Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST ngày 21/05/2025 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 143/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST ngày 21/05/2025 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hà Nội |
| Số hiệu: | 143/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/05/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mỹ H. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đỗ Thị Mỹ H và anh Đỗ Tùng L. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Anh Quân
Ông Chu Xuân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thúy Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà
Trần Thị Luyến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử
sơ thẩm công khai
vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 148/2025/TLST-HNGĐ ngày
29 tháng 4 năm 2025 về việc: Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ
chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; Theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Mỹ H, sinh năm: 1993; Hộ chiếu số do Cục quản
lý xuất nhập cảnh cấp ngày 21- 02 - 2025; Nơi thường trú: 150/50/15 L, phường T,
thành phố V, tỉnh B; Nơi ở hiện nay: Số 60/127 hẻm L 111, phường K, quận B, B,
T;
Đại diện theo ủy quyền của chị Đỗ Thị Mỹ H (Ủy quyền nhận văn bản tố
tụng): Anh Đặng Hồng S, sinh năm 2001; Căn cước công dân số: ; Địa chỉ: Thôn
1, xã T, huyện T, tỉnh T.
- Bị đơn: Anh Đỗ Tùng L, sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số
33 N, phường Nguyễn Du, quận H, thành phố H;
(Chị H và anh L vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 143/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 5 - 2025
V/v: Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của
nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2022; Bản tự khai và các văn bản trình bày
tiếp theo tại Tòa nguyên đơn - chị Đỗ Thị Mỹ H trình bày:
- Về tình cảm: Chị và anh Đỗ Tùng L có quen biết, phát sinh quan hệ tình cảm
với nhau và quyết định về chung sống với nhau như vợ chồng từ giữa năm 2024, có tổ
chức lễ cưới nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Việc chung sống
như vợ chồng giữa chị và anh Đỗ Tùng L là hoàn toàn tự nguyện, được sự cho phép
và nhất trí của cả hai bên gia đình. Tại thời điểm bắt đầu chung sống với nhau như vợ
chồng cho đến nay, cả chị và anh L đều đang trong tình trạng độc thân, không đăng ký
kết hôn với nhau và với bất kỳ người thứ ba nào khác.
Chị và anh L chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do chị và anh Đỗ Tùng L có nhiều
khác biệt về tính cách, không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc
sống, không có sự chia sẻ, đồng cảm lẫn nhau. Chị và anh L thường xuyên cãi vã,
xảy ra bất đồng. Hiện tại, chị và anh L không còn chung sống với nhau, cũng
không đăng kết hôn. Chị đã xuất cảnh sang Thái Lan làm việc còn anh L thì ở Việt
Nam. Giữa chị và anh L rất ít khi liên lạc, trao đổi với nhau nên anh chị quyết định
không đăng ký kết hôn. Hiện nay chị đang ở Thái Lan nên thống nhất đề nghị và
lựa chọn Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết vụ việc của chị và anh L.
Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Đỗ Tùng L và cũng không có
ý định đăng ký kết hôn nữa vì vậy chị làm đơn khởi kiện này đề nghị Tòa án nhân
dân Thành phố Hà Nội tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh
Đỗ Tùng L.
2. Về con: Quá trình sống chung, chị và anh Đỗ Tùng L có 01 (một) con
chung là cháu: Đỗ Thành Đ, sinh ngày 25/3/2025; Giới tính: Nam.
Hiện nay, cháu Đỗ Thành Đ đang sống cùng với anh L và bà nội là mẹ anh
Đỗ Tùng L tại địa chỉ: Số 33 N, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội còn chị thì
đang làm việc sinh sống thường xuyên ở Thái Lan. Vì vậy, để đảm bảo cháu Đạt
có được môi trường phát triển thuận lợi nhất, chị đề nghị Tòa án giao cháu Đỗ
Thành Đ cho bố đẻ là anh Đỗ Tùng L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm
sóc cho tới khi cháu Đạt trưởng thành. Chị xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con
chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Đỗ Tùng L không có tài sản chung,
công sức đóng góp chung, không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Bản tự khai và các văn bản trình bày tiếp theo tại Tòa bị đơn - anh
Đỗ Tùng L trình bày quan điểm:
- Về tình cảm: Anh hoàn toàn nhất trí với phần trình bày của chị H về quá
trình chung sống như vợ chồng giữa anh và chị H. Đến nay anh cũng xác nhận
không còn tình cảm và không thể chung sống với chị H nữa nên anh cũng không
đăng ký kết hôn với chị H và đề nghị Tòa án tuyên không công nhận quan hệ vợ
chồng giữa anh và chị H.
3
- Về con chung: Quá trình sống chung, anh và chị H có 01 (một) con chung là
cháu: Đỗ Thành Đ, sinh ngày 25/3/2025. Hiện nay cháu đang ở với anh và mẹ anh.
Cháu khỏe mạnh phát triển bình thường. Trường hợp Tòa án tuyên chấm dứt quan
hệ vợ chồng, anh đồng ý với nguyện vọng của chị H để anh trực tiếp nuôi dưỡng con
chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Anh xác nhận quá trình sống chung giữa anh và chị H
không có tài sản nhà ở chung, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Anh xác nhận giữa anh và chị H không vay nợ ai và không
cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị H và anh L vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại
đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H và anh L giữ nguyên toàn bộ quan điểm đã
trình bày tại bản tự khai đã nộp tại Tòa án và cùng thống nhất:
- Về tình cảm: Anh chị cùng thống nhất đề nghị Tòa án tuyên bố không công
nhận quan hệ vợ chồng giữa anh chị.
- Về con chung: Chị H và anh L cùng thống nhất xác nhận có 01 (một) con
chung là cháu: Đỗ Thành Đ, sinh ngày 25/3/2025. Trường hợp Tòa án tuyên chấm dứt
quan hệ vợ chồng, thì giao con chung cho anh L được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L
không yêu cầu và chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Chị H và anh L xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Về vay nợ chung: Chị H và anh L xác nhận không vay nợ chung, không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm ý kiến:
Tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án
cho đến phiên tòa xét xử ngày hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử; Thư ký
phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự tố tụng mà Bộ luật tố tụng
dân sự quy định; Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng;
Nội dung: Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án, vị đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào
Điều 28, 35; 39, 146 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 14, 15, 81, 82, 83 Luật
hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Đề nghị HĐXX:
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị Mỹ H. Không công nhận quan hệ
vợ chồng giữa chị Đỗ Thị Mỹ H và anh Đỗ Tùng L.
Về con chung: Xác nhận chị H và anh L có 01 con chung là cháu: Đỗ Thành
Đ, sinh ngày 25/3/2025. Giao cho anh Đỗ Tùng L trực tiếp nuôi dưỡng 01 con
chung là cháu Đỗ Thành Đ, sinh ngày 25/3/2025. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi
con đối với chị H cho đến khi anh L có yêu cầu hoặc khi có quyết định khác của
pháp luật thay thế.

4
Chị H được quyền đi lại chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị H và anh L xác nhận không
có, không yêu cầu giải quyết nên không xét;
Về nợ chung: Chị H và anh L xác nhận không có nên không xét;
Án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
I. Về tố tụng
Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu và chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án: Xác định tranh chấp giữa chị Đỗ Thị Mỹ H và anh Đỗ Tùng L là tranh
chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn theo khoản 7 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thẩm quyền: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Mỹ H là công dân Việt Nam hiện đang
sinh sống và làm việc ở nước ngoài (Thái Lan); bị đơn anh Đỗ Tùng L có hộ khẩu
thường trú và hiện đang sinh sống thường xuyên tại 33 N, phường N, quận H, Thành
phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng
thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 39
Bộ luật Tố tụng dân sự.
II. Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án, lời khai thống nhất của
chị H, anh L và bà Thúy là mẹ anh L cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ
sơ thể hiện: Chị H, anh L chung sống với nhau như vợ chồng từ giữa năm 2024.
Kể từ thời điểm chung sống với nhau cho đến nay, anh chị không thực hiện thủ tục
đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức lễ cưới với sự có mặt của họ hàng hai bên gia đình.
Tại thời điểm bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng cho đến nay, cả chị và
anh L đều đang trong tình trạng độc thân, không đăng ký kết hôn với nhau và với
bất kỳ người thứ ba nào khác. Nay anh chị cùng xác nhận tình cảm giữa hai bên
không còn và không thể tiếp tục sống chung sống với nhau, cũng không đoàn tụ để
đăng ký kết hôn nên đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
giữa anh chị.
HĐXX nhận định: Tại thời điểm chị H và anh L chung sống với nhau, anh chị
có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia
đình tuy nhiên anh chị đã không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của
pháp luật cho đến nay vẫn vậy. Do đó, căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình,
việc chung sống với nhau như vợ chồng của chị H và anh L không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Do đó yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh L của
chị H là có cơ sở chấp nhận.
[2]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị H và anh L có con chung là
cháu Đỗ Thành Đ, sinh ngày 25/3/2025. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết để anh L

5
được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chị không cấp dưỡng nuôi con chung. Anh L
đồng ý với quan điểm của chị H và không có ý kiến gì khác.
Theo Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, việc chung sống với nhau như vợ
chồng của chị H và anh L không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng;
Quyền, nghĩa vụ đối với con giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15
của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải
quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”.
Xét thấy: Chị H và anh L đã thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi
dưỡng con chung và vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận này phù hợp với
pháp luật phù hợp với thực tế. Do đó, áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và
gia đình, nên công nhận sự thỏa thuận của chị H và anh L, giao cháu Đỗ Thành Đ,
sinh ngày 25/3/2025 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng; tạm hoãn việc cấp dưỡng
nuôi con chung đối với chị H.
[3]. Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị H và anh L xác nhận
không có, không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xét.
[4]. Về nợ chung: Chị H và anh L xác nhận không vay nợ chung, nên HĐXX
không xét.
[5]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều
147, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 464, Điều 469 và
Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mỹ H.
Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đỗ Thị Mỹ H và anh Đỗ Tùng
L.
2. Con chung: Xác nhận chị H và anh L có 01 con chung là cháu: Đỗ Thành
Đ, sinh ngày 25/3/2025. Giao cháu Đạt cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn
việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị H cho đến khi anh L có yêu cầu hoặc
đến khi có quyết định pháp luật khác thay thế.
6
Chị H được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn
cản.
3. Tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị H và anh L không có, không
yêu cầu giải quyết nên không xét.
4. Nợ chung: Chị H và anh L không có, nên không xét.
5. Về án phí: Chị Đỗ Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia
đình sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số
0079510 ngày 28-4-2025 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội. Chị H đã
nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Chị H, anh L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
- TANDTPHN;
- VKSNDTPHN;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thanh Tú
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng