Bản án số 17/2025/HNGĐ-PT ngày 09/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 17/2025/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 17/2025/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 17/2025/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 17/2025/HNGĐ-PT ngày 09/09/2025 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ninh |
| Số hiệu: | 17/2025/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 09/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 17/2025/HNGĐ-PT
Ngày 09/9/2025
“V/v tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đng xt x phúc thẩm gm c:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên ta: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hồng Thái
Ông Dương Mạnh Chiến
Thư ký Ta án ghi biên bản phiên ta: Bà Trần Nhật Lệ - Thư ký Tòa án, Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên ta: Bà Vũ
Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xử án số 4 - Trụ sở Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia
đình phúc thẩm thụ lý số: 12/2025/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 về
việc:“tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Do Bản án
Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 04/2025/HNGĐ-ST ngày 15/7/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1- Quảng Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm số: 15/2025/QĐHNGĐ-PT ngày 25 tháng 8 năm 2025, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1987; nơi thường trú: tổ E, khu
T, phường H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Huỳnh Mỹ L –
Luật sư, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ liên hệ: số B, ngõ
F, đường X, phường C, thành phố Hà Nội, có mặt.
2. Bị đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1990; nơi thường trú: tổ C, khu T,
phường H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
3. Người kháng cáo: bị đơn chị Phạm Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
anh Nguyễn Minh Đ trình bày:
Anh Đ và chị Phạm Thị N là vợ chồng và có hai con chung là Nguyễn Minh
Đ1, sinh ngày 27/11/2019 và Nguyễn Giáng U, sinh ngày 13/8/2021. Anh Đ và chị
N đã ly hôn theo Bản án Hôn nhân và Gia đình số: 66/2024/HNGĐ-ST ngày
2
24/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; chị N là
người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho
mỗi con chung mức 3.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, sau khi ly hôn chị N nhiều
lần cản trở không cho anh Đ thăm nom, chăm sóc con chung. Bản thân chị N
không đủ điều kiện chăm sóc cả hai con chung. Vì vậy, anh Đ khởi kiện yêu cầu
thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với con chung Nguyễn Minh Đ1; về cấp
dưỡng cho con: không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung với ai.
* Trong quá trình tố tụng, bị đơn chị Phạm Thị N trình bày:
Chị N không đồng ý yêu cầu khởi kiện của anh Đ vì sau khi ly hôn, anh Đ
không cấp dưỡng nuôi con, không quan tâm chăm sóc con, không quan tâm đến
bệnh tình của con chung Nguyễn Minh Đ1. Chị N có thu nhập ổn định, có thời
gian chăm sóc, dạy bảo các con. Hai con chung đều đang học tại trường mầm non
H1, sức khỏe tốt. Chị N thừa nhận khi anh Đ đến thăm con, chị N chỉ cho con ra
gặp, không cho anh Đ vào nhà; có lần chị N cho anh Đ đón hai con về nhà anh Đ
nhưng anh Đ không quan tâm con; chỉ để con ở nhà, không cho con đi chơi nên sau
đó chị N không cho anh Đ đón con nữa.
* Trong quá trình tố tụng, những người làm chứng khai:
- Ông Vũ Đức Nghĩa L1 Tổ trưởng tổ an ninh cơ sở Khu Trới 8 cung cấp nội
dung: tháng 11/2024, ông N1 được bà S (là mẹ của anh Nguyễn Minh Đ) mời đến
nhà ông A - bà T (là bố mẹ của chị Phạm Thị N) ở tổ C, khu T, phường H, tỉnh
Quảng Ninh. Khi đến nhà ông A – bà T, anh Đ và gia đình anh Đ trình bày muốn
thăm và đón các con chung của anh Đ và chị N về nhà chơi, thì chị N mới cho mọi
người vào nhà, nhưng không cho anh Đ thăm và đón các con. Việc này được gia
đình anh Đ lập biên bản có sự chứng kiến của ông N1. Đến khoảng thời gian trước
Tết năm 2024, bà S tiếp tục mời ông N1 đến nhà ông A để gọi gia đình mở cửa cho
anh Đ và gia đình anh Đ vào thăm và đón các con. Ông A ra mở cửa, nhưng chị N
vẫn cản trở không cho anh Đ thăm và đón các con, thời gian anh Đ đến đón con
thường vào cuối tuần.
- Bà Nguyễn Thị S và bà Phạm Thị H cùng trình bày: bà S là mẹ, còn bà H là
dì của anh Nguyễn Minh Đ. Sau khi anh Đ và chị N ly hôn, nhiều lần bà S và bà H
cùng anh Đ đến nơi ở của chị N để thăm và đón các cháu là Nguyễn Minh Đ1 và
Nguyễn Giáng U, nhưng đều bị chị N ngăn cản, không đồng ý. Sự việc có ông Vũ
Đức N1 làm an ninh khu Trới 8 và ông N2 là Phó trưởng khu Trới 8 chứng kiến.
* Kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ:
- Tại Biên bản xác minh ngày 20/5/2025, ông Trần Văn L2 là Khu T và ông
Phạm Văn N2 là Phó Trưởng khu Trới 8 cung cấp nội dung: ông Trần Văn L2
khai: chị Phạm Thị N và hai cháu Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Giáng U hiện nay
đang ở cùng nhà bố mẹ đẻ chị N là ông Phạm Văn A - bà Phạm Thị T ở tổ C, khu
T, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng tháng 11/2024, bà S liên hệ với ông L2
trình bày con trai bà là anh Nguyễn Minh Đ (chồng cũ của chị N) đến thăm và đón
các con thì bị chị N cản trở, nên bà S mời ông L2 đến chứng kiến sự việc. Ông L2
đã liên hệ với ông Vũ Đức Nghĩa L1 Tổ trưởng tổ an ninh khu Trới 8 trực tiếp đến
nhà chị N giải quyết. Sự việc xảy ra tại nhà ông A - bà T được lập thành biên bản
3
có sự chứng kiến của ông N1. Sau đó, biên bản được chuyển lại cho ông L2 ký với
tư cách là Khu Trưởng; ông Phạm Văn N2 khai: khoảng tháng 9/2024, bà Nguyễn
Thị S và anh Nguyễn Minh Đ đến nhà trình bày sự việc bị chị Phạm Thị N cản trở
không cho thăm gặp, đón các con và mời ông N2 cùng đi để chứng kiến sự việc.
Tại nhà ông A, ông N2 chứng kiến chị N có lời nói và thái độ thể hiện không muốn
cho gia đình anh Đ thăm và đón các con, kết quả anh Đ không đón được các con.
- Bảng lương của anh Nguyễn Minh Đ do V cung cấp thể hiện: từ tháng 7/2024
đến tháng 4/2025, anh Đ có mức lương giao động từ 7.000.000 đồng đến 9.000.000
đồng/tháng.
- Sao kê giao dịch của Ngân hàng TMCP C – Phòng G thể hiện mức lương của
chị N là 7.800.000 đồng/tháng.
- Tại Đơn xin xác nhận của chị Phạm Thị N có xác nhận của bà Ngô Thị O, là
giáo viên chủ nhiệm của lớp 5A2 – Trường mầm non H1 với nội dung: cháu
Nguyễn Minh Đ1 là học sinh lớp 5A2, hàng ngày chị N là người đưa đón cháu Đ1
và chị N là người đóng học phí cho cháu Đ1.
* Tại phiên tòa sơ thẩm: nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện và cam kết sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo việc chữa bệnh cho
cháu Đ1. Bản thân anh Đ cũng cố gắng nộp toàn bộ tiền cấp dưỡng nuôi các con
đến tháng 7/2025; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đ trình bày:
anh Đ và chị N có hai con chung, nên mỗi người trực tiếp nuôi một con là phù hợp.
Cháu Đ1 bị rối loạn phổ tự kỷ mức độ nhẹ, anh Đ muốn chia sẻ việc chữa trị, chăm
sóc con với chị N; cháu U là con gái, còn nhỏ ở với mẹ là hợp lý. Hơn nữa, chị N
đang ở chung với bố mẹ đẻ của chị N, nhà cửa không được rộng rãi, điều kiện sinh
hoạt bất tiện, chị N cho hai con học trường mầm non H1 nên việc đón đưa các con
đi khá xa. Anh Đ ở chung nhà với bố mẹ, nhà cửa rộng rãi, gần trường mầm non
nên rất thuận tiện sinh hoạt cho cháu Đ1; chị Phạm Thị N trình bày: thời gian gần
đây chị N đã cho các con về chơi, ở với anh Đ và ông bà nội. Chị không cản trở
anh Đ thăm và đón các con nữa. Vì vậy, chị N đề nghị vẫn được trực tiếp, nuôi
dưỡng, chăm sóc cả hai con chung.
Với nội dung trên, tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số:
04/2025/HNGĐ-ST ngày 15/7/2025 của Ta án nhân dân Khu vực 1- Quảng Ninh,
quyết định như sau:
Căn cứ vào khoản 3, khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản
1 Điều 39; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số:
85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và khoản 2
Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ về việc thay
đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn:
giao con Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 27/11/2019 cho anh Nguyễn Minh Đ trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18
tuổi).
4
Anh Nguyễn Minh Đ và chị Phạm Thị N không ai phải cấp dưỡng nuôi con
chung.
Chị Phạm Thị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản
trở. Anh Đ cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp
nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Ngoài ra, còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Ngày 21/7/2025, bị đơn chị Phạm Thị N kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm, xem xét cho chị Phạm Thị N được quyền chăm sóc, nuôi
dưỡng cả hai con chung Nguyễn Minh Đ1 và Nguyễn Giáng U.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn chị Phạm Thị N giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Bị đơn chị Phạm Thị N trình bày nội dung kháng cáo và căn cứ của việc
kháng cáo: do con chung Nguyễn Minh Đ1 bị tự kỷ (có hồ sơ bệnh án), chị N là
người theo dõi, chăm sóc, điều trị bệnh cho con; bản thân chị N không cản trở việc
thăm nom con của anh Đ, anh Đ không trực tiếp thăm nom con. Chị N từ chối là
do không báo trước, mẹ anh Đ đã nhiều lần lôi kéo người làm chứng, lập biên bản
không có mặt chị N (tổ trưởng dân phố ngay cạnh nhà chị N nhưng mẹ anh Đ
không mời). Anh Đ và mẹ anh Đ đã có hành vi bạo lực đối với chị N (chị N đã báo
công an phường). Chị N hiện nay đang làm giáo viên Trường trung học cơ sở N3,
có thu nhập ổn định, có thời gian để chăm sóc các con chung (con tự kỷ); chị N đã
mua hai gói bảo hiểm cho các con. Từ khi ly hôn, anh Đ không thực hiện đúng
nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chỉ khi anh Đ khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi
con thì mới nộp tiền cấp dưỡng cho con tại cơ quan thi hành án dân sự. Chị N đề
nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận kháng cáo của chị N để chị N tiếp tục theo dõi,
chăm sóc, điều trị bệnh cho con chung Nguyễn Minh Đ1, chị N đảm bảo việc thăm
nom con của anh Đ và gia đình anh Đ.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ
là ông Huỳnh Mỹ L trình bày ý kiến của nguyên đơn về nội dung kháng cáo của bị
đơn và đề nghị của nguyên đơn: đối với kháng cáo của chị N, anh Đ không chấp
nhận. Những nội dung chị N trình bày không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh
nên không có căn cứ; tài liệu chứng minh anh Đ và bà S có hành vi bạo lực gia
đình đối với chị N đã sử dụng khi chị N xin ly hôn anh Đ năm 2024, đã lâu rồi. Chị
N có thái độ, nhiều lần cản trở, hạn chế không cho anh thăm nom, chăm sóc con
chung; việc anh Đ không thực hiện cấp dưỡng là do mâu thuẫn trong việc thăm
nom con nhưng hiện nay anh Đ đã cấp dưỡng đến tháng 8/2025. Hơn nữa, bản thân
anh Đ và gia đình mong muốn được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Minh Đ1
để chia sẻ với chị N trong việc nuôi con khi ly hôn; với điều kiện hiện nay của anh
Đ và gia đình (anh Đ ở chung nhà với bố mẹ, bố mẹ đều đã nghỉ hưu còn khỏe
mạnh, nhà ở rộng rãi, gần trường mầm non) đảm bảo việc nuôi dưỡng con. Anh Đ
và chị N có hai con chung, mỗi người trực tiếp nuôi một con là phù hợp. Đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị N, giữ nguyên bản án sơ
5
thẩm.
- Nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ nhất trí quan điểm của người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày nêu trên, không bổ sung ý kiến đối
với kháng cáo của chị Phạm Thị N.
- Nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ xuất trình bổ sung 01 Biên lai thu tiền thi
hành án số 0000246 ngày 09/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh (bản
chính); bị đơn chị Phạm Thị N xuất trình bổ sung: 01 Quyết định số: 4821/QĐ-
UBND ngày 31/10/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố H (bản sao), 01 Giấy
chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế số: 008610/2022/GCT ngày
29/09/2022 của Bệnh viện Đ2 (bản sao) và 01 Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh bảo hiểm y tế số: 001917/2025/PCCSKBCB ngày 20/6/2025 (bản sao);
Kiểm sát viên không xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của
mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong giai
đoạn sơ thẩm và kết quả làm rõ tại phiên toà hôm nay, đủ căn cứ xác định: Tòa án
cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ là
không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309
của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị N. Sửa Bản án
Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 04/2025/HNGĐ-ST ngày 15/7/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1- Quảng Ninh, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Nguyễn Minh Đ.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra
tại phiên ta, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên ta, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị N làm trong hạn luật
định và đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,…số: 85/2025/QH15 quy định nên Hội đồng
xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị N, Hội đồng xét xử xét
thấy:
Anh Nguyễn Minh Đ và chị Phạm Thị N đã ly hôn theo Bản án Hôn nhân và
Gia đình sơ thẩm số: 66/2024/HNGĐ-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nay là Tòa án nhân dân Khu vực 1- Quảng
Ninh; về con chung: giao cho chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung
Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 27/11/2019 và Nguyễn Giáng U, sinh ngày
13/8/2021, anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung mức 3.000.000
đồng/tháng.
6
Sau khi ly hôn, chị N và các con chung sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ chị N; con
chung Nguyễn Minh Đ1 bị chuẩn đoán bệnh rối loạn giao tiếp xã hội, tự kỷ (F84,0)
và điều trị từng đợt, liên tục từ năm 2019 đến năm 2024.
Theo nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ trình bày: sau khi ly hôn, chị N nhiều
lần cản trở không cho anh Đ thăm nom, chăm sóc con chung. Bản thân chị N
không đủ điều kiện chăm sóc cả hai con chung. Vì vậy, anh Đ khởi kiện yêu cầu
thay đổi người trực tiếp nuôi con Nguyễn Minh Đ1, giao con chung Nguyễn Minh
Đ1 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng: không ai phải cấp dưỡng nuôi
con chung với ai.
Theo bị đơn chị Phạm Thị N trình bày: sau khi ly hôn, anh Đ không cấp dưỡng
nuôi con, không quan tâm chăm sóc con, không quan tâm đến bệnh tình của con
Nguyễn Minh Đ1. Chị N có thu nhập ổn định, có thời gian chăm sóc, dạy bảo các
con. Hai con đều đang học tại trường mầm non H1, sức khỏe tốt. Chị N thừa nhận
khi anh Đ thăm con, chị N cho con ra gặp, nhưng không cho anh Đ vào nhà. Có lần
chị N cho anh Đ đón hai con về nhà nhưng anh Đ không quan tâm con, chỉ để con
ở nhà, không cho con đi chơi nên sau đó chị N không cho anh Đ đón con nữa.
Căn cứ quan điểm của anh Đ, chị N và kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ như
nêu trên, có căn cứ xác định sau khi anh Đ và chị N ly hôn: anh Đ vi phạm nghĩa
vụ cấp dưỡng cho con theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
ly hôn từ tháng 7/2024, anh Đ chỉ đưa tiền cấp dưỡng cho chị N được 02 lần (01
lần 03 triệu, 01 lần 02 triệu), chị N đã yêu cầu thi hành án, Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Hạ Long nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1-Quảng Ninh đã
ban hành Quyết định cưỡng chế thi hành án số: 14/QĐ-CCTHADS ngày
05/12/2024 v/v khấu trừ lương của anh Đ tại Viễn thông Q để thi hành án nhưng
Viễn thông V vẫn chưa thực hiện; chị N vi phạm quyền, nghĩa vụ thăm nom con
sau khi ly hôn của anh Đ theo khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014: chị N nhiều lần cản trở không cho anh Đ thăm nom, chăm sóc các con.
Đối với căn cứ anh Đ đưa ra để yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về việc chị N cản trở việc thăm nom con của anh Đ: anh Đ trình bày đã mời
đại diện khu phố can thiệp, gia đình anh Đ đã lập biên bản có xác nhận của đại
diện khu phố nơi chị N thường trú. Tuy nhiên, chưa có căn cứ xác định về việc
chính quyền địa phương có lập biên bản vụ việc, có biện pháp yêu cầu chị N chấm
dứt hành vi ngăn cản anh Đ thăm nom con chung và ra Quyết định xử phạt hành
chính đối với chị N về hành vi ngăn cản quyền thăm nom con chung của anh Đ
không.
Về việc chị N không đủ điều kiện chăm sóc cả hai con chung: anh Đ không
đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xác
minh tại khu phố về việc chị N ngăn cản anh Đ thăm nom con chung, nhưng không
xác minh về điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của
chị N. Căn cứ tài liệu, chứng cứ chị N xuất trình trong quá trình giải quyết vụ án và
tình trạng thực tế từ khi chị N và anh Đ ly hôn, thấy: chị N và các con chung sinh
sống tại nhà bố mẹ đẻ chị N; chị N có việc làm và thu nhập ổn định; con chung
Nguyễn Minh Đ1 bị chuẩn đoán bệnh rối loạn giao tiếp xã hội, tự kỷ (F84,0), được
7
chị N đưa đi điều trị tại Bệnh viện và Trung tâm; các con chung đều đang được chị
N cho đi học tại Trường mầm non H1. Về tình trạng sức khỏe của cháu Đ1: tại Bản
tóm tắt hồ sơ bệnh án của Bệnh viện bảo vệ sức khoẻ tâm thần kết luận thang đánh
giá mức độ tự kỷ của cháu Đ1 có mức độ rối loạn phổ tự kỷ mức độ nhẹ đến trung
bình, hiện nay cháu Đ1 sức khoẻ tốt, phát triển bình thường.
Như vậy có thể thấy từ sau khi chị N và anh Đ ly hôn (tháng 7/2024), mặc dù
anh Đ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con chung, chị N vẫn
đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung; về độ tuổi các con chung của anh Đ và chị N
là đều chưa đủ 07 tuổi; con chung Nguyễn Minh Đ1 bị tự kỷ nên cần một điều
kiện, môi trường sống ổn định, sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tận tình và dành
nhiều thời gian theo dõi được quá trình điều trị của con, quan tâm đến con nhiều
hơn và tích cực phối hợp với bác sĩ điều trị của con để giúp quá trình điều trị có
hiệu quả nhanh hơn.
Theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nhận
thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi
con sau khi ly hôn của anh Đ, giao cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung
Nguyễn Minh Đ1 là không có căn cứ, do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của
chị N.
Đối với mức cấp dưỡng của anh Đ đối với các con chung Nguyễn Minh Đ1 và
Nguyễn Giáng U, nếu anh Đ xét thấy không còn đủ điều kiện cấp dưỡng thì anh Đ
có quyền khởi kiện thay đổi mức cấp dưỡng tại Tòa án có thẩm quyền bằng vụ án
khác.
[3] Về án phí: Tòa án chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị N, chị N không
phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm; anh Nguyễn Minh Đ phải chịu án
phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[4] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội
dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,…số: 85/2025/QH15.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị N, sửa Bản án Hôn nhân và Gia
đình sơ thẩm số: 04/2025/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 1- Quảng Ninh như sau:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 1 Điều 147 và khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,…số: 85/2025/QH15. Điều 84
của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khoản 3 Điều 26 và khoản 2 Điều 29
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
8
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh Đ về
thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
[2] Về án phí: anh Nguyễn Minh Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0001845 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1- Quảng Ninh.
Chị Phạm Thị N không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm, trả lại chị
N số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000161 ngày 25/7/2025 của Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ninh.
[3] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- TAND Khu vực 1 - Quảng Ninh;
- Phòng Thi hành án dân sự Khu vực
1 - Quảng Ninh;
- Lưu HCTP, HSVA.
TM. HỘI ĐNG XT X
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thúy Hằng
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm