Bản án số 173/2024/DS-PT ngày 01/03/2024 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 173/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 173/2024/DS-PT ngày 01/03/2024 của TAND tỉnh Bến Tre về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bến Tre
Số hiệu: 173/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/03/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T - Nguyễn Thị L
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 173/2024/DS-PT
Ngày: 01-3-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang;
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận;
Ông Phạm Văn Tỉnh.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Diễm My - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Khắc Phiên - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 539/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm
2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sthẩm số 90/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 109/2024/QĐXXPT-DS
ngày 05 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1948;
Địa chỉ: Số B, L, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo văn bản ủy quyền ngày
18/8/2023):
Ông Trần Minh T1, sinh năm 1945; địa chỉ: C, đường A, ấp D, N, thành
phố B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Minh V
- Luật sư, Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B;
Địa chỉ: Số C, khu phố E, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
2
2. Bị đơn:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo y quyền của bị đơn (theo văn bản ủy quyền ngày
19/8/2020):
Ông Đinh Văn N, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp L, L, huyện C, tỉnh Bến
Tre. (có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Trần Minh T1, là người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm,
Theo đơn khi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Minh T1 trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây của ông Nguyễn Thành B (t
ông Q) cha ruột của ông Nguyễn Thanh T. Ông T được ông Nguyễn Thành
B cho quản phần đất, trong đó phần đất thổ mộ của gia đình. Phần đất
diện tích khoảng 4.600 m
2
, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Sau đó,
ông T được ông B cho đất vào năm 1975 nhưng ông T chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Khoảng trước năm 1980, ông T chuyển nhượng phần
đất này cho chồng bà L ông Trần Linh G. Khi chuyển nhượng phần đất này cho
ông G thì giữa hai bên có thỏa thuận chừa lại phần đất có thổ mộ của gia đình ông
T phần đất hiện nay ông T đang tranh chấp với Nguyễn Thị L. Ông T không
có chứng cứ gì chứng minh việc chuyển nhượng đất cho ông G là có chừa lại phần
đất thổ mộ của gia đình ông T. Ông T cho rằng để chứng minh cho yêu cầu khởi
kiện của ông T là căn cứ thực tế sử dụng hàng năm phần đất đang tranh chấp
bên ông T về tảo mộ, chăm sóc mồ của gia đình và bên ông G, L không
tranh chấp gì. Trên phần đất chuyển nhượng cho ông G thì ông T đào mương
ranh đgiao đất cho ông G chừa lại đất thổ mộ của ông T. Do từ năm
1980 ông T đã về Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống nên không làm thủ tục
đăng khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Trước đây ông
T xác định phần đất ông T đang tranh chấp với Nguyễn Thị L không phải
thửa 436, tờ bản đồ số 01. Tuy nhiên, ông xác định phần đất ông đang tranh chấp
chính xác thuộc thửa mấy, tờ bản đồ số mấy tông T không biết. Theo ông T
trình bày thì phần đất ông T đang tranh chấp với L thì cả ông T, ông G, L
đều chưa đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3
Nay ông T yêu cầu L trả lại cho ông T phần đất tranh chấp thuộc một
phần thửa 435, 436, tờ bản đồ số 01, hiện nay thuộc các thửa 50-1, 50-2, tờ bản đồ
số 06, diện tích 299,6 m
2
, tọa lạc tại ấp T, T, huyện C, tỉnh Bến Tre hiện do
L đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo họa đồ hiện trạng sử
dụng đất ngày 23/5/2023 do Chi nhánh văn phòng đất đai huyện C cung cấp.
Ông T thống nhất với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài
sản và không có ý kiến gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn
là ông Đinh Văn N trình bày:
Phần đất ông T đang tranh chấp với L trước đây thuộc một phần thửa
435, 436, cùng tờ bản đồ số 01 do L đang đứng tên trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, nay các thửa 50-1, 50-2, tờ bản đồ số 06. Phần đất tranh
chấp nguồn gốc của ông, bên chồng của L trước đây đã cho chồng
ông Trần Linh G. Ông G đăng khai được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với các phần đất nêu trên. Năm 1993, ông G mất, L đã làm th
tục nhận thừa kế đã được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trên phần đất ông T tranh chấp hiện tại còn lại 06 ngôi mộ đá. Ngoài ra trên đất
còn một số hoa màu do L trồng. Qua yêu cầu khởi kiện của ông T thì bà L
không đồng ý trả lại phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 299,6 m
2
,
thuộc một
phần thửa 435, 436, tờ bản đồ số 01, hiện nay thuộc các thửa 50-1, 50-2, tờ bản đồ
số 06 vì gia đình bà sử dụng đất ổn định từ năm 1982 đến nay, không ai tranh chấp
gì.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã đưa vụ án
ra xét xử.
Tại Bản án dân sự thẩm s90/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tuyên:
Áp dụng Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
1 Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T về việc yêu
cầu Nguyễn Thị L trả lại phần đất diện tích 299,6 m
2
, thuộc một phần thửa
435, 436, tờ bản đồ số 01, nay các thửa 50-1, 50-2, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc
tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 27/9/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm. Theo nội dung kháng cáo, ông T yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án
4
thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông T giữ
nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha ruột ông T cho ông T. Sau đó,
chuyển nhượng phần đất này cho ông G (chồng L) tgiữa hai bên thỏa
thuận chừa lại phần đất thổ mộ của gia đình ông T phần đất hiện nay ông T
đang tranh chấp. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông T căn cứ thực
tế sử dụng hàng năm phần đất đang tranh chấp bên ông T về tảo mộ, chăm sóc
mồ của gia đình và bên ông G, L không tranh chấp gì. Trên phần đất
chuyển nhượng cho ông G thì ông T đào mương ranh để giao đất cho ông G
chừa lại đất thổ mộ của ông T. Theo ông T thì phần đất tranh chấp chưa ai
đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận kháng cáo của ông T, buộc L
trả lại cho ông T phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 435, 436, tờ bản đsố
01, hiện nay thuộc các thửa 50-1, 50-2, tờ bản đồ số 06, diện tích 299,6 m
2
, đất tọa
lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn không đồng ý với kháng cáo của ông T, đề nghị Hội đồng xét xử giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định
của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền
nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, sửa Bản
án dân sự thẩm s90/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân
dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, buộc Nguyễn Thị L trả lại cho ông T phần đất diện
tích 299,6m
2
thuộc thửa 50, tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại T, huyện C. Kiến nghị
Ủy ban nhân dân huyện C điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với
thửa 436 sang cho ông Nguyễn Thanh T ghi nhận mục đích sdụng là NTD
loại đất nghĩa địa cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên;
xét kháng cáo của ông Nguyễn Thanh T; Hội đồng xét xử nhận định:
5
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng
cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về nội dung:
Ông T yêu cầu L trả lại cho ông phần đất thuộc một phần thửa 435, 436,
tờ bản đồ số 01, hiện nay thuộc các thửa 50-1, 50-2, tbản đồ số 06, diện tích
299,6 m
2
, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Bị đơn bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T vì gia đình bà đã
sử dụng đất ổn định từ năm 1982 đến nay, không ai tranh chấp gì.
[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy:
Qua đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ xác định như sau: Phần đất tranh
chấp diện tích 299,6 m
2
thuộc một phần thửa 435, 436, tờ bản đồ số 01 (nay
thửa 50, tờ bản đồ số 06, trong đó 204,5 m
2
thuộc thửa 50-1, 95,1 m
2
thuộc thửa
50-2), tọa lạc tại T, huyện C, tỉnh Bến Tre hiện do Nguyễn Thị L đứng tên
quyền sử dụng đất. Trên đất tranh chấp hiện nay 06 ngôi mộ xây mcủa
người thân trong gia đình ông T chồng L và 16 cây mít khoảng 06 tháng
tuổi, 10 bụi chuối, 02 gốc mai do bà L trồng.
Về quá trình biến động sử dụng đất: Vào năm 1993 ông Trần Linh G
đứng tên kê khai trong sổ mục kê và ông G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa 435, 436, tờ bản đồ số 01, diện tích 4.600 m
2
vào ngày
18/10/1993. Sau khi ông G chết, L đã làm thủ tục nhận thừa kế các phần đất
của ông G để lại và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày
09/3/2009 đối với các thửa đất nêu trên.
[2.2] Ông T cho rằng các thửa 435, 436, tbản đồ số 01 đất của ông T
chuyển nhượng lại cho ông Trần Linh G trước giải phóng, khi ông chuyển nhượng
đất cho ông G thì hai bên có thỏa thuận chừa lại phần đất thổ mộ của gia đình ông
T diện tích 299,6 m
2
phần đất đang tranh chấp hiện nay nhưng ông T không
có gì chứng minh cho lời trình bày này.
Bà L thì cho rằng từ năm 1982 ông G được gia đình cho đất và từ đó ông G,
bà L sử dụng ổn định phần đất cho đến nay, không ai tranh chấp gì.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ông T cho rằng đất tranh chấp của ông nhưng
từ trước đến nay ông không đăng khai để được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Ông T cũng không giấy tờ để chứng minh về việc phần
đất ông T đang tranh chấp của ông T. Trong khi phía ông G đã đăng khai
trong sổ mục ông G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc
này chứng minh ông G đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất.
6
Ông T xác định chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông là các
ngôi mộ của ông, của ông trên đất tranh chấp. Tuy nhiên, ông T chỉ dựa vào
việc này không đủ căn cứ để chấp nhận; hơn nữa các ngôi mộ y mộ của
ông, bà của ông T cũng mộ của ông, của ông G, điều này đã được các
đương sự thừa nhận tại phiên tòa phúc thẩm.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[2.3] Ông T kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Bến Tre không
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng do ông T người cao tuổi nên
được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thanh T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm
2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ các điều 147, 148, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 163, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 166,
202, 203 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm,
thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh
T đối với b đơn Nguyễn Thị L về việc ông Nguyễn Thanh T yêu cầu
Nguyễn Thị L trả phần đất diện tích 299,6 m
2
thuộc một phần thửa 435, 436, tờ
7
bản đồ số 01 (nay thửa 50, tờ bản đồ số 06, trong đó 204,5 m
2
thuộc thửa 50-1,
95,1 m
2
thuộc thửa 50-2), tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Thanh T phải chịu số tiền chi phí tố
tụng là 3.574.000đ (ba triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn đồng), ông T đã nộp
đủ.
3. Về án phí:
Về án phí dân sự thẩm: Ông Nguyễn Thanh T được miễn án phí dân sự
sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh T được miễn án phí dân sự
phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Bến Tre;
- TAND huyện Châu Thành;
- Chi cục THADS huyện Châu Thành;
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thu Trang
Tải về
Bản án số 173/2024/DS-PT Bản án số 173/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất