chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Bản án dân sự sơ thẩm được giữ nguyên,
nên Thị C ông M phải chịu án pdân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản
1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Đối với lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về việc đề
nghị HĐXX không chấp nhận đơn kháng cáo của Thị C ông M áp dụng
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách căn cứ, nên được HĐXX chấp
nhận.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313, khoản 4 Điều 68, khoản 1 Điều
148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Lý Thị C và ông Lý Sa M.
2. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 74/2019/DS-ST ngày 07/11/2019
của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng về việc tranh chấp đòi lại quyền
sử dụng đất bị lấn chiếm. Án tuyên như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Yến P.
- Buộc ông T, bà Thị C các ông, bà Ư, H, Thị Sa A,
Thị Ơ, Lý R, Lý Thị Sa V, Sa L, Thị Sa K, Lý Sa M trách nhiệm trả lại cho
Huỳnh Yến P một phần đất lấn chiếm diện tích 7,10m
2
, tứ cạnh: Hướng
đông giáp bờ mương có số đo 0,20m; hướng tây giáp đất ông Lý T (Thửa 49) có số
đo 0,20m; hướng nam giáp đất bà P có số đo 32,77m; hướng bắc giáp đất ông Lý T
(Thửa 49) có số 32,78m; đất này thuộc thửa số 66, tờ bản đồ số 84, tọa lạc ấp A, thị
trấn K, huyện S, tỉnh Sóc Trăng.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Thị C ông Sa M mỗi người phải
chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng
án pmỗi người đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu
số 0000982 số 0000983 cùng ngày 14/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự
8
huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Lý Thị C và ông Lý Sa M nộp đủ tiền
án phí dân sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của bản án sơ thẩm (Tại mục 3 4 trong phần tuyên xử)
không kháng cáo, kháng nghị, không ghi trong phần quyết định này hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân snăm 2008 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì những người
được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu
cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- TAND huyện Kế Sách;
- Chi cục THADS huyện Kế Sách;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Văn Toàn
Tải về
Bản án số 18/2020/DS-PT Bản án số 18/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất