Bản án số 17/2017/DS-ST ngày 22/09/2017 của TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2017/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 17/2017/DS-ST ngày 22/09/2017 của TAND huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Phú Riềng (TAND tỉnh Bình Phước)
Số hiệu: 17/2017/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2017
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: nghia vu thanh toan
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ RIỀNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 17 /2017/DS-ST
Ngày: 22/9/2017
V/v “Tr/c Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phán
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Viết Trung
2. Ông Phạm Văn Khuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú
Riềng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia
phiên toà: Bà Lê Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng xét xử
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2017/TLST-DS ngày 07/7/2017 về việc “Tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 27/2017/QĐXXST-DS ngày 08/9/2017 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Dương Thị L, sinh naêm 1962, Địa chỉ: thôn I, xã II, huyện III,
tỉnh Bình Phước, (Vắng mặt);
Người đại diện theo y quyền của Nguyên đơn: Đào Thị N, sinh năm 1978,
địa chỉ: Tổ 2, khu 3, phường 4, thị 5, tỉnh Bình Phước Theo Giấy ủy quyền ngày
13/5/2016 (Có mặt);
* Bị đơn: Ông Văn C, sinh naêm: 1989; Nguyễn Thị Phương D, sinh năm
1992, cùng địa chỉ: thôn I, II, huyện III, tænh Bình Phöôùc, (Vắng mặt, đơn xin
giải quyết vắng mặt).
NỘI D VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 16/5/2016 của Nguyên đơn bà Dương Thị L trình bày:
Vào ngày 26/02/2014 Dương Thị L (sau đây gọi L) chuyển nhượng
cho ông Văn C (sau đây gọi ông C) thửa đất diện tích 641m
2
tọa lạc tại thôn
Sơn 2, xã Bình n, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước với số tiền
370.000.000đ (Ba trăm bảy ơi triệu đồng). Đến ngày 11/6/2014 ông C còn nợ lại
L số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất 20.000.000đ (Hai ơi triệu
đồng), nên ông C có lập “Giấy giao tiền” ghi nhận nội dung giao số tiền 150.000.000đ
nợ lại số tiền 20.000.000đ đến khi lấy sổ sẽ thanh toán cho L. Tuy nhiên, đến
ngày 26/01/2015 ông C đã làm thtục sang tên tách sổ mang tên ông C vợ là
Nguyễn Thị Phương D (sau đây gọi D) nhưng không chịu thanh toán hết số tiền
còn lại cho L theo thỏa thuận ngày 11/6/2014.
Nay L yêu cầu khởi kiện ông C, bà D phải trả số tiền 20.000.000 đồng lãi
suất chậm trả tính từ ngày nhận sổ 26/01/2015 đến ngày khởi kiện là 3.400.000 đồng.
Người đại diện nguyên đơn theo ủy quyền bà Đào Thị N trình bày:
Đào Thị N (sau đây được gọi N) thống nhất với lời trình bày của L
trong đơn khởi kiện. Tuy nhiên, N yêu cầu Tòa án buộc ông C, D nghĩa vụ
trả cho L số tiền 20.000.000 đồng, không yêu cầu ông C, D phải chịu phần lãi
suất chậm trả.
* Theo Bản tự khai ngày 29/8/2017 ông C, bà D thống nhất trình bày:
Ông C D thừa nhận hiện còn nợ lại L số tiền 20.000.000đ (Hai mươi
triệu đồng) tiền nhận chuyển nhượng của L diện tích đất để làm nhà của vợ
chồng tọa lạc tại thôn Sơn Hà 2, Bình Sơn, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
Tuy nhiên, hai bên có thỏa thuận bằng miệng về chi phí sang tên tách sổ mỗi bên
chịu một nửa, nhưng đến ngày 26/01/2015 ông C đã làm thủ tục sang tên tách s
mang tên ông C chi phí hết số tiền 11.000.000 đồng thì bà L không chịu, nên xảy
ra tranh chấp.
Nay L yêu cầu khởi kiện ông C, bà D phải trả số tiền 20.000.000 đồng lãi
suất chậm trả tính từ ngày nhận sổ 26/01/2015 đến ngày khởi kiện 3.400.000 đồng
thì ông C D chỉ chấp nhận trả số tiền 15.000.000 đồng và không đồng ý trả tiền
lãi suất chậm trả. Đồng thời ông C, bà D có làm đơn xin giải quyết vắng mặt.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội
đồng xét xử đã tn theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành các quy định pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:
Các đương sự chấp hành đầy đcác quy định của pháp luật, tại phiên tòa vắng mặt bị
đơn là ông C và bà D, nhưng ông C và bà D đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, nên áp
dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơnDương Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được xem xét tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Đây là vụ án dân sự do nguyên đơn Dương Thị L làm đơn khởi kiện ông Cù
Văn C, Nguyễn Thị Phương D yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán s tiền
20.000.000 đồng và tiền lãi suất chậm thanh toán của hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất theo nội dung “Giấy giao tiền” đề ngày 11/6/2014. Do ông Văn C,
Nguyễn Thị Phương D, cùng địa chỉ: thôn I, xã II, huyện III, tænh Bình Phöôùc và cũng
là nơi hợp đồng được thực hiện. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35,
điểm c khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước;
- Thời điểm xảy ra tranh chấp hợp đồng tính từ ngày 26/01/2015 khi ông C đã
làm thủ tục sang tên tách sổ xong, đến ngày nộp đơn khởi kiện 26/7/2016 là còn trong
thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2005;
- Việc bị đơn ông Văn C, Nguyễn Thị Phương D cùng làm đơn xin giải
quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bđơn theo quy định tại
khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
- Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là
CNQSDĐ) đã được UBND nh Sơn, huyện Gia Mập, tỉnh Bình Phước
chứng thực số 30/CN, quyển số 01/2014TP/CC-SCT/HĐGD ngày 24 tháng 5 năm
2014 L đã giao đất cho ông C sử dụng từ ngày 17/4/2014. Đến ngày 23/7/2014
Ủy ban nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước cấp quyền sử dụng đất cho ông
Cù Văn C là hợp pháp.
- Đối với “Giấy giao tiền” ngày 11/6/2014 ghi nhận nội dung ông C giao cho
L số tiền 150.000.000 đồng nlại số tiền 20.000.000 đồng đến khi lấy sổ sẽ thanh
toán cho bà L.
Từ những chứng cứ nêu trên chứng tỏ việc ông C L giao kết
HĐCNQSDĐ cho nhau thật, các bên đã làm thủ tục chuyển nhượng QSDĐ cho
nhau theo quy định của pháp luật và bên chuyển nhượng đã giao đất cho bên nhận
chuyển nhượng ông Văn C sử dụng từ ngày 17/4/2014. Tuy nhiên, bên nhận
chuyển nhượng chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền cho bên chuyển nhượng
đúng.
[3] Xét lời khai của các đương sự:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn đề ngày 16/5/2016, lời trình bày người đại
diện theo ủy quyền ngày 17/7/2017 và tại phiên tòa hôm nay đều phù hợp với lời trình
bày của bị đơn tại bản tự khai ngày 29/8/2017 thừa nhận việc bị đơn còn nợ lại số tiền
20.000.000 đồng đến ngày 26/01/2015 ông C đã nhận giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên mình nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền này đối với
nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ nêu trên.
Tuy nhiên, bị đơn ông C và D cho rằng: Các bên có thỏa thuận về chi phí làm
thủ tục sang tên tách sổ bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng mỗi bên chịu
một nửa, nhưng khi làm thủ tục sang tên tách sổ xong hết số tiền 11.000.000 đồng thì
bà L không chấp nhận chịu số tiền làm sổ là 5.500.000 đồng Việc ông C và bà D chưa
thanh toán số tiền 20.000.000 đồng cho L. Nhưng ông C bà D không cung cấp
được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, nên không căn cứ chấp
nhận.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn Dương Thị L yêu cầu Tòa án buộc ông Văn C, Nguyễn
Thị Phương D thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền 20.000.000 đồng tiền lãi suất
chậm thanh toán của HĐCNQSDĐ theo nội dung “Giấy giao tiền” đề ngày 11/6/2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, Đào Thị N là Người đại
diện theo y quyền của nguyên đơn đã yêu cầu rút phần lãi suất chậm trả. Xét thấy,
đây là sự tự nguyện của đương sự, phù hợp với phạm vi ủy quyền theo Giấy ủy quyền
ngày 13/5/2016.
Từ những phân tích nêu trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
bà Dương Thị L.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm:
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dương Thị L, nên cần
tuyên buộc bị đơn ông Văn C, Nguyễn Thị Phương D phải chịu án phí đối với
phần giá trị hợp đồng bị tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn bà Dương Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, điểm g
khoản 1 Điều 40, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 290; Điều 427; Điều 438; Điều 697 khoản 1 Điều 701
Bộ luật dân sự năm 2005.
Căn cứ Điều 167, 168 và 188 của Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị L
1. Tuyên buộc bị đơn ông Văn C, bà Nguyễn Thị Phương D nghĩa vụ
thanh toán cho bà Dương Thị L số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu
thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành, thì còn phải chịu lãi suất đối
với số tiền chưa thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành, theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì các đương sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bđơn ông Cù Văn C, Nguyn Thị Phương D phi chu án p n sự
thẩm 1.000.000đ (Một triệu đng).
- Nguyên đơn Dương Thị L không phải chịu án phí dân sự thẩm. Trả lại
cho bà Dương Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 585.000đ (Năm trăm tám mươi
lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 025932 ngày
06/7/2017 của Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
bị đơn vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Phước;
- VKSND tỉnh Bình Phước;
- VKSND huyện Phú Riềng;
- Chi cục THADS huyện Phú Riềng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
(Đã ký)
NGUYỄN VĂN PHÁN
Tải về
Bản án số 17/2017/DS-ST Bản án số 17/2017/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất