Bản án số 18/2017/HC-ST ngày 22/09/2017 của TAND tỉnh Sóc Trăng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2017/HC-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2017/HC-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2017/HC-ST ngày 22/09/2017 của TAND tỉnh Sóc Trăng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Sóc Trăng |
| Số hiệu: | 18/2017/HC-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Trịnh Thị Ngọc A-Chủ tịch UBND tỉnh S |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH SÓC TRĂNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 18/2017/HC-ST
Ngày: 22- 9-2017
V/v: “Khởi kiện quyết định
hành chính về giải quyết tranh
chấp đất đai”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Đức Khải
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Kim Dung
Bà Nguyễn Thị Kim Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Duy, Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Ông Lê Văn Ninh, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 03/2017/TLST-HC ngày 09
tháng 3 năm 2017 về “Khởi kiện quyết định hành chính về giải quyết tranh chấp
đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2017/QĐXXST-HC ngày
08-9-2017, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện:
1. Bà Trịnh Thị Ngọc A, sinh năm 1943 (có mặt).
2. Ông Lai Văn S1, sinh năm 1973 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm G, Phường Y, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S.
Địa chỉ: Đường Châu Văn T, Phường X, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh S: Ông Lê Văn H, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S, là người
đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S, theo Giấy ủy
quyền số 481/UBND-NC ngày 23-3-2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S
(vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Triệu Công D, chức vụ:
Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S (có mặt).
2
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã V
Địa chỉ: Đường 30/4, Phường M, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh
Châu: Ông Sơn Ngọc T, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã V, là
người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã V, theo
Quyết định ủy quyền số 2304/QĐ-UBND ngày 29-8-2017 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân thị xã V (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Văn T, chức vụ: Phó
Trưởng phòng, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã V (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Văn S2, sinh năm 1955, địa chỉ: Số 118, khóm G, Phường Y,
thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
2. Ông Lai T, sinh năm 1943, địa chỉ: Khóm G, Phường Y, thị xã V, tỉnh
Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30-12-2016 và trong quá trình giải quyết vụ án,
những người khởi kiện là bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1 trình bày:
Năm 1969 ông Lai T (là chồng của bà Trịnh Thị Ngọc A và là cha của
ông Lai Văn S1) có cho ông Trần Văn C (là cha của ông Trần Văn S2) mượn
phần đất diện tích 139,4m
2
, tại thửa số 323, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại khóm G,
Phường Y, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Năm 1992, ông C dời nhà đi nơi khác giao
trả toàn bộ phần diện tích đất 139,4m
2
nêu trên cho ông Lai T. Tất cả việc cho
mượn và trả đất chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có lập giấy tờ. Sau khi nhận
lại đất từ ông C, ông T cho ông Lý Văn B mượn cũng toàn bộ phần diện tích đất
139,4m
2
. Năm 1998, ông B trả lại toàn bộ diện tích đất trên cho ông T. Năm
2003, ông T cho con là Lai Văn S1 phần đất trên, ông S1 đã cất nhà ở trên phần
đất này và sử dụng ổn định đến nay trên 13 năm.
Ông Trần Văn S2 được ông Trần Văn C cho nhà đất, nhưng không phải
cho phần đất tại thửa 323 nêu trên, nhưng ông S2 lại đòi phần đất tại thửa 323
trên. Chủ tịch Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thị xã V ban hành
Quyết định số 31/QĐ-CTUBND ngày 16-10-2015 và Chủ tịch UBND tỉnh S ban
hành Quyết định số 2816/QĐ-UBND, ngày 18-11-2016 giải quyết cho ông Trần
Văn S2 được quyền sử dụng phần đất này là gây thiệt thòi đến quyền lợi của
ông, bà, trong khi nguồn gốc đất là của gia đình ông, bà, người dân trong xóm ai
cũng đều biết rõ. Nếu phần đất tại thửa số 323 là của ông C tại sao ông C lại dời
nhà đi và giao trả lại đất trống cho ông T. Từ khi trả đất đến khi qua đời ông C
cũng không có thắc mắc hay khiếu nại gì. Và khi phát sinh tranh chấp năm 2010,
Chủ tịch UBND huyện V (nay là thị xã V) ra Quyết định số 11/QĐ-UBND,
ngày 10-5-2010 giải quyết phần đất trên thuộc quyền sử dụng của ông Lai Văn
S1.
3
Hiện nay, trên thửa số 323 gồm có 02 căn nhà kiên cố do bà Trịnh Thị
Ngọc A ở 01 căn và 01 căn nhà do ông Lai Văn S1 ở.
Bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 31/QĐ-CTUBND, ngày 16-10-2015 của Chủ tịch
UBND thị xã V về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Trần Văn S2 (đại
diện theo ủy quyền của anh chị em, là con ông Trần Văn C) với ông Lai T (đại
diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1).
- Hủy Quyết định số 2816/QĐ-UBND, ngày 18-11-2016 của Chủ tịch
UBND tỉnh S về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Lai T.
Tại Công văn số 607/UBND-NC, ngày 11-4-2017 người đại diện hợp
pháp của người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh S trình bày:
Phần đất tranh chấp có diện tích 139,4m
2
, thửa số 323, tờ bản đồ số 02,
tọa lạc khóm G, Phường Y, thị xã V có nguồn gốc là đất trũng thấp, liền kề với
kênh G (còn gọi là kênh KB2).
Năm 1966, ông Trần Văn C (cha ông Trần Văn S2) cùng gia đình bồi đắp,
cất nhà ở đến năm 1992 thì giao cho con là Trần Thiên S3 (em ông S2) ở, đến
năm 1994 ông Lý Văn B đến hỏi gia đình ông Trần Văn S2 mượn thửa đất nêu
trên cất nhà ở, việc mượn không có giấy tờ thể hiện, nhưng ngày 04-12-2007
ông B có văn bản xác nhận trực tiếp mượn đất của gia đình ông S2 mà không
trực tiếp mượn đất của ông Lai T, qua đối thoại ông T cũng thừa nhận việc này.
Năm 1998, ông Lý Văn B chuyển nhà đi nơi khác, năm 2000 thực hiện dự
án nạo vét, mở rộng kênh KB2, Nhà nước thiết lập hồ sơ hỗ trợ thiệt hại cho các
hộ dân bị thiệt hại, trong đó có ông Trần Văn S2 được Nhà nước xét, hỗ trợ thiệt
hại liên quan đến đất nêu trên.
Năm 2003, thấy đất trống nên ông Lai Văn S1 (con ông Lai T) đến cất
nhà ở (nhà cột cây, lợp lá), ông Trần Văn S2 biết được nên yêu cầu UBND
huyện V giải quyết, từ đó phát sinh tranh chấp.
Năm 2010, ông Lai Văn S1 tháo dỡ nhà tạm xây nhà kiên cố; UBND xã V
lập các biên bản (ngày 06-4-2010 và ngày 08-4-2010) đình chỉ thi công, buộc
tháo dỡ và xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000đ tại Quyết định số
22/QĐ-UBND, ngày 13-4-2010 của Chủ tịch UBND xã V. Ông S1 chấp hành
nộp phạt nhưng tiếp tục xây dựng nhà ở đến hoàn thành. Sau đó, ông Lai Văn Q
(con ông Lai T, bà A và là anh của ông S1) từ thành phố Hồ Chí Minh về xây
dựng thêm 01 căn nhà kiên cố liền kề với nhà ông S1. Sau khi cất nhà và hiện
nay ông Q không ở mà do bà Trịnh Thị Ngọc A ở.
Do đó, nhận thấy Quyết định số 31/QĐ-CTUBND, ngày 16-10-2015 của
Chủ tịch UBND thị xã V về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Trần
Văn S2 (đại diện theo ủy quyền của anh chị em, là con ông Trần Văn C) với ông
Lai T (đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1) là
đúng theo quy định của pháp luật.
4
Nay người bị kiện vẫn giữ nguyên Quyết định số 2816/QĐ-UBND, ngày
18-11-2016 của Chủ tịch UBND tỉnh S về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông
Lai T.
Trong quá trình giải quyết vụ án người bị kiện Chủ tịch UBND thị xã V
không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
bị kiện Chủ tịch UBND thị xã V cũng trình bày tương tự như người đại diện hợp
pháp của người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh S trình bày nêu trên, đồng thời trình
bày Chủ tịch UBND thị xã V vẫn giữ nguyên Quyết định số 31 nêu trên.
Tại Tờ trình bày ý kiến ngày 14-6-2017 và trong quá trình giải quyết vụ
án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lai T trình bày:
Phần đất này có nguồn gốc của cha ông Lai T tên là Lai Sền K đã cho ông
từ trước ngày giải phóng. Năm 1969, gia đình ông có cho ông Trần Văn C mượn
đất cất nhà ở nhưng không có làm giấy tờ. Năm 1992, ông C gặp ông và nói giao
trả đất cho gia đình ông để dời đi nơi khác. Tất cả việc mượn và giao trả đất chỉ
thỏa thuận bằng lời nói không có làm giấy tờ. Sau khi nhận đất từ ông C, ông T
cho ông Lý Văn B mượn đất, năm 1998 ông B trả đất lại cho ông T. Năm 2003,
ông T cho con là Lai Văn S1 vào cất nhà ở và sử dụng đến nay trên 14 năm.
Ông Trần Văn S2 được thừa hưởng nhà đất của ông C nhưng không có
cho đất tại vị trí đang tranh chấp. Ông S2 không có giấy tờ ủy quyền của ông C
nhưng đứng ra tranh chấp đòi lại đất và ông S2 cũng không có đứng tên trong sổ
bộ đất đai. Từ khi ông C dời nhà đi và giao đất lại cho ông T thì ông C cũng
không có khiếu nại gì.
Năm 2010, Chủ tịch UBND huyện V đã ra quyết định giải quyết phần đất
trên thuộc quyền sử dụng của con ông T là Lai Văn S1, với lý do đất gốc của
ông T. Chính quyền địa phương có lập thủ tục cho con ông T là Lai Văn S1 một
căn nhà tình thương nhưng ông S2 ngăn cản.
Hiện nay, vợ và các con ông T đã xây dựng nhà kiên cố và sử dụng đất ổn
định từ năm 2003. Ông Trần Văn S2 không có giấy tờ gì chứng minh phần đất
này thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn C và ông S2, nhưng Chủ tịch
UBND thị xã V và Chủ tịch UBND tỉnh S giải quyết công nhận phần đất tranh
chấp này cho ông S2 được quyền sử dụng mà không xem xét đến nguồn gốc đất
là thiệt thòi cho gia đình ông. Ông T thống nhất với yêu cầu khởi kiện của
những người khởi kiện và không có ý kiến khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần
Văn S2 trình bày: Phần đất trên có nguồn gốc là của cha ông S2 là ông Trần Văn
C sử dụng từ trước năm 1975, chứ không phải mượn của ông Lai T như những
người khởi kiện và ông T trình bày. Ông S2 đồng ý với các quyết định của Chủ
tịch UBND thị xã V và của Chủ tịch UBND tỉnh S nêu trên, đồng thời yêu cầu
Tòa án giải quyết bác yêu cầu của những người khởi kiện.
5
Tại phiên tòa sơ thẩm, những người khởi kiện là bà Trịnh Thị Ngọc A và
ông Lai Văn S1 không rút đơn khởi kiện và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị kiện đề nghị Hội
đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng
phát biểu ý kiến nhận xét Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và
những người tham gia tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
những người khởi kiện về việc hủy Quyết định số 31/QĐ-CTUBND, ngày 16-
10-2015 của Chủ tịch UBND thị xã V về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa
ông Trần Văn S2 (đại diện theo ủy quyền của anh chị em, là con ông Trần Văn
C) với ông Lai T (đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai
Văn S1) và Quyết định số 2816/QĐ-UBND, ngày 18-11-2016 của Chủ tịch
UBND tỉnh S về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Lai T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
* Về tố tụng:
[1] Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của những người bị kiện Chủ
tịch UBND tỉnh S và Chủ tịch UBND thị xã V vắng mặt, nhưng đều có đơn đề
nghị Tòa án xét xử vắng mặt, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng
mặt những người nêu trên theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Luật tố tụng
hành chính.
[2] Bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1 khởi kiện yêu cầu Tòa án
nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết hủy Quyết định số 31/QĐ-CTUBND, ngày
16-10-2015 của Chủ tịch UBND thị xã V về việc giải quyết tranh chấp đất đai
giữa ông Trần Văn S2 (đại diện theo ủy quyền của anh chị em, là con ông Trần
Văn C) với ông Lai T (đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị Ngọc A và ông
Lai Văn S1) và Quyết định số 2816/QĐ-UBND, ngày 18-11-2016 của Chủ tịch
UBND tỉnh S về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Lai T, là khiếu kiện
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, theo quy định
tại khoản khoản 1 Điều 30, khoản 3 và khoản 4 Điều 32 của Luật tố tụng hành
chính.
* Về thời hiệu khởi kiện:
[3] Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành
chính thì thời hiệu khởi kiện là 01 (một) năm kể từ ngày nhận được hoặc biết
được quyết định hành chính, hành vi hành chính.
[4] Ngày 16-10-2015, Chủ tịch UBND thị xã V ban hành Quyết định số
31/QĐ-CTUBND về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Trần Văn S2
6
(đại diện theo ủy quyền của anh chị em, là con ông Trần Văn C) với ông Lai T
(đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1), sau đây
gọi tắt là Quyết định số 31. Bà A và ông S1 không đồng ý với Quyết định số 31
nêu trên nên khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh S. Ngày 21-12-2016, ông Lai T
(đại diện theo ủy quyền của bà A), ông Lai Văn S1 nhận được Quyết định số
2816/QĐ-UBND, ngày 18-11-2016 của Chủ tịch UBND tỉnh S về việc giải
quyết đơn khiếu nại của ông Lai T (sau đây gọi tắt là Quyết định số 2816). Do
đó, khoảng thời gian Chủ tịch UBND tỉnh S thụ lý và giải quyết khiếu nại của
ông Lai T (đại diện theo ủy quyền của bà A, ông S1) được xem như trở ngại
khách quan và không tính vào thời hiệu khởi kiện. Vì vậy, ngày 24-02-2017, bà
Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1 nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định
số 31 và hủy Quyết định số 2816 nêu trên là còn thời hiệu khởi kiện.
* Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:
[5] Ngày 24-01-1997, UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số vào sổ 0028 cho hộ ông Trần Văn S2 đối với 02 thửa đất là thửa số
195, diện tích 17.605m
2
và thửa số 348, diện tích 581m
2
, trong đó: 300m
2
(T) +
281m
2
(LNK), cùng tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp G, xã V, huyện V, tỉnh S.
Năm 2003, ông Trần Văn S2 có yêu cầu UBND xã V (nay là UBND Phường Y)
giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, thời điểm này UBND xã V có tiến
hành hòa giải nhưng không thành. Ngày 05-4-2007, UBND xã V tiếp tục hòa
giải tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hai bên do việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn S2 tại thửa số 348 là đất của ông Trần Văn
M (cấp sai thửa đất) và các bên tranh chấp quyền sử dụng đất tại thửa số 323
chứ không phải là thửa số 348, nhưng vẫn không thành (Biên bản hòa giải – bút
lục số 109-110).
[6] Ngày 10-5-2010, Chủ tịch UBND huyện V ban hành Quyết định số
11/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp đất giữa ông Trần Văn S2 và ông
Lai Văn S1, cùng cư ngụ tại ấp G, xã V, huyện V, với nội dung chính là: Bác
đơn ông Trần Văn S2 xin được sử dụng phần đất tại thửa số 323, tờ bản đồ số
02, có diện tích 139,4m
2
, tọa lạc tại ấp G, xã V, huyện V, đồng thời ổn định
phần đất có diện tích 139,4m
2
cho ông Lai Văn S1.
[7] Ngày 13-10-2010, Chủ tịch UBND huyện V ban hành Quyết định số
744/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 11/QĐ-UBND, ngày 10-5-2010
của Chủ tịch UBND huyện V, với lý do: Tại thời điểm tranh chấp ông Trần Văn
S2 chưa được gia đình (thân tộc) ủy quyền.
[8] Ngày 10-02-2012, Chủ tịch UBND thị xã V ban hành Quyết định số
01/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp đất giữa ông Trần Văn S2 và ông
Lai Văn S1 và Lai Văn M, cùng ngụ tại khóm G, Phường Y, thị xã V, với nội
dung chính là: Công nhận phần đất có diện tích 139,4m
2
,
thuộc thửa số 323, tờ
bản đồ số 02, tọa lạc tại khóm G, Phường Y, thị xã V là đất gốc của gia đình ông
Trần Văn S2. Buộc ông Lai Văn S1 và ông Lai Văn M có trách nhiệm tháo dỡ
nhà và các công trình khác trên phần đất có diện tích 139,4m
2
để giao trả lại cho
gia đình ông Trần Văn S2 quản lý, sử dụng.
7
[9] Ngày 06-9-2014, Chủ tịch UBND thị xã V ban hành Quyết định số
438/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 01/QĐ-UBND, ngày 10-
02-2012 của Chủ tịch UBND thị xã V, lý do: Để giải quyết lại cho đúng đối
tượng tranh chấp; đúng theo quy định của pháp luật.
[10] Ngày 06-11-2014, Chủ tịch UBND thị xã V ban hành Quyết định số
07/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn yêu cầu của ông Trần Văn S2, ngụ khóm
G, Phường Y, thị xã V, với nội dung là: Bác đơn của ông Lai T yêu cầu được
công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 139,4m
2
, thửa số 323, tờ bản đồ số 02.
Công nhận cho ông Trần Văn S2, ngụ khóm G, Phường Y đại diện hộ gia đình
tranh chấp quyền sử dụng đất có diện tích 139,4m
2
, thửa số 323, tờ bản đồ số 02,
tọa lạc tại khóm G, Phường Y, thị xã V.
[11] Ngày 16-10-2015, Chủ tịch UBND thị xã V ban hành Quyết định số
449/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy Quyết định số 07/QĐ-UBND, ngày 06-11-
2014 của Chủ tịch UBND thị xã V, lý do: Để giải quyết lại vụ việc theo đúng
quy định của pháp luật.
[12] Sau đó, ngày 16-10-2015, Chủ tịch UBND thị xã V giải quyết lại vụ
việc tranh chấp đất đai bằng việc ban hành Quyết định số 31/QĐ-CTUBND nêu
trên. Xét thấy, sau khi Chủ tịch UBND thị xã V ban hành Quyết định số 744,
Quyết định số 438 và Quyết định số 449 các đương sự không có khiếu nại và
cũng không có khởi kiện các quyết định này. Do Quyết định số 11, Quyết định
số 01 và Quyết định số 07 nêu trên đã bị thu hồi, hủy bỏ nên việc giải quyết
tranh chấp phần đất có diện tích 139,4m
2
,
thuộc thửa số 323, tờ bản đồ số 02, tọa
lạc tại khóm G, Phường Y, thị xã V giữa ông Trần Văn S2 với bà Trịnh Thị
Ngọc A và ông Lai Văn S1 vẫn chưa được giải quyết.
[13] Khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 quy
định: "Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà
không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một
trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài
sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc
không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì
đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất
đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân
dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như
sau:
8
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư
với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý
với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố
tụng hành chính…".
[14] Thấy rằng, phần đất tranh chấp có diện tích 139,4m
2
,
thuộc thửa số
323, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại khóm G, Phường Y, thị xã V vẫn chưa được
UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng
không có có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai
năm 2013, đồng thời tranh chấp nêu trên đã được UBND xã V hòa giải nhưng
không thành, nên Chủ tịch UBND thị xã V giải quyết tranh chấp đất đai giữa các
đương sự và ban hành Quyết định số 31 là đúng thẩm quyền quy định tại khoản
2 và điểm a khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
[15] Sau khi nhận được Quyết định số 31, ông Lai T (đại diện theo ủy
quyền của bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1) khiếu nại đến Chủ tịch
UBND tỉnh S. Chủ tịch UBND tỉnh S ban hành Quyết định số 2816 để giải
quyết khiếu nại là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 và điểm a khoản 3
Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
* Về nội dung, trình tự, thủ tục và căn cứ pháp lý ban hành các quyết
định:
[16] Theo lời trình bày của bà Trịnh Thị Ngọc A, ông Lai Văn S1 và ông
Lai T trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai và tại phiên tòa sơ thẩm thì
nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của ông Lai Buồl T cho ông Lai Xền K
quản lý, sử dụng trước năm 1959. Đến trước năm 1975 thì ông K cho lại con là
ông Lai T. Cũng trước năm 1975, ông T cho ông Trần Văn C là cha của ông
Trần Văn S2 mượn đất để cất nhà ở (qua đo đạc thực tế diện tích 139,4m
2
), ông
C sử dụng đến năm 1994 thì chuyển đi nơi khác sinh sống. Lúc này, ông T thấy
ông Lý Văn B cất nhà trên phần đất tranh chấp nên ông T có hỏi và ông B trả lời
mượn đất của con của ông Trần Văn C là ông Trần Kim S. Ông T có nói cho
ông B biết đất này là của ông T cho ông C mượn nên ông B mới hỏi mượn đất
của ông T để cất nhà ở. Năm 1998, ông B chuyển đi nơi khác sống và trả đất lại
cho ông T (Có lập tờ tường trình về việc trả đất đề ngày 29-11-2009). Việc ông
T cho ông C và ông B mượn đất thì các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không
có làm giấy tờ. Năm 2003, ông T cho con là ông Lai Văn S1 cất nhà ở tạm, đến
năm 2010 thì xây nhà kiên cố. Ngoài Tờ trường trình của ông Lý Văn B ngày
29-11-2009 thì bà A, ông S1 và ông T không còn chứng cứ nào khác chứng
minh về quá trình sử dụng đất của gia đình.
[17] Tại Biên bản xác minh nguồn gốc sử dụng đất của ông Trần Văn S2
ngày 29-4-2008 do UBND xã V (nay là UBND Phường Y) lập (bút lục số 50),
bà Lý Thị X (sinh năm 1936) trình bày với nội dung như sau: Ông Trần Văn C
cất nhà sinh sống ổn định từ năm 1969. Phần đất này lúc ấy là đất lung bào,
người nào lấy ở thì ở ổn định cho đến nay. Trước đó, ngày 24-8-1960 thì xóm G
bị cháy, lúc đó có một chòi lá của cha ông Lai T. Năm 1968, khi thấy đất này
9
hoang hóa thì có nhiều hộ dân đến ở trong đó có bà X, ông Võ Văn N và ông
Trần Văn C. Kể từ thời điểm đó, gia đình ông T không còn sinh sống trên đất
này. Đến năm 1993 thì ông C mới dời về ruộng ở, còn lại một căn nhà cho ông
Trần Thiên S3 ở. Năm 1995 vô ruộng nuôi tôm giao lại cho ông Lý Văn B ở
khoảng 03-4 năm đến năm 1998 thì đào kênh G, ông S3 dỡ nhà về ruộng.
[18] Cũng tại Biên bản nêu trên ông Võ Văn N (sinh năm 1945) trình bày
với nội dung tóm tắt như sau: Trước đây đất này là sân lúa của cha ông T nhưng
không tới nền đất đang tranh chấp hiện nay. Hiện trạng lúc ấy chỉ là bãi bồi nằm
sau sân lúa của cha ông T, ông C và ông Đ bồi để cất nhà ở nằm kế đường trâu
về phía Tây (đường này có trước 1954, có chiều ngang khoảng 10m, sau đó ông
già ông Năm Q và Năm C lấp và cất nhà ở cho đến nay). Thời điểm ông C và
ông Đ cất nhà khoảng thời gian năm 1968-1969. Đến khoảng năm 1993-1994 thì
ông C mới dời nhà về ruộng nuôi tôm, cho lại ông Trần Thiên S3, em ông S2 ở
khoảng 02-03 năm thì ông S3 mới về ruộng. Sau đó cho lại ông B ở khoảng 03-
04 năm. Thời gian đó, gia đình ông S2 hiến phần nền này cất trường học. Nhưng
do nền nhỏ nên không cất được, bà con trong xóm mới quyên góp mua nền khác
cất trường học. Năm 2002-2003 thì ông S1, con ông T mới lại chiếm đất ở. Xã
có đến ngăn nhưng ông S1 không chấp hành.
[19] Tại Biên bản xác minh nguồn gốc đất ngày 22-3-2011 do Thanh tra
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S lập (bút lục từ số 55-57), ông Triệu P, sinh
năm 1958, nguyên là cán bộ địa chính xã V trình bày với nội dung tóm tắt như
sau: Khoảng năm 1959-1960, khu vực ấp G bị cháy xóm (khu vực đất tranh
chấp). Sau khi cháy xóm thì không có ai ở. Khoảng năm 1969 thì có nhiều hộ
dân đến khu vực ấp G ở (nơi bị cháy) trong đó có ông Trần Văn C (cha của ông
Trần Văn S2) đến cất nhà ở. Đến năm 1996, gia đình ông S2 có cho ông Lý Văn
B mượn cất nhà ở. Năm 2000 do dự án nạo vét kinh T nên phần đất nền nhà
đang tranh chấp bị ảnh hưởng, lúc này thì Nhà nước có bồi hoàn thiệt hại về nhà
và đất cho các hộ dân có đất bị ảnh hưởng, trong đó có gia đình ông S2. Lúc
đầu, ông Trần Thiên S3 có đến nhận tiền tại UBND xã nhưng tôi không cho và
yêu cầu ông S3 phải có giấy ủy quyền của ông Trần Văn S2. Khi ông S3 được
ủy quyền của ông S2 thì có đến xã lãnh tiền, số tiền thì tôi không nhớ rõ, nhưng
tiền mà ông S3 nhận là tiền hỗ trợ thiệt hại chứ không phải bồi hoàn. Năm 2000
khi thực hiện dự án mở rộng kênh T thì có thành lập Hội đồng xem xét các hộ
dân có đất bị ảnh hưởng. Hội đồng có họp dân 3 lần để xác định chủ sử dụng đất
của phần đất bị ảnh hưởng thì phần đất của ông S2 (phần đất tranh chấp) bị ảnh
hưởng nên được hỗ trợ thiệt hại về đất… Vào thời điểm xét duyệt và giao nhận
tiền hỗ trợ phần đất bị thiệt hại cho gia đình ông S2 thì không có ai tranh chấp
hay khiếu nại kể cả ông Lai T…Năm 1996, địa chính tỉnh có xuống cho dân kê
khai, lúc này thì ông S2 đứng ra kê khai và được cấp giấy chứng nhận 2 thửa và
cấp nhầm số thửa là thửa đất đang tranh chấp...Bản thân ông S2 không có tranh
chấp với thửa đất ghi trong giấy chứng nhận (bị lộn thửa) của ông M. Ông M sử
dụng thửa 348 ổn định từ trước đến nay và không tranh chấp với ai. Khoảng
năm 1997, gia đình ông S2 dời nhà về phần đất nuôi tôm ở (thửa 195), lúc này
ông Trần Văn C cùng về ở chung với gia đình ông S2. Lý do dời nhà là để thuận
10
tiện trông coi các ao nuôi tôm nên phần đất nền nhà để lại cho ông Lý Văn B
mượn.
[20] Tại Biên bản xác minh nguồn gốc đất ngày 04-4-2007 do cán bộ địa
chính xã V phối hợp với Ban nhân dân ấp G lập (bút lục số 90), ông Huỳnh Hà P
trình bày về quá trình sử dụng đất của ông Trần Văn S2 cũng giống như lời trình
bày của bà Lý Thị X và ông Triệu P nêu trên.
[21] Năm 2003, ông Lai T cho con là ông Lai Văn S1 cất nhà ở (nhà cột
cây, lợp lá) trên phần đất tranh chấp. Lúc này, ông S2 phát hiện và yêu cầu
UBND xã V giải quyết, từ đó phát sinh tranh chấp. Năm 2003 và năm 2007,
UBND xã V hòa giải nhưng không thành nên chuyển lên UBND huyện V giải
quyết (biên bản hòa giải ngày 05-4-2007 của UBND xã V, bút lục số 109-110).
Trong quá trình UBND huyện V giải quyết thì năm 2010 ông Lai Văn S1 tháo
dỡ nhà tạm và xây dựng nhà kiên cố. Ngày 21-4-2009, UBND xã V lập Biên
bản vi phạm hành chính về hoạt động xây dựng trái phép của ông Lai T (bút lục
125). Ngày 06-4-2010 và ngày 08-4-2010, UBND xã V lập biên bản đình chỉ về
việc xây dựng nhà trên phần đất tranh chấp đối với ông Lai T (bút lục số 46 và
51). Đến ngày 13-4-2010, Chủ tịch UBND xã V ban hành Quyết định số 22/QĐ-
UBND về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông
Lai T, ngụ ấp G, xã V, với số tiền là 1.000.000đ (bút lục số 52). Ông Lai T chấp
nhận việc nộp phạt (đã nộp tiền phạt) nhưng không đồng ý tháo dỡ nhà.
[22] Các ông, bà A, S1 và T cho rằng năm 1969 ông T có cho ông Trần
Văn S2 mượn đất cất nhà ở nhưng không có chứng cứ chứng minh. Mặt khác,
các ông, bà A, S1 và T trình bày ông T có cho ông Lý Văn B mượn đất cất nhà
và ông B có làm Tờ trường trình ngày 29-11-2009 (bút lục số 87) với nội dung
đồng ý trả đất lại cho ông T là không có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, Tờ trường
trình ngày 29-11-2009 ông B trình bày rõ là ông B trực tiếp mượn đất của gia
đình ông Trần Văn S2. Đồng thời, tại Đơn xin xác nhận về chủ quyền đất đai
ngày 04-12-2007 (bút lục số 49) thì ông B cũng xác nhận vào năm 1994 do hoàn
cảnh khó khăn, không có nhà để ở nên ông Trần Văn S2 cho ông Lý Văn B
mượn đất thổ cư để cất nhà ở. Đến năm 1998 thì ông B dỡ nhà về Kinh S và trả
đất lại cho ông Trần Văn S2.
[23] Vì vậy, các ông, bà A, S1 và T chỉ sử dụng đất tranh chấp từ năm
2003 để cất nhà ở, việc xây dựng nhà nêu trên là trái phép và ông T đã bị UBND
xã V nhiều lần lập biên bản vi phạm hành chính, yêu cầu ngừng thi công xây
dựng nhà trên phần đất tranh chấp và đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Về quá
trình quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp của gia đình ông Trần Văn S2 thì gia
đình ông S2 có quá trình sử dụng đất từ năm 1969, đến năm 1994 cho ông Lý
Văn B mượn đất cất nhà, đến năm 1998 ông B trả đất lại cho ông Trần Văn S2.
Về quá trình sử dụng đất của các bên trước năm 1969, thấy rằng năm 1960 khi
cháy xóm G gia đình ông Lai T đã bỏ đi nơi khác sinh sống. Lúc này thì khu vực
khóm G, trong đó có phần đất tranh chấp bỏ trống, không ai sử dụng. Nên các
hộ dân trong đó có hộ ông Trần Văn C (cha của ông Trần Văn S2) đến bồi đắp
cất nhà ở. Năm 1999, Nhà nước xây dựng công trình nạo vét kênh KB2 thì phần
11
đất tranh chấp bị ảnh hưởng và ông Trần Văn S2 là người nhận được số tiền hỗ
trợ thiệt hại về đất nhưng gia đình ông Lai T cũng không có ý kiến gì đối với
việc nhận tiền hỗ trợ này. Hơn nữa, theo lời trình bày của ông Võ Văn N như đã
nêu trên thì trước đây đất này là sân phơi lúa của cha ông T nhưng không tới nền
đất đang tranh chấp hiện nay và hiện trạng lúc ấy chỉ là bãi bồi nằm sau sân phơi
lúa của cha ông T, ông C bồi đất để cất nhà ở nằm kế đường trâu về phía Tây.
[24] Vì vậy, các ông, bà A, S1 và T cho rằng phần đất tranh chấp có
nguồn gốc của ông bà ông T để lại là không có cơ sở chấp nhận. Năm 2003 các
ông, bà A, S1 và T chiếm đất để xây dựng nhà ở là không đúng theo quy định
của pháp luật. Chủ tịch UBND thị xã V ban hành Quyết định số 31 nêu trên
công nhận phần đất tranh chấp cho ông Trần Văn S2 (đại diện theo ủy quyền của
các anh chị em là con của ông Trần Văn C) và bác đơn yêu cầu của ông Lai T
(đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1) và Chủ
tịch UBND tỉnh S ban hành Quyết định số 2816 giữ nguyên Quyết định số 31 là
có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[25] Do các quyết định hành chính bị khởi kiện đã được ban hành đúng
pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và về nội dung cũng phù hợp như đã
phân tích ở phần trên, nên yêu cầu của những người khởi kiện về việc hủy Quyết
định số 31/QĐ-CTUBND, ngày 16-10-2015 của Chủ tịch UBND thị xã V về
việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Trần Văn S2 (đại diện theo ủy quyền
của anh chị em, là con ông Trần Văn C) với ông Lai T (đại diện theo ủy quyền
của bà Trịnh Thị Ngọc A và ông Lai Văn S1) và hủy Quyết định số 2816/QĐ-
UBND, ngày 18-11-2016 của Chủ tịch UBND tỉnh S về việc giải quyết đơn
khiếu nại của ông Lai T là không có cơ sở chấp nhận.
[26] Từ đó, đề nghị của những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của những người bị kiện và của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện là có căn cứ để chấp nhận.
[27] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận, nên
người khởi kiện là ông Lai Văn S1 phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án
phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Luật tố tụng
hành chính và khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-
12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khấu trừ vào số tiền 300.000đ
(ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm ông Lai Văn S1 đã nộp tại Cục Thi
hành án dân sự tỉnh S theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006607
ngày 03-3-2017, ông S1 đã nộp đủ án phí sơ thẩm. Bà Trịnh Thị Ngọc A là
người cao tuổi (74 tuổi) nên bà A không phải chịu án phí theo quy định tại điểm
đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
12
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 3 và khoản 4 Điều 32; điểm a khoản
2 Điều 193; Điều 194 và khoản 1 Điều 348 của Luật tố tụng hành chính. Căn cứ
vào điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1/. Bác yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện là bà Trịnh Thị
Ngọc A và ông Lai Văn S1 về việc hủy Quyết định số 31/QĐ-CTUBND, ngày
16-10-2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã V về việc giải quyết tranh chấp
đất đai giữa ông Trần Văn S2 (đại diện theo ủy quyền của anh chị em, là con
ông Trần Văn C) với ông Lai T (đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị Ngọc
A và ông Lai Văn S1) và Quyết định số 2816/QĐ-UBND, ngày 18-11-2016 của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Lai T.
2/. Về án phí hành chính sơ thẩm:
- Ông Lai Văn S1 phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hành
chính sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án
phí sơ thẩm ông Lai Văn S1 đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh S theo biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006607 ngày 03/3/2017, ông S1 đã nộp
đủ án phí sơ thẩm.
- Bà Trịnh Thị Ngọc A không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí
Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Riêng đối với đương sự vắng mặt
tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- Các đương sự;
- Cục THADS tỉnh S; (Đã ký)
- Lưu (Hồ sơ VA, Tòa HC).
Huỳnh Đức Khải
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm