Bản án số 1327/2022/HNGĐ-ST ngày 22/04/2022 của TAND TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 1327/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 1327/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 1327/2022/HNGĐ-ST ngày 22/04/2022 của TAND TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Thủ Đức (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 1327/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/04/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà M ly hôn ông K |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
M
Bản án số: 1327/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22/4/2022.
V/v: “Ly hôn”.
- -
NHÂN DANH
TÒA ÁN NHÂN DÂN , M
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng.
2. Bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Giang – Cán bộ Tòa án nhân dân thành
phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí M.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên
tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1051/2020/TLST-HNGĐ, ngày
16/10/2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
2025/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Bình M, sinh năm 1983.
Địa chỉ: 92/13A Đường số 2, khu phố M, phường Tr, thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí M, (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Trần Công K, sinh năm 1984
Địa chỉ: 92/13A Đường số 2, khu phố M, phường Tr, thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí M, (xin vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Phúc Th –
Luật sư Công ty luật hợp danh N; thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí M.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng VN.
2
Trụ sở: Số 108 H, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên lạc: Số 35 Nguyễn Văn Bá, phường B, thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ M T
(Giấy ủy quyền ngày 22/4/2022).
3.2. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1955.
Địa chỉ: 27/G2 Khu phố 1, phường L, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai,
(xin vắng mặt).
Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 21/4/2020, các bản tự khai, các biên bản hòa
giải, nguyên đơn – bà Nguyễn Bình M trình bày: Bà M và ông K chung sống với
nhau từ năm 2012. Đăng ký kết hôn số: 199 ngày 06 tháng 11 năm 2012 tại Ủy
ban nhân dân Phường Phước Long B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí M. Qúa trình
chung sống, ông K có người phụ nữ khác bên ngoài, sự việc có trình báo công an
phường Bình Khánh và công an có ra quyết định xử phạt hành chính đối với ông
K. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn ông K.
Về con chung: Có 01 (Một) con tên Trần Ngân H, sinh ngày 24/11/2012. Ly
hôn, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi con, yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con
3.000.000đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Có 02 căn nhà.
+ 01 căn nhà ở địa chỉ 92/13A Đường số 2, phường Tr, thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí M.
+ 01 căn nhà ở địa chỉ 32 Võ Hoành, phường M, thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang.
Hiện tại tài sản chung: Đã bán căn nhà ở địa chỉ 32 Võ Hoành, phường M,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang để thanh toán các khoản nợ nên tài sản còn
lại bà M và ông K tự thỏa thuận với nhau, đề nghị Tòa án không giải quyết trong
vụ án này. Bà M có đơn rút lại yêu cầu chia tài sản ngày 25/3/2022.
Về nợ chung: Có 02 khoản nợ.
+ Vay tiền Ngân hàng VN, địa chỉ hội sở chính 108 H, quận Hoàn Kiếm,
Thành phố Hà Nội, số tiền là 1.173.618.829 đồng (Nợ gốc: 1.168.500.000 đồng.
Nợ lãi: 5.118.829 đồng tạm tính đến ngày 09/12/2020). Hiện tại đã trả cho Ngân
hàng VN, chỉ còn nợ số tiền 534.790.000đồng. Ngày 14/3/2022, Ngân hàng VN
nộp đơn xin rút yêu cầu độc lập, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
3
+ Vay tiền của bác tên Nguyễn Thị X địa chỉ 27/G2 Khu phố 1, phường L,
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai số tiền là 300.000.000 đồng. Hiện đã trả xong
nên ngày 18/3/2022, bà Xuyên đã có đơn rút yêu cầu khởi kiện trong vụ án.
Bị đơn – ông Trần Công K vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải
quyết vụ án có lời trình bày:
Ông K và bà M chung sống với nhau năm 2012 và đăng ký kết hôn năm
2012 tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian
đầu chung sống hạnh phúc, do mâu thuẫn gia đình, bất đồng quan điểm trong cuộc
sống, gia đình xảy ra xung đột cả hai không tìm được tiếng nói chung nên đồng ý
ly hôn với bà Nguyễn Bình M.
Về con chung: Có 01 con tên Trần Ngân H, sinh ngày 24/11/2012. Ly hôn,
đồng ý để bà M trực tiếp nuôi con và đồng ý cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000
đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Có 02 căn nhà.
+ 01 căn nhà ở địa chỉ 92/13A Đường số 2, phường Tr, thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí M.
+ 01 căn nhà ở địa chỉ 32 V, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang.
Hiện tại tài sản chung: Đã bán căn nhà ở địa chỉ 32 V, phường M, thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang để thanh toán các khoản nợ nên tài sản còn lại ông K
và bà M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Ngày
25/3/2022 bà M cũng đã có đơn rút lại yêu cầu chia tài sản.
Về nợ chung: Có 03 khoản nợ.
+ Vay tiền Ngân hàng VN, địa chỉ hội sở chính 108 H, quận Hoàn Kiếm,
Thành phố Hà Nội, số tiền là 1.173.618.829 đồng (Nợ gốc: 1.168.500.000 đồng.
Nợ lãi: 5.118.829 đồng tạm tính đến ngày 09/12/2020). Hiện tại đã trả cho Ngân
hàng VN, chỉ còn nợ số tiền 534.790.000đồng. Ngày 14/3/2022, Ngân hàng VN
nộp đơn xin rút yêu cầu độc lập, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
+ Vay tiền của bác tên Nguyễn Thị X địa chỉ 27/G2 Khu phố 1, phường L,
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai số tiền là 300.000.000 đồng. Hiện đã trả xong
nên ngày 18/3/2022, bà X đã có đơn rút yêu cầu khởi kiện trong vụ án.
+ Nợ tiền Ngân hàng TMCP Đ số tiền 500.000.000đồng. (Văn bản ngày
08/12/2020). Địa chỉ: Số 111 Tr, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang. Hiện đã trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ (Biên bản thanh lý hợp đồng
ngày 10/02/2022). Do vậy, Ngân hàng TMCP Đ không còn liên quan gì trong vụ
án này.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Ngân hàng VN có ông Vũ M T đại
diện trình bày:
Ngày 09/12/2020, Ngân hàng VN có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập. Yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Công K và bà Nguyễn Bình M trả ngay cho
Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 09/12/2020 gồm:
Nợ gốc: 1.168.500.000 đồng.
Nợ lãi: 5.118.829 đồng.
Tổng cộng: 1.173.618.829 đồng.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Bình M và ông Trần
Công K đã trả nợ cho Ngân hàng VN nên chỉ còn nợ số tiền 534.790.000đồng.
Ngày 14/3/2022, Ngân hàng VN nộp đơn xin rút yêu cầu độc lập. Ngân hàng VN
xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, trường hợp có tranh
chấp ngân hàng sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị Xuyên vắng mặt tại
phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án có lời trình bày:
Ngày 27/02/2019, vợ chồng Trần Công K và Nguyễn Bình M có vay của bà
Xuyên số tiền 300.000.000 đồng. Nay vợ chồng K và M ly hôn nên bà Xuyên yêu
cầu cùng trả cho bà số tiền 300.000.000 đồng, trả 01 lần không yêu cầu tính lãi. Số
tiền đã trả xong nên ngày 18/3/2022 bà Xuyên đã có đơn rút yêu cầu khởi kiện
trong vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông K có ông Bùi Phúc Thạch
trình bày quan điểm pháp lý và đề nghị: Hội đồng xét xử ghi nhận ông Trần Công
K đồng ý ly hôn bà Nguyễn Bình M. Về con chung: Có 01 con tên Trần Ngân Hà,
sinh ngày 24/11/2012. Ly hôn, ông K đồng ý để bà M trực tiếp nuôi con và đồng ý
cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về
tài sản chung: Ông K và bà M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà
M đã rút yêu cầu chia tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử
đối với yêu cầu chia tài sản chung của bà Nguyễn Bình M và ông Trần Công K
trong vụ án này. Về nợ chung: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân
hàng VN đối với bà Nguyễn Bình M và ông Trần Công K trong vụ án này. Đình
chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Xuyên đối với bà Nguyễn
Bình M và ông Trần Công K trong vụ án này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Các trình tự,
thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản
chung của bà Nguyễn Bình M và ông Trần Công K trong vụ án này. Đình chỉ xét
xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VN đối với bà Nguyễn Bình M và
ông Trần Công K trong vụ án này. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của

5
bà Nguyễn Thị Xuyên đối với bà Nguyễn Bình M và ông Trần Công K trong vụ án
này.
:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn – bà Nguyễn Bình M yêu cầu ly hôn với bị
đơn – ông Trần Công K, ông K có nơi cư trú tại thành phố Thủ Đức, Thành phố
Hồ Chí M nên căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí M.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn – bà Nguyễn Bình M có mặt; Bị đơn –
ông Trần Công K có đơn xin vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan –
Ngân hàng VN có ông Vũ M Tiến có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan –
bà Nguyễn Thị Xuyên có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố
tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ lời khai của đương sự cùng các tài liệu
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định bà
Nguyễn Bình M và ông Trần Công K chung sống với nhau năm 2012, đăng ký kết
hôn số: 199 ngày 06 tháng 11 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận 9,
Thành phố Hồ Chí M. Do đó, hôn nhân giữa bà M và ông K là hợp pháp. Quá
trình chung sống, bà M và ông K đã không còn hạnh phúc, ông K có người phụ nữ
khác bên ngoài, đời sống gia đình xảy ra xung đột nhưng cả hai đã không tìm được
tiếng nói chung. Việc hàn gắn tình cảm cũng không có kết quả, mục đích hôn nhân
không đạt được, quá trình giải quyết vụ án ông K có lời trình bày đồng ý ly hôn bà
M nên yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông K là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Có 01 (Một) con tên Trần Ngân H, sinh ngày 24/11/2012. Ly
hôn, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi con, yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con
3.000.000đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét nguyện vọng của bé
Trần Ngân Hà mong muốn sống cùng mẹ. Ông K cũng có lời trình bày đồng ý sau
khi ly hôn để bà M trực tiếp nuôi con, ông K cấp dưỡng nuôi con
3.000.000đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi
nhận.
Về tài sản chung: Ngày 25/3/2022, bà M đã có đơn rút lại yêu cầu chia tài
sản. Bà M và ông K tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án
này. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của
bà M và ông K.
Về nợ chung: Bà M và ông K trình bày thống nhất 02 khoản nợ gồm:
6
- Vay tiền Ngân hàng VN, địa chỉ hội sở chính 108 H, quận Hoàn Kiếm,
Thành phố Hà Nội, số tiền là 1.173.618.829 đồng (Nợ gốc: 1.168.500.000 đồng.
Nợ lãi: 5.118.829 đồng tạm tính đến ngày 09/12/2020). Hiện tại đã trả cho Ngân
hàng VN, chỉ còn nợ số tiền 534.790.000đồng. Ngày 14/3/2022, Ngân hàng VN
nộp đơn xin rút yêu cầu độc lập, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
VN đối với bà M và ông K. Trường hợp sau này các bên có tranh chấp sẽ được
giải quyết bằng vụ án khác.
- Vay tiền của bác tên Nguyễn Thị X địa chỉ 27/G2 Khu phố 1, phường L,
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai số tiền là 300.000.000 đồng. Hiện đã trả xong
nên ngày 18/3/2022, bà X đã có đơn rút yêu cầu khởi kiện trong vụ án. Do đó, Hội
đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X đối
với bà M và ông K.
- Ngoài 02 khoản nợ trên, ông K trình bày nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền
500.000.000 đồng (Văn bản ngày 08/12/2020). Địa chỉ: Số 111 Tr, phường M,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Hiện đã trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP
đại chúng Việt Nam (Biên bản thanh lý hợp đồng ngày 10/02/2022). Hội đồng xét
xử xét thấy Ngân hàng TMCP Đ trong quá trình giải quyết vụ án, không có yêu
cầu độc lập và đến ngày 10/02/2022 ông K đã trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP.
Do vậy, Ngân hàng TMCP không còn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong vụ án.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí hôn nhân và gia đình bà Nguyễn Bình M chịu. Bà M được nhận lại
tiền tạm ứng án phí chia tài sản theo quy định.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con ông Trần Công K chịu.
- Ngân hàng VN được nhận lại tiền tạm ứng án phí theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị X thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án
phí.
[4] Xét quan điểm pháp lý của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị
đơn – ông Trần Công K, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp
nhận.
[4] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ
Đức phân tích và đánh giá chứng cứ phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng
xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
:
7
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
4 Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 273 và Điều 280 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
- Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Bình M được ly hôn ông Trần Công K.
2. Về con chung: Có 01 (Một) con chung tên Trần Ngân H, sinh ngày
24/11/2012. Giao bà Nguyễn Bình M trực tiếp nuôi con. Ông Trần Công K cấp
dưỡng nuôi con hàng tháng 3.000.000(Ba triệu) đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Ông Trần Công K được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung,
không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai
bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp
dưỡng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Bình M cho đến khi
thi hành án xong, ông Trần Công K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
3. Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của
bà Nguyễn Bình M và ông Trần Công K. Bà M và ông K tự thoả thuận, không yêu
cầu Toà án giải quyết trong vụ án này.
4. Về nợ chung:
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VN buộc ông
Trần Công K và bà Nguyễn Bình M cùng trả cho ngân hàng số tiền 1.173.618.829
(Một tỷ một trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm mười tám nghìn tám trăm hai mươi
chín) đồng, theo đơn khởi kiện ngày 09/12/2020 trong vụ án này.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X buộc ông
Trần Công K và bà Nguyễn Bình M cùng trả cho bà X số tiền 300.000.000 (Ba
trăm triệu) đồng trong vụ án này.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
8
- Án phí hôn nhân và gia đình 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn
Bình M chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 46.300.000 (Bốn mươi sáu
triệu ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0057983, do Chi cục Thi hành án
dân sự quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức) lập ngày 16/10/2020. Bà M
được nhận lại số tiền 46.000.000 (Bốn mươi sáu triệu) đồng.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Trần
Công K phải chịu.
- Ngân hàng VN được nhận lại tiền tạm ứng án phí 23.604.282 (Hai mươi ba
triệu sáu trăm lẻ bốn nghìn hai trăm tám mươi hai) đồng đã nộp theo Biên lai số
0058796, do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập ngày 11/3/2021.
- Bà Nguyễn Thị X thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án
phí.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng
cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí M trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này
đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí M trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND Tp. HCM;
- VKSND thành phố Thủ Đức;
- CCTHADS thành phố Thủ Đức;
- Cơ quan ĐKKH;
- Lưu VT, hồ sơ.
-
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm