Bản án số 149/2023/DS-PT ngày 27/04/2023 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 149/2023/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 149/2023/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 149/2023/DS-PT ngày 27/04/2023 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Dương |
| Số hiệu: | 149/2023/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/04/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 149/2023/DS-PT
Ngày 27-4-2023
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tình – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương.
- Đi din Vin Kim st nhân dân tnh Bnh Dương tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – Kim sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2023/TLPT-DS Ngày 16 tháng 02
năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2022/DS-ST Ngày 15 tháng 12 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 120/2023/QĐ-PT Ngày
09/3/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp ĐT, xã ĐH,
huyện DT, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1994;
địa chỉ: đội 9, BN, xã TB, huyện ST, tỉnh Quãng Ngãi; chỗ ở hiện nay: khu phố
4B, thị trấn DT, huyện DT, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền Ngày
25/10/2021).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T1, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp HL, xã MH,
huyện DT, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đào Đức N, sinh năm 1991; địa
chỉ: khu phố 4, phường VT, thành phố TU, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền
Ngày 14/4/2023).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2
1. Bà Nguyễn Thị Bạch C, sinh năm 1955 và ông Nguyễn Văn Ng, sinh năm
1953; địa chỉ: ấp HL, xã MH, huyện DT, tỉnh Bình Dương.
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp BD, xã Định An, huyện
DT, tỉnh Bình Dương.
Người làm chứng: Bà Đặng Thị Trúc L, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp HL, xã
MH, huyện DT, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Tại đơn khởi kiện Ngày 21/02/2022, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên
tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Văn L trình bày:
Ngày 20/6/2021, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thùy T1 có thỏa
thuận đặt cọc chuyn nhượng phần đất diện tích 6000m
2
(ngang 50m x dài 120m)
thuộc thửa số 246, tờ bản đồ 42, tọa lạc tại ấp HL, xã MH, huyện DT, tỉnh Bình
Dương. Phần đất này, do bà Nguyễn Thị Bạch C đứng tên quyền sử dụng đất (bà
T1 cam kết đã nhận ủy quyền toàn phần đối với diện tích đất trên từ bà C và cam
kết toàn quyền quyết định).
Theo nội dung hợp đồng đặt cọc, ông T và bà T1 thỏa thuận giá chuyn
nhượng là 6.250.000.000 đồng. Ngày 20/6/2021, ông T đặt cọc 1.000.000.000
đồng. Hai bên hẹn đến Ngày 20/8/2021, bà T1 hoàn tất các thủ tục và ký hợp đồng
chuyn nhượng quyền sử dụng đất cho ông T thì ông T thanh toán hết số tiền còn
lại cho bà T1. Tuy nhiên, đến Ngày 20/8/2021 do dịch bệnh nên hai bên không
th ký kết hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng Công chứng
được. Hiện nay, hai bên không th thống nhất được thời gian nào đ ra công chứng
ký chuyn nhượng. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc chuyn
nhượng quyền sử dụng đất Ngày 20/6/2021 giữa ông T và bà T1, yêu cầu bà T1
thanh toán lại tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Ngoài ra, ông L
không có ý kiến nào khác.
Theo bản tự khai Ngày 12/4/2022, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên
tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T1 trình bày:
Ngày 04/5/2021, cha mẹ bà T1 là bà Nguyễn Thị Bạch C và ông Nguyễn
Văn Ng có ủy quyền cho bà T1 toàn quyền quyết định đối với phần đất thuộc thửa
số 246, tờ bản đồ 42, tọa lạc tại ấp HL, xã MH, huyện DT, tỉnh Bình Dương. Ngày
22/5/2021, bà T1 và bà Nguyễn Thị H thỏa thuận chuyn nhượng thửa đất số 246
nêu trên với giá 6.250.000.000 đồng. Bà H đặt cọc cho bà T1 số tiền 500.000.000
đồng, hẹn đến ngày 12/6/2021 sẽ giao thêm số tiền 500.000.000 đồng, số tiền còn
lại, hẹn đến ngày 07/8/2021 ra công chứng hợp đồng sẽ giao đủ. Bà T1 chịu trách
nhiệm chuẩn bị giấy tờ cần thiết đ công chứng chuyn nhượng.
Ngày 12/6/2021, bà H không có tiền đ giao tiếp tiền cọc 500.000.000 đồng
nên đến ngày 20/6/2021 bà H có dẫn ông T đến và các bên (bà T1, bà H, ông T)
3
thống nhất thỏa thuận bà H sẽ sang lại phần đất đã đặt cọc với bà T1 cho ông T
(tức là bà H không nhận chuyn nhượng mà thay vào đó là ông T nhận chuyn
nhượng). Khi các bên thống nhất, bà T1 và ông T có ký với nhau hợp đồng đặt
cọc Ngày 20/6/2021 thỏa thuận chuyn nhượng thửa 246 với giá vẫn là
6.250.000.000 đồng, ông T giao thêm cho bà T1 500.000.000 đồng, cộng với số
tiền 500.000.000 đồng bà H giao trước đó nên ghi trong hợp đồng là
1.000.000.000 đồng. Bà T1 và ông T thỏa thuận, ngày 20/8/2021 ra Phòng Công
chứng tiến hành công chứng và giao đủ số tiền còn lại. Nếu đến ngày 20/8/2021,
bà T1 không bán thì phải đền gấp hai lần tiền cọc là 2.000.000.000 đồng, nếu ông
T không mua thì phải mất cọc.
Đến Ngày 20/8/2021, do dịch bệnh nên hai bên không th tiến hành công
chứng hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất nên đến đầu tháng 9/2021 bà
T1 liên hệ bà H đ yêu cầu công chứng hợp đồng thì bà H và ông T nói liên hệ bà
G là người đi chung với bà H đ lo thủ tục chuyn nhượng. Bà T1 liên lạc với bà
G thì bà G nói bà T1 liên lạc với ông T. Sau đó, bà T1 liên lạc với ông T thì ông
T không nghe máy. Bà T1 có nhắn tin cho ông T với nội dung là trong thời hạn
đến hết Ngày 30/9/2021 nếu ông T không đến gặp bà T1 đ thực hiện việc công
chứng chuyn nhượng thì sẽ mất cọc. Sau này, bà T1 và ông T có điện thoại nói
chuyện với nhau và ông T đồng ý là ngày 30/9/2021 không ra công chứng thì sẽ
mất cọc.
Ngày 27/9/2021, ông T và bà H có đến nhà bà T1 xin sang cọc lại cho bà H
và làm lại giấy cọc mới, nhưng bà T1 không đồng ý nên giữa ông T và bà H có
thỏa thuận với nhau là ông T sẽ sang cọc và ủy quyền lại cho bà H việc nhận
chuyn nhượng phần đất trên và đến ngày 30/9/2021 bà H chịu trách nhiệm giao
hết số tiền còn lại cho bà T1. Việc thỏa thuận này, được viết mặt sau hợp đồng
đặt cọc (bản chính) ngày 20/6/2021 mà phía ông T giữ, có bà Đặng Thị Trúc L
làm chứng.
Ngày 30/9/2021 bà H, ông T đều không ai liên hệ với bà T1 đ làm thủ tục
chuyn nhượng và cũng không giao thêm tiền cọc cho bà T1. Như vậy, ông T đã
từ bỏ chuyn nhượng và phải mất tiền cọc.
Nay, ông T khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc chuyn nhượng quyền
sử dụng đất ký ngày 20/6/2021 giữa ông T và bà T1 đối với phần đất thuộc thửa
số 246, quyền sử dụng đất do bà Nguyễn Thị Bạch C đứng tên chủ sử dụng thì bà
T1 đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc. Đối với số tiền cọc 1.000.000.000 đồng (một tỷ
đồng), bà T1 không đồng ý thanh toán lại vì ông T không ra công chứng nên phải
mất cọc. Ngoài ra, bà T1 không có ý kiến nào khác.
Theo bản tự khai ngày 28/4/2022 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị Bạch C, ông Nguyễn Văn Ng trình bày:
Bà C, ông Ng là cha mẹ ruột của bà T1. Bà C được Ủy ban nhân dân huyện
DT cấp quyền sử dụng đất đối với các thửa số 118, 246, tờ bản đồ số 42, tọa lạc
tại ấp HL, xã MH, huyện DT theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát
hành BD697452, số vào sổ CH00286 cấp ngày 27/01/2011. Ngày 04/5/2021, tại
4
Ủy ban nhân dân xã MH, bà C và ông Ng đã lập hợp đồng ủy quyền lại cho bà T1
toàn quyền quyết định đối với phần đất trên. Vì tuổi cao, đi lại khó khăn nên bà
C, ông Ng chuyn nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức ủy quyền cho bà T1.
Hiện tại, ông bà không còn liên quan đến phần đất này. Nay nguyên đơn khởi kiện
bà T1, ông bà thống nhất ý kiến của bà T1 và không có yêu cầu gì trong vụ án.
Theo bản tự khai Ngày 04/7/2022 và biên bản lấy lời khai ngày 04/7/2022
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà H có đặt cọc chuyn nhượng phần đất thuộc thửa đất số 246 với bà T1.
Sau đó, bà H không có đủ tiền đ ra công chứng nên có dẫn ông T đến nhà bà T1.
Tại đây, ba bên thống nhất thỏa thuận là bà H chuyn giao cọc qua cho ông T. Khi
đó, ông T và bà T1 có làm giấy đặt cọc mới và ông T có giao thêm cho bà T1
500.000.000 đồng, cộng với số tiền cọc mà bà H giao trước đó 500.000.000 đồng,
tổng cộng 1.000.000 đồng. Sau khi, ông T làm giấy cọc với bà T1 thì giấy đặt cọc
giữa bà H và bà T1 thì bà T1 thu về, hủy bỏ. Sau này, ông T cũng đã thanh toán
lại cho bà H số tiền 500.000.000 đồng mà bà H đã đưa cho bà T1. Từ khi, ông T
đặt cọc mua đất của bà T1 thì bà H có ghé nhà bà T1 vài lần nhưng chủ yếu là do
làm đất chung. Bà H không có lần nào đến nhà bà T1 đ nói chuyện liên quan đến
sang cọc và ủy quyền lại cho bà H nhận chuyn nhượng phần đất mà ông T đã đặt
cọc cho bà T1, vì hợp đồng ban đầu giữa bà H và bà T1 đã thỏa thuận chuyn giao
lại cho ông T, bà H không còn liên quan đến việc chuyn nhượng phần đất này.
Nay ông T khởi kiện bà T1, bà H không có ý kiến, vì tiền đặt cọc 1.000.000.000
đồng là của ông T, bà H không còn liên quan đến hợp đồng đặt cọc này.
Người làm chứng bà Đặng Thị Trúc L trình bày:
Bà Trúc L là cháu ruột của bà T1. Bà Trúc L biết bà T1 nhận chuyn nhượng
lại thửa đất số 246 của bà C (bà ngoại của bà Trúc L) dưới dạng hợp đồng ủy
quyền, bà C ủy quyền cho bà T1 được toàn quyền sang nhượng, tặng cho thửa đất
số 246.
Ngày 22/5/2021, bà T1 với bà H có thỏa thuận chuyn nhượng thửa đất số
246 với giá 6.250.000.000 đồng, cùng Ngày bà H đặt cọc cho bà T1 500.000.000
đồng, hẹn ngày 12/6/2021 giao thêm tiền cọc 500.000.000 đồng, số tiền còn lại
5.250.000.000 đồng hẹn đến ngày 07/8/2021 tiến hành công chứng hợp đồng sẽ
giao hết; ngày 12/6/2021, bà H không có tiền đ giao; ngày 20/6/2021, bà H dẫn
ông T đến nhà bà T1, các bên thồng nhất thỏa thuận bà H sang cọc lại cho ông T
thửa đất trên; cùng ngày bà T1 ký hợp đồng đặt cọc chuyn nhượng thửa đất trên
cho ông T với giá 6.250.000.000 đồng; ông T giao thêm cho bà T1 500.000.000
đồng, cộng với 500.000.000 đồng bà H giao trước đó nên thành 1.000.000.000
đồng; hai bên thỏa thuận đến ngày 20/8/2021 sẽ T hành công chứng hợp đồng
chuyn nhượng, nếu bà T1 không bán thì phải đền gấp hai lần tiền cọc là
2.000.000.000 đồng, ông T không mua thì mất tiền cọc. Sau này (không nhớ rõ
thời gian), bà Trúc L đến nhà bà T1 thì gặp ông T, bà H, bà G xin sang lại hợp
đồng đặt cọc ngày 20/6/2021 ngược lại cho bà H và ông T, bà T1 sẽ viết lại hợp
đồng đặt cọc mới nhưng bà T1 không đồng ý. Ông T có viết vào phía sau hợp
đồng ngày 20/6/2021 với nội dung ủy quyền lại cho bà H, bà G có ông T, bà H ký
5
tên lăn tay vào mặt sau của giấy đặt cọc và nhờ bà Trúc L ký tên người làm chứng;
giấy đặt cọc Ngày 20/6/2021 có 03 bản, ông T giữ 01 bản chính, bà T1 giữ 01 bản
chính, bà Trúc L giữ bản pho to; nội dung ủy quyền lại của ông T viết phía sau
hợp đồng là bản chính ông T cất giữ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2022/DS-ST ngày 15 tháng 12 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương, đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015; Điều 328, 427 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của ông
Nguyễn Văn T đối với bà Nguyễn Thị Thùy T1.
Hủy hợp đồng đặt cọc về việc chuyn nhượng quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất Ngày 20/6/2021 giữa giữa ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị
Thùy T1 đối với phần đất diện tích 6.000m
2
(ngang 50m x dài 120m), thuộc thửa
số 246, tờ bản đồ 42, tại ấp HL, xã MH, huyện DT, tỉnh Bình Dương.
Buộc bà Nguyễn Thị Thùy T1 có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn
Văn T số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, k từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành
án, nếu bà T1 không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bà T1 còn phải chịu
tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, trách nhiệm thi hành án và
quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 22 và ngày 28/12/2022, bị đơn bà T1 có
đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kim sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án
cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Hai bên thừa nhận thời đim dịch bệnh nên không th ký hợp
đồng chuyn nhượng công chứng vào ngày 20/8/2021 theo thỏa thuận được. Việc
không ký được hợp đồng công chứng là phù hợp Chỉ thị số 16 của Chính phủ về
thực hiện giãn cách xã hội (ở DT đến 22/8/2021) là yếu tố khách quan. Sau thời
đim Covid và giản cách xã hội, các bên chưa thống nhất ngày nào ra ký hợp đồng
công chứng, người làm chứng trình bày do bà T1 đề xuất ngày 30/9/2021 nhưng
6
ông T không đồng ý. File ghi âm thì nói rõ ông T không có tiền, lỗi của bà T1 là
không có văn bản chính thức yêu cầu ký hợp đồng công chứng. Như vậy, hai bên
đều có lỗi nên không phạt cọc. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, ý kiến của Kim sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà C, ông Ng có yêu cầu giải quyết
vắng mặt, bà H đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do,
căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án T hành xét xử vắng mặt
các đương sự nêu trên.
Ngày 20/4/2023, bà T1 có đơn yêu cầu triệu tập bà Đặng Thị Trúc L, bà Trần
Thị PT là người làm chứng. Quá trình tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai
bà Trúc L, bà Trúc L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tại phiên tòa, bà Trúc
L có mặt, Tòa án đã T hành hỏi bà Trúc L thì những trình bày của bà Trúc L ở cấp
sơ thẩm vẫn giữ nguyên. Đối với bà Tường, là người nhận chuyn nhượng đất của
bà T1 vào ngày 29/10/2021, theo văn bản xác nhận ngày 20/4/2023 của bà T1 có
bà Trúc L, bà Tường ký tên người làm chứng thì vụ việc giữa ông T, bà T1 giai
đoạn từ ngày 21/6/2021 đến Ngày 05/10/2021 bà Tường không chứng kiến nên
Tòa án không triệu tập bà Tường làm người làm chứng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Hồ sơ vụ án th hiện:
Thửa đất số 246, tờ bản đồ số 42, tại xã MH, huyện DT, tỉnh Bình Dương
theo GCNQSDĐ số BD 697452, số vào sổ CH 00286 ngày 27/01/2011 do UBND
huyện DT cấp cho bà Nguyễn Thị Bạch C (mẹ ruột của bà T1). Ngày 04/5/2021,
bà C và ông Nguyễn Văn Ng (chồng của bà C) lập Hợp đồng ủy quyền chứng
thực số 127/2021, quyn số 01-STC/HĐ,GD tại UBND xã MH, huyện DT, tỉnh
Bình Dương được thay mặt bà C, ông Ng thực hiện các quyền của chủ sử dụng
đất. Ngày 20/6/2021, bà T1 (bên bán – A) với ông T (bên mua – B) ký kết hợp
đồng đặt cọc có nội dung: Bà T1 bán cho ông T nhà đất diện tích 50m x 120m
thuộc thửa số 246 nêu trên với giá 6.250.000.000 đồng; ông T đặt cọc trước cho
bà T1 1.000.000.000 đồng; thời hạn đặt cọc là 60 Ngày, k từ ngày 20/6/2021 đến
ngày 20/8/2021, khi thủ tục công chứng hoàn tất, ông T phải giao đủ số tiền còn
lại cho bà T1; hai bên thỏa thuận diện tích thửa đất đo đạc bao nhiêu m
2
tính tiền
bấy nhiêu; nếu quá thời hạn thỏa thuận mà bên A không bán, chuyn nhượng cho
bên B thì phải bồi thường cho bên B gấp hai lần số tiền bên B đã đặt cọc, tổng số
tiền hoàn trả và bồi thường là 2.000.000.000 đồng; nếu bên B không mua thì mất
tiền cọc. Ngày 20/8/2021, hai bên không ký kết được hợp đồng công chứng do
dịch bệnh Covid 19. Trước khi ông T, bà T1 ký hợp đồng đặt cọc thì ngày
7
22/5/2021 bà T1 với bà H cũng ký kết hợp đồng đặt cọc đối với thửa đất số 246
nhưng các bên đã thỏa thuận hủy bỏ giao kết này, đ bà T1 ký kết hợp đồng với
ông T; ông T đã đặt cọc cho bà T1 1.000.000.000 đồng và đưa lại cho bà H
500.000.000 đồng tiền cọc mà bà H đã đưa bà T1. Ông T, bà T1 đều thừa nhận
thỏa thuận chuyn nhượng nêu trên, đây là các tình tiết không cần phải chứng
minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, bà T1 đứng ra ký hợp đồng đặt
cọc với ông T là phù hợp với quy định pháp luật nên hợp đồng này có giá trị pháp
lý. Tại phiên tòa sơ thẩm, hai bên thống nhất hủy hợp đồng đặt cọc nêu trên, đây
là sự tự nguyện của đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy hợp đồng đặt cọc
ngày 20/6/2021 giữa bà T1 với ông T là có căn cứ.
[2.2] Về thời gian thỏa thuận ký hợp đồng công chứng sau ngày 20/8/2021:
Nguyên đơn trình bày: Hai bên không th thống nhất được thời gian nào đ
ra công chứng ký hợp đồng chuyn nhượng. Bị đơn trình bày: Đầu tháng 9/2021
bà T1 yêu cầu ra công chứng thì ông T không nghe máy nên bà T1 có nhắn tin
cho ông T với nội dung là trong thời hạn đến hết Ngày 30/9/2021 nếu ông T không
đến gặp bà T1 đ thực hiện việc công chứng chuyn nhượng thì sẽ mất cọc. Ngày
30/9/2021 ông T không ai liên hệ với bà T1 đ làm thủ tục chuyn nhượng và
cũng không giao thêm tiền cọc cho bà T1.
Xét, theo tin nhắn Ngày 18/9/2021 có nội dung: “Ah T em bé T1 ở HL ạ coi
ai đứng tên 3 sổ 47m50 thì chuẩn bị cho em chứng minh với hộ khẩu để 30 tây
này công chứng nha ah em chỉ cho ah thời gian đến đó củng 20 Ngày để ah lo
tiền rồi còn nếu như 30 tây mà ah kg xuống tiền thi e sẽ kg cho thời gian nửa ah
sẻ mất cọc nha ah lúc đó ah đừng buồn em”. Tuy nhiên, ngày 27/9/2021, khi ông
T đến nhà bà T1 đ thương lượng, thì giữa bà T1, ông T vẫn chưa thống nhất được
thời gian hai bên ra Văn phòng công chứng ký hợp đồng chuyn nhượng, theo bà
T1 thì Ngày 05 tây, theo ông T là 02 tháng (theo file ghi âm của bà T1 cung cấp)
và sau thời gian này hai bên vẫn không có thỏa thuận nào khác về thời gian công
chứng hợp đồng chuyn nhượng, bà T1 không cung cấp được chứng cứ chứng
minh đã ra thông báo cụ th thời gian, địa đim công chứng và sau ngày
05/10/2021 ông T không đến công chứng chuyn nhượng đất thì xem như bỏ cọc
không nhận chuyn nhượng thửa đất số 246. Đến ngày 29/10/2021, bà T1 ký hợp
đồng chuyn nhượng cho bà Trần Thị PT thửa số 493, ông Nguyễn Văn U thửa
số 494, ông Nguyễn Trung Hiếu thửa số 495, ông Lê Tuyến Phú thửa số 496 (các
thửa 493, 494, 495, 496 được tách ra từ thửa số 246 (theo Công văn số
1798/CNVPĐKĐĐ-ĐK&CGCN) ngày 28/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai huyện DT – bút lục số 206) và đã hoàn tất thủ tục chuyn nhượng
(bút lục số 130 – 131, 138, 150 – 153, 170 – 172, 188 – 191). Như vậy, do tình
hình dịch bệnh Covid 19 nên Ngày 20/8/2021 các bên không th tiến hành ký hợp
đồng chuyn nhượng tại Văn phòng công chứng; sau ngày 20/8/2021, các bên
không thỏa thuận thống nhất được về thời gian công chứng hợp đồng dẫn đến hợp
đồng không thực hiện được là do lỗi của hai bên và đến ngày 29/10/2021, bà T1
cũng đã chuyn nhượng thửa đất số 246 cho người khác. Tòa án cấp sơ thẩm chấp
8
nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn tiền cọc đã nhận
là có căn cứ.
Từ phân tích trên, kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Quan đim của đại diện Viện Kim sát nhân dân tỉnh Bình Dương là phù
hợp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy T1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2022/DS-ST ngày 15 tháng 12
năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện DT, tỉnh Bình Dương.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thùy T1 phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án
phí số 0011306 ngày 28/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện DT, tỉnh
Bình Dương.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ Ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- TAND huyện DT;
- Chi cục THADS huyện DT;
- Các đương sự;
- Tổ Hành chính Tư pháp;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng