Bản án số 13/2024/DS ngày 20/02/2024 của TAND tỉnh Quảng Bình về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2024/DS

Tên Bản án: Bản án số 13/2024/DS ngày 20/02/2024 của TAND tỉnh Quảng Bình về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Bình
Số hiệu: 13/2024/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/02/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Văn Th tranh chấp đất với ông Lê Văn X
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 13/2024/DS Bản án số 13/2024/DS

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 13/2024/DS - PT
Ngày 20 tháng 02 năm 2024
V/v Tranh chấp đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Trần Trung Thành
Ông Dương Viết Hải
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận Thẩm tra
viên, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 tháng 01 và ngày 20 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số
91/2023/TLPT- DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp đất. Do Bản án
dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của a án nhân
dân huyện Quảng Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số 4951/2023/QĐ PT ngày 04 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn Th và bà Hoàng Thị Th
Địa chỉ: Thôn Ch, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
-Bị đơn: Ông Lê Văn X và bà Lê Thị L
Địa chỉ: Thôn Ch, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông X: Bùi Thị X - Trợ
giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- Người quyền lợi liên quan vụ án: Ông Hoàng Quang Á, sinh năm
1975
Địa chỉ: Thôn Ch, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Lê Văn Th và bà Hoàng Thị Th
Địa chỉ: Thôn Ch, xã V, huyện Q tỉnh Quảng Bình; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung Bản án thẩm số 32/2023/DS ST ngày 18 tháng 9 năm
2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tnội dung vụ án được tóm tắt
2
như sau: m 1989, ông Văn Th, Hoàng Thị Th (viết tắt nguyên đơn)
khai hoang trồng cây hàng năm tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 13 (nay là 358 tờ
bản đồ số 66) thôn Ch, V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình với diện tích 6.700m
2
(nay còn 270m
2
) thửa đất này một phần thửa đất số 26 tờ bản đồ số 13 xã V
được phê duyệt năm 1991 (gọi bản đồ 299) do Uỷ ban nhân dân (viết tắt UBND)
V quản lý, từ năm 1989 đến nay nguyên đơn là người sử dụng ổn định không
có tranh chấp; năm 2000 nguyên đơn được quy chủ 490m
2
tại thửa đất số 996, tờ
bản đồ số 20 V. Năm 2021 ông Văn X, bà Thị L (viết tắt là bị đơn)
hộ s dụng đất liền kề xây dựng tường rào, trụ cổng trên một phần diện tích đất
nguyên đơn đang sử dụng n đã xảy ra tranh chấp, vụ việc được chính quyền
địa phươnggiải quyết dừng công trình xây dựng nhưng bị đơn vẫn cố tình xây
dựng, do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại khoảng 80m
2
đất đã lấn chiếm và
phá bỏ công trình đã xây dựng.
Theo bị đơn thì năm 1992 vợ chồng bị đơn được UBND xã V cấp đất làm
nhà ở, ngày 23/9/1998 bị đơn được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất với diện tích 200m
2
tại thửa số 07, tờ bản đồ số 13 V, huyện Q.
Q trình sử dụng đất bị đơn đã khai hoang, san lấp 03 hố bom liền kề với diện
tích khoảng 250m
2
để sử dụng làm vườn. Năm 2009 đo đạc quy chủ thuộc
thửa 357, tờ bản đồ số 66 V diện tích 558m
2
. Năm 2016 bị đơn chuyển
nhượng 27m
2
đất cho ông Lê Minh H và ông Nguyễn Văn Th (diện tích đất giáp
đất ông Á ra đường giao thông, không lập hợp đồng chuyển nhượng) rộng 4,5
mét, dài 8 mét; năm 2018 bị đơn xây dựng tường rào, trụ cổng ngăn cách thửa
đất lúc này dự án đo đạc để thành lập bản đồ địa chính mới, do vợ chồng bị
đơn đi vắng không người dẫn đạc nên đã lấn chiếm diện tích đất bị đơn đang
sử dụng khoảng 80m
2
đất quy chủ diện tích này cho nguyên đơn. Năm 2020
nguyên đơn tranh chấp đất với bị đơn, sự việc được UBND xã V hòa giải nhưng
không thành nay nguyên đơn khởi kiện bị đơn không nhất trí.
Tại Đơn trình bày của ông Hoàng Quang Á ngày 07/12/2023 (có xác nhận
của UBND xã Vĩnh Ninh), trình bày: Thửa đất số 359, tờ bản đồ số 66 V của
gia đình ông làm nhà nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông n Th,
Hoàng Thị Th 200m
2
đất (lúc nhận chuyển nhượng là đất màu, sau đó ông bà
làm thủ tục chuyển đổi sang đất ở).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2023/DS ST ngày 18 tháng 9 năm
2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh đã quyết định: Không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Văn Th, Hoàng Thị
Th về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí vụ kiện
và quyền kháng cáo cho các đương sự.
3
Ngày 22 tháng 9 năm 2023 nguyên đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội
dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng, buộc bị
đơn trả lại diện tích đất đã lấn chiếm 80m
2
đất tại thửa đất 358, tờ bản đồ số 66
xã V, huyện Q cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện
đơn kháng cáo, bị đơn không chấp nhận việc khởi kiện và kháng cáo của nguyên
đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa
phúc thẩm phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm các đương sự và người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn để sửa bản án thẩm theo hướng buộc bị đơn trả lại 72,3m
2
đất đã lấn
chiếm, tại thửa đất 358, tờ bản đồ số 66 V, huyện Q cho nguyên đơn (theo
diện tích đã được phê duyệt năm 2022 tại tờ bản đồ s66 Vĩnh Ninh, huyện
Quảng Ninh); buộc bị đơn phá bỏ tường rào, trụ cổng đã xây dựng lấn chiếm
trên đất nguyên đơn buộc bị đơn phải chịu chi phí tố tụng, miễn án phí vu
kiện cho b đơn.
Sau khi xem xét nội dung kháng cáo, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã
được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; kết quả tranh luận, ý kiến của kiểm sát
viên, nguyên đơn, bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngày 18 tháng 9 năm 2023 a án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử
ban hành Bản án dân sự thẩm số 32/2023/DS ST. Ngày 22 tháng 9 năm
2023 Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh nhận được đơn kháng cáo của nguyên
đơn. Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm
ứng án phí phúc thẩm đúng quy định tại Điều 272 Điều 273 của Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn để xét xử
phúc thẩm.
[2] Tại phiên toà vắng mặt ông Hoàng Quang Á là người có quyền lợi liên
quan vụ án nhưng đã được triệu tập đến phiên toà nhưng vắng mặt không lý
do, căn cứ khoản 3 Điều 296 Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[3] Toà án cấp thẩm viết bản án chưa đúng hướng dẫn tại biểu mẫu s
52 kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ – HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhânn dân tối cao nên cần rút kinh nghiệm.
[4] Theo tờ bản đồ số 13 xã V, huyện Q được phê duyệt năm 1991 (gọi
bản đồ 299) thì bị đơn được UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ lần đầu ngày
23/9/1998, với diện tích 200m
2
đất tại thửa đất s 07, tờ bản đồ số 13 V,
4
huyện Q; thửa đất số 26, tờ bản đồ số 13 xã V, huyện Q là đất HgB do UBND
V quản lý, nhưng nguyên đơn là người sử dụng đất (bút lục s 71 và 242).
[5] Tại tờ bản đồ số 20 và sổ mục đất đai V, huyện Q được p
duyệt năm 2000 thì thửa đất số 07, tbản đồ số 13 V của bị đơn được đổi
thành thửa đất số 995, tờ bản đồ số 20 xã V, diện tích 450m
2
(200m
2
đất ở và
250m
2
đất trồng cây hàng năm) tăng 250m
2
đất so với diện tích được cấp
GCNQSDĐ lần đầu ngày 23/9/1998; thửa đất số 26, t bản đồ số 13 V,
huyện Q do UBND xã V quản lý được đổi thành nhiều thửa đất trong đó có thửa
đất số 996, tờ bản đồ số 20 V, diện tích 449m
2
đất trồng màu được quy chủ
trong sổ mục đất đai cho nguyên đơn người sử dụng đất (bút lục số 234
239).
[6] Tại tờ bản đồ số 66 sổ mục đất đai V, huyện Q được phê
duyệt năm 2010 thì thửa đất số 995, tờ bản đồ số 20 V của bị đơn được đổi
thành thửa đất số 357, tờ bản đồ số 66 V diện tích 558m
2
(300m
2
đất và
258m
2
đất trồng cây hàng năm) tăng 108m
2
so với diện tích đất tại tờ bản đồ số
20 xã V; thửa đất số 996, tờ bản đồ số 20V, huyện Q đã quy chủ cho nguyên
đơn sử dụng nay đổi thành thửa đất số 358 và 359 tờ bản đồ số 66 xã V, trong đó
thửa đất số 358 diện tích 190,7m
2
được quy chủ cho UBND V, còn thửa
đất số 359 được quy chủ cho ông Hoàng Quang Á (ông Á được nguyên đơn
chuyển giao) là người sử dụng đất (bút lục số 232 241).
[7] Theo tờ bản đồ số 66 (đo vẽ năm 2018) và sổ mục đất đai V,
huyện Q được phê duyệt năm 2022 thì thửa đất số 357, tờ bản đồ số 66V của
bị đơn được đổi thành thửa đất số 357, tờ bản đồ số 66 V diện tích
513,9m
2
(200m
2
đất 313,9m
2
đất trồng cây hàng năm); thửa đất số 358, tờ
bản đồ số 66 V, huyện Q được đổi thành thửa đất số 358, tờ bản đồ số 66
Vĩnh Ninh, diện tích 270,5m
2
đất (200m
2
đất 70,5m
2
đất trồng cây hàng
năm) được quy chủ cho nguyên đơn người quản , sdụng đất, còn thửa đất
số 359 diện tích 241,9m
2
đất (200m
2
đất 41,9m
2
đất trồng cây hàng năm)
được quy chủ cho Hoàng Ngọc Á (bút lục số 238 240).
[8] Theo những người làm chứng ông Hoàng Minh L nguyên trưởng thôn
Chợ G từ năm 1991 đến 1994, bà Thị L, ông Hoàng Minh Th người
quyền lợi liên quan Hoàng Quang Á thì thửa đất số 26 tờ bản đồ số 13 (bản đồ
299) được phê duyệt năm 1991 là đất UBND xã V quản lý nhưng nguyên đơn
người được giao sdụng đất; theo người làm chứng ông Thanh C thì diện
tích đất tranh chấp là đất do UBND V quản lý, nhưng nguyên đơn người
thuê đất từ năm 2000 để trồng rau muống (bút lục số 186, 187, 188, 189 và 190).
[9] Kết quả xác minh tại UBND V ngày 24 tháng 01 năm 2024 thấy;
cạnh phía Bắc của các thửa đất tranh chấp đều giáp đường giao thông liên thôn
trước đây diện tích của thửa đất số 26, tờ bản đồ số 13 (gọi bản đồ 299)
V được phê duyệt năm 1991, do UBND xã V quản lý (thửa đất này nằm giữa hai
5
đường giao thông phía Tây phía Đông); tại tờ bản đồ số 20 V được phê
duyệt năm 2000 thì thửa đất số 26, tờ bản đồ số 13 V được quy chủ thành 04
thửa đất (995, 996, 997 1036) chiều dài cạnh phía Bắc giáp đường giao
thông liên thôn dài 75 mét; trong đó thửa đất 995 của bị đơn cạnh phía Bắc
giáp đường giao thông liên thôn dài 20 mét; thửa đất số 996 của nguyên đơn
cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn dài 24 mét.
[10] Tại tờ bản đồ số 66 V được phê duyệt năm 2010 thì 04 thửa đất
(995, 996, 997 và 1036) của tờ bản đồ số 20 xã V được đổi thành 04 thửa đất
(357, 358, 359 360) và chiều dài cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên
thôn dài 69,69 mét, chiều dài cạnh này giảm 5,31 mét so với tờ bản đồ số 20
V được pduyệt năm 2000 là do mở rộng đường giao thông phía Tây phía
Đông các thửa đất này; trong đó thửa đất số 357 của bị đơn chiều dài cạnh
phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn dài 28,82 mét, tăng 8,82 mét so với tờ
bản đồ số 20 được phê duyệt năm 2000; thửa đất số 996 của nguyên đơn được
đổi thành hai thửa đất 358 359, trong đó thửa đất số 358 không còn diện tích
cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn nữa mà cạnh này giáp diện tích
đất của bị đơn; thửa đất số 359 của bị đơn đã chuyển giao cho ông Hoàng Ngọc
Á và thửa đất này cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn dài 13,09 mét;
như vậy, tại tờ bản đồ số 66 được phê duyệt năm 2010 so với tờ bản đồ số 20
được phê duyệt năm 2000 thì chiều dài cạnh phía Bắc giáp đường giao thông
liên thôn thửa đất của nguyên đơn giảm 10,91 mét, nhưng chiều dài cạnh này
của thửa đất bị đơn tăng 8,82 mét.
[11] Tại tờ bản đồ số 66 V đo vẽ năm 2018 và được phê duyệt năm
2022 thì 04 thửa đất (357, 358, 359 và 360) tại tờ bản đồ số 66 được phê duyệt
năm 2010 được đổi thành 06 thửa đất (357, 358, 359, 457, 458 và 456) chiều
dài cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn của các thửa đất này dài
69,77 mét (tăng 0,08 mét so với tờ bản đồ số 66 được phê duyệt năm 20210);
trong đó thửa đất số 357 của bị đơn chiều dài cạnh phía Bắc giáp đường giao
thông liên thôn dài 22,25 mét, giảm 6,57 mét so với tờ bản đồ số 66 được phê
duyệt năm 2010 và tăng 2,25 mét so với tờ bản đồ số 20 được phê duyệt năm
2000; thửa đất số 358 của nguyên đơn cạnh phía Bắc giáp đường giao thông
liên thôn dài 6,42 mét; thửa đất số 359 của nguyên đơn đã chuyển giao cho ông
Hoàng Ngọc Á cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn dài 12,44 mét;
như vậy, tại tờ bản đồ số 66 được phê duyệt năm 2022 so với tờ bản đồ số 20
được phê duyệt năm 2000 thì chiều dài cạnh phía Bắc giáp đường giao thông
liên thôn thửa đất của nguyên đơn giảm 5,14 mét, nhưng chiều dài cạnh này của
thửa đất bị đơn tăng 2,25 mét (bút lục số 243).
[12] Như phân tích tại các mục trên thì sau tờ bản đồ số 13 xã V được p
duyệt năm 1991 đến nay thửa đất của nguyên đơn, bị đơn đã thay đổi 03 tờ bản
đồ chiều dài cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn ch thước
6
khác nhau, nhưng tờ bản đồ số 66 V được phê duyệt năm 2022 có kích thước
cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn thì thửa đất của nguyên đơn
(gồm 358 359 đã chuyển giao cho ông Á) bị đơn gần đúng với kích thước
tờ bản đồ số 20 V được phê duyệt năm 2000. Mặt khác, quá trình thu thập
chứng c b đơn trình bày năm 2016 bị đơn chuyển nhượng 27m
2
đất cho ông
Minh H ông Nguyễn Văn Th (diện tích đất giáp thửa đất của ông Á ra
đường giao thông, không lập hợp đồng chuyển nhượng) rộng 4,5 mét, i 8 mét
nhưng b đơn không tài liệu chứng minh; hơn nữa tại Bản án s 05/2022/DS
ST ngày 15/7/2022 (xét x việc tranh chấp đất của nguyên đơn với ông
Minh H) thì ông H ông Nguyễn Văn Th trình bày nguồn gốc đất tranh chấp
với nguyên đơn liền k thửa đất của ông Á là đất do UBND xã V quản, không
phải nhận chuyển nhượng t b đơn trong v án này (bút lục s 06).
[13] Diện tích đất nguyên đơn, bị đơn hiện đang tranh chấp đã qua 03 lần
thay đổi bản đồ đại chính sổ mục đất đai nhưng đến nay nguyên đơn, bị
đơn đều chưa được cấp GCNQSDĐ (mới được quy chủ tại sổ mục đất đai
bản đồ địa chính) hiện tại nguyên đơn người đang sử dụng diện tích đất có
tranh chấp. Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn trình bày diện tích đo vẽ tại tờ bản
đồ số 66V được phê duyệt năm 2022 không được nguyên đơn, bị đơn ký xác
lập ranh giới nên không gtrị pháp lý; tuy nhiên, như phân tích tại các mục
trên thì diện tích đất nguyên đơn, bị đơn đang tranh chấp đều được quy chủ lần
đầu tại sổ mục đất đai tờ bản đồ số 20 xa V được phê duyệt năm 2000 tại
thửa đất số 995 996; tại tờ bản đồ số 66 V được phê duyệt năm 20210 thì
thửa đất của bị đơn đã chồng lấn lên diện tích đất của nguyên đơn (gần 9 mét
chiều dài cạnh phía Bắc giáp đường giao thông liên thôn) tờ bản đồ số 66
V được pduyệt năm 2022 đã điều chỉnh lại diện tích thực tế các hộ đang sử
dụng đất sự dẫn đạc của các quan thẩm quyền được Chủ tịch
UBND xã V xác nhận việc sử dụng đất của các hộ gia đình.
[14] Theo yêu cầu của nguyên đơn Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã
tiến hành thành lập hội đồng thẩm định lại thửa đất; theo kết quả dẫn đạc của
của nguyên đơn thì nguyên đơn đang sử dụng 321,5m
2
đất tại các điểm 4, 25,
10, 15, 16, 19 24 trên sơ đồ thẩm định; lớn hơn 51m
2
đất so với diện tích đất
được quy chủ tại sổ mục đất đai bản đồ địa chính năm 2022, trong đó
nguyên đơn dẫn đạc sang 25m
2
đất tại các điểm 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 25 trên
đồ của bị đơn đã được quy chủ tại thửa đất số 357; dẫn đạc sang 38,2m
2
đất tại
các điểm 8, 9, 15 16 thuộc thửa số 5, tờ bản đồ số 68 V (đất của khu tập
thể đường sắt); không dẫn đạc 7,9m
2
đất tại các điểm 19, 20 24 trên sơ đồ đã
được quy chủ.
[15] Bị đơn dẫn đạc 806,5m
2
đất tại các điểm 1. 2, 3, 4, 23, 22, 17, 14,
13, 11 và 12 trên sơ đồ thẩm định; lớn hơn 292,6m
2
đất so với diện tích đất được
quy chủ tại sổ mục đất đai bản đồ địa chính năm 2022, trong đó nguyên
7
đơn dẫn đạc sang 211,5m
2
đất tại các điểm 4, 5, 6, 7, 8, 28, 17, 22 24 trên
đồ của nguyên đơn đã được quy chủ tại thửa đất số 358; dẫn đạc sang 75,7m
2
đất tại các điểm 8, 9, 11, 13 và 28 thuộc thửa số 5, tờ bản đồ số 68 xã V (đất của
khu tập thể đường sắt); dẫn đạc chiếm 5,4m
2
đất tại các điểm 22, 23 24 trên
sơ đồ đã được quy chủ cho thửa đất số 359, tờ bản đồ số 66 xã V, huyện Q.
[16] Từ các phân tich trên thấy bị đơn đã lấn chiếm của nguyên đơn
72,3m
2
tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 66 xã V, huyện Q được phê duyệt năm
2022; diện tích đất bị đơn phải trả cho nguyên đơn tại các điểm 4, 5, 6, 7, 8, 16,
26 4a trên đồ thẩm định, trong đó từ điểm 4a đến điển 4 giáp đường giao
thông liên thôn dài 2,23 mét; từ điểm 4 đến điểm 5 dài 1,75 mét; từ điểm 5 đến
điểm 6 dài 1,36 mét; từ điểm 6 đến điểm 7 dài 7,24 mét; từ điểm 7 đến điểm 8
dài 8,14 mét (từ điểm 4 đến điểm 8 giáp thửa đất số 357 của bị đơn); từ điểm 8
đến điểm 16 giáp thửa đất số 05, tờ bản đồ số 68 xã V dài 10,41 mét; từ điểm 16
đến điểm 4a giáp diện tích đất tại thửa đất số 358 của nguyên đơn dài 25,18 mét.
Hiện tại bị đơn xây dựng lấn chiếm trên diện tích đất của nguyên đơn đã được
quy chtrong smục kđất đai bản đồ địa chính gồm: 01 trụ cổng 7,66
mét tường rào (cao 1,25 mét), do đó buộc bị đơn phá bỏ để trả lại đất cho
nguyên đơn.
[17] Nguyên đơn, bị đơn nghĩa vụ đến quan quản đất đai theo
thẩm quyền để đăng ký việc sử dụng đất theo quy định.
[18] Quá trình giải quyết vụ án chi phí tố tụng hết 11.030.000 đồng (tại
cấp sơ thẩm chi phí hết 5.000.000 đồng, tại cấp phúc thẩm chi phí hết 6.030.000
đồng), căn cứ khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 buộc bị đơn phải chịu chi ptố tụng này; do đó nguyên đơn đã nộp
đủ nên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ tiền chi phí tố tụng.
[19] Nguyên đơn kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án p
dân sự thẩm án pn sự phúc thẩm. Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 272, Điều 273, khoản 2 Điều 308 và khoản 2 Điều
309 của Bộ luật tố tụng dân snăm 2015; Điều 96, Điều 143 Điều 203 Luật
đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
1. Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Văn Th, bà Hoàng Thị Th đối với
Bản án số 32/2023/DS ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân
huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; để sửa bản án sơ thẩm.
8
2. Buộc ông Văn X, Thị L phải trả lại cho ông Văn Th,
Hoàng Thị Th 72,3m
2
tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 66 V, huyện Q được
phê duyệt năm 2022; diện tích đất ông X, bà L phải trả cho ông Th, bà Th tại các
điểm 4, 5, 6, 7, 8, 16, 26 4a trên đồ thẩm định; trong đó từ điểm 4a đến
điển 4 giáp đường giao thông liên thôn dài 2,23 mét; từ điểm 4 đến điểm 5 i
1,75 mét; từ điểm 5 đến điểm 6 dài 1,36 mét; từ điểm 6 đến điểm 7 dài 7,24 mét;
từ điểm 7 đến điểm 8 dài 8,14 mét (tđiểm 4 đến điểm 8 giáp thửa đất số 357
của ông X, L); từ điểm 8 đến điểm 16 giáp thửa đất số 05, tờ bản đồ số 68
V dài 10,41 mét; tđiểm 16 đến điểm 4a giáp diện tích đất tại thửa đất số 358
của ông Th, bà Th dài 25,18 mét (có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).
3. Ông Văn Th, Hoàng Thị Th ông Văn X, Thị L
nghĩa vụ đến quan quản đất đai theo thẩm quyền để đăng việc sdụng
đất theo quy định.
4. Buộc ông Văn X, Thị L phải phá bỏ 01 trụ cổng 7,66 mét
tường rào (cao 1,25 mét) đã xây dựng lấn chiếm trên diện tích đất của ông
Văn Th, bà Hoàng Thị Th.
5. Ông Lê Văn X, bà Lê Thị L phải chịu 11.030.000 đồng chi phí tố tụng,
do ông Lê Văn Th, bà Hoàng Thị Th đã nộp đủ chi phí tố tụng này nên buộc ông
X, bà L phải trả số tiền 11.030.000 đồng cho ông Th, bà Th.
6. Ông Văn X, bà Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân s
thẩm. Ông Văn Th, Hoàng Thị Th không phải chịu án phí dân sự thẩm
án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã
nộp tại Biên lai số 0004107 ngày 19/6/2023 và Biên lai số 0004149 ngày
02/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Tuyên bố: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án,
bên có nghĩa vụ thi hành án phải trả i đối với số tiền chậm trả tương ứng với
thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản
2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 20/02/2024.
Nơi nhận:
- TANDCC tại Đà Nẵng;;
- VKSND tỉnh Quảng Bình;
- VKSNDCC tại Đà Nẵng;
- TAND huyện Quảng Ninh;
- CCTHADS huyện Quảng Ninh;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
9
- Lưu hồ sơ vụ án;
.
10
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 13/2024/DS Bản án số 13/2024/DS

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất