Bản án số 1148/2025/DS-PT ngày 12/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1148/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1148/2025/DS-PT ngày 12/09/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1148/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Kết quả đo đạc thể hiện phần đất tranh chấp 87,9m2 nằm trong thửa đất số 780, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Hồ Thị P theo đúng trình tự pháp luật. Hồ sơ địa chính cũng như ý kiến của những người liên quan và chính quyền địa phương xác định thửa đất số 780 không có lối đi chung, phần đất tranh chấp không phải lối đi cho các hộ dân phía sau. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông L. Ngoài ra, các bên thống nhất tháo dỡ đồng hồ nước và đường ống trên phần đất tranh chấp, Trung tâm Đ1 đồng ý thực hiện mà không yêu cầu bồi thường, Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này. Xét thấy kháng cáo của ông L không có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1148/2025/DS-PT
Ngày: 12-09-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
và tranh chấp về lối đi chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài
Bà Trần Thị Thắm
- Thư phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hoàng Quân - Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n Thành phHồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 12 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
670/2025/TLPT-DS ngày 21/7/2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất
tranh chấp về lối đi chung”.
Do Bản án dân sự thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 20/5/2025 của Tòa án nhân
dân huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Khu vực A - Thành phố Hồ
Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4869/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 8
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ A, ấp D, T,
huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1977; địa chỉ: Số nhà D, đường E, tổ
A, ấp C, L, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay xã T, Thành phố Hồ Chí Minh); có
mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Hồ Thị P, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ A, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bình
Dương (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
2. Bùi Thị Ngọc L1, sinh năm 1977; địa chỉ: tổ A, ấp D, T, huyện B,
tỉnh Bình Dương (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
2
3. Ông Nguyễn Tự T, sinh năm 1941; địa chỉ: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình
Dương (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Tự T: Ông Nguyễn Văn C, sinh
năm 1971; địa chỉ: ấp C, L, huyện B, tỉnh Bình ơng (nay T, Thành phố
Hồ Chí Minh); vắng mặt.
4. Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bình ơng; đơn đề nghị giải quyết vắng
mặt;
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân T,
Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Đường Đ, ấp D, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Ủy ban nhân dân L, huyện B, tỉnh Bình Dương; đơn đề nghị giải quyết
vắng mặt;
Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân T,
Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Đường Đ, ấp D, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Trung tâm Đ1; địa chỉ: Số H, đường Đ, phường P, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị giải quyết vắng
mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Bùi Văn K, sinh năm 1962; vắng mặt;
2. Bà Vũ Thị M, sinh năm 1958; vắng mặt;
Cùng địa chỉ: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là xã T, Thành phố
Hồ Chí Minh).
3. Ông Nguyễn Hoài V, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp C, L, huyện B, tỉnh
Bình Dương (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Đức L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 14/8/2022, Biên bản hoà giải ngày 10/4/2025, lời
khai trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn ông
Nguyễn Văn Đ trình bày:
Ông Đ là chủ sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất diện tích 405m
2
thuộc thửa
đất số 780, tờ bản đồ số 30, tại L, huyện B, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số vào sổ CH00271 ngày 21/02/2011 của Ủy
ban nhân dân huyện T cấp cho ông vHồ Thị P. Đất nguồn gốc nhận
chuyển nhượng của ông Bùi Văn K năm 2011, ông quản lý, sử dụng đất từ năm 2011
đến nay.
Năm 2022, ông Đ xin trích lục hồ cấp GCNQSDĐ để làm thủ tục chuyển
nhượng thì đại diện cơ quan nhà nước yêu cầu đo đạc để kiểm tra hiện trạng. Khi đo
đạc, ông Nguyễn Đức L chủ sử dụng liền ranh thửa đất số 109 không thống nhất
ranh giới với thực tế sử dụng đất của ông Đ. Ông L yêu cầu ông phải chừa lối đi 03
mét x 30 mét (cạnh phía Tây thửa 780) để làm lối đi chung cho các hộ dân có đất
3
phía sau thì ông không đồng ý trên đất này chưa từng lối đi. Do đó, giữa các
bên phát sinh tranh chấp. Ngày 05/07/2022, UBND L đã tổ chức hòa giải tranh
chấp nhưng không thành. Bản đồ địa chính, Hồ sơ cấp GCNQSDĐ thửa 780 và 109
đều không thể hiện lối đi tại phần đất ông L nêu. Do hòa giải không thành nên ông
Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xác định phần đất tranh chấp diện tích 87,9m
2
(82,6m
2
+ 5,3m
2
) thuộc thửa đất số 780 thuộc quyền sử dụng đất của ông. Theo đơn
khởi kiện ban đầu, ông còn yêu cầu Toà án xác định ranh đất theo hiện trạng sử
dụng thực tế giữa thửa đất số 780 với thửa đất số 109 là sát mép tường nhà tại cạnh
hướng Đông do ông L xây dựng. Nay ông rút lại yêu cầu này.
Ông Đ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn cho rằng đất
tranh chấp diện tích 87,9m
2
(82,6m
2
+ 5,3m
2
) là lối đi chung. Ông thống nhất với kết
quả đo đạc và định giá của Tòa án, đề nghị không đo đạc lại, không định giá lại.
Dưới phần đất ông và và ông L tranh chấp cách tường nhà ông khoảng 10cm
đồng hồ nước. Đồng hồ này do Trung tâm Đ1 lắp, ông không trả tiền lắp đường
ống nước đồng hồ, hàng tháng ông xài hết bao nhiêu nước thì trả bấy nhiêu tiền.
Ông không yêu cầu tháo dỡ đồng hồ này, khi nào cần thì ông liên hệ với quan
chức năng.
Tại Bản tự khai ngày 24/02/2023 quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Đức
L, trình bày:
Ông L không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Ông L là chủ
sử dụng hợp pháp thửa đất số 109, liền kề thửa đất số 780. Đất nguồn gốc nhận
chuyển nhượng từ năm 1996. Phần đất ông Đ chỉ ranh yêu cầu đo đạc bao gồm cả
đất lối đi chung chiều ngang 3m x 30m diện tích 87,9m
2
thuộc một phần thửa
đất số 780. Đây lối đi chung được các hộ dân sinh sống gần đó sử dụng để đi ra
đường lớn, ông cũng sử dụng lối đi này từ khi mua đất năm 1996 nên ông không
đồng ý giáp ranh. Ông Nguyễn Tự T, ông Nguyễn Hoài V người đất phía
sau thửa đất số 780 sử dụng con đường này đi lại, nhiều người dân địa phương
sống ở khu vực chứng kiến và biết sự việc trên. Do đó, ngày 10/10/2023, ông L nộp
đơn phản tố yêu cầu Tòa án buộc ông Đ phải trả lại QSDĐ diện tích 87,9m
2
(82,6m
2
+ 5,3m
2
) thuộc thửa đất số 780 ông Đ tranh chấp lối đi chung. Kiến nghị thu
hồi GCNQSDĐ số vào sổ CH00271 ngày 21/02/2011 cấp cho ông Đ, bà P để cấp lại
theo hướng không bao gồm đất là lối đi chung.
Ông L thống nhất với kết quả đo đạc và định giá của Tòa án, đề nghị không
đo đạc lại, không định giá lại.
Dưới đất tranh chấp cách tường nhà của ông khoảng 10cm đồng hồ nước
do Trung tâm Đ1 lắp, ông L không trả tiền lắp đường ống nước đồng hồ, hàng
tháng gia đình ông xài hết bao nhiêu nước thì trả bấy nhiêu tiền. Đất này có được
xem lối đi hay không lối đi thì ông cũng không yêu cầu tháo dỡ đồng hồ này,
khi nào cần thì ông liên hệ với cơ quan chức năng.
Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị P1 trình
bày: Bà là vợ của ông Đ, bà thống nhất với lời trình bày của ông Đ, đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của ông Đ, không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông L.
4
Quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Ngọc
L1 trình bày: Bà là vợ của ông L, bà thống nhất với lời trình bày của ông L, đồng ý
với yêu cầu phản tố của ông L, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tự T
trình bày: Ông là chủ sử dụng của phần đất phía sau thửa đất số 109 và 780 hiện cấp
cho ông Đ và ông L. Ông T có bán cho ông L một phần đất vào năm 2015, hiện ông
còn một phần đất ruộng đang trồng lúa bên trong hai thửa đất ông Đ và ông L đang
tranh chấp. Trước đây, phần lối đi ông Đ ông L tranh chấp được ông T sử dụng
làm lối đi, sau khi lối đi bị bít, rào lại thì ông sử dụng lối đi khác vào thửa đất của
mình. Việc tranh chấp giữa ông Đ ông L thì ông không liên quan nên đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, nếu lối đi được mở lại thì tiện sử
dụng.
Theo Công văn số 108/UBND-ĐC ngày 14/4/2022 Biên bản xác minh
ngày 13/3/2024 của TAND tỉnh Bình Dương, đại diện Ủy ban nhân dân xã L cung
cấp các thông tin như sau:
Đối chiếu GCNQSDĐ thửa đất 109 và 780, căn cứ bản đồ địa chính lập giai
đoạn năm 1999-2000 cho thấy, phần tiếp giáp thửa đất số 109 với 780 không thể
hiện đường. Thửa đất 109 cấp cho ông L tiếp giáp đường L, không bị vây bọc bởi
các bất động sản khác, có đủ lối đi ra đường công cộng, không bị hạn chế quyền về
lối đi qua.
Hồ cấp GCNQSDĐ thửa đất 109 780 từ trước đến nay đều không thể
hiện lối đi. Công văn số 2880/UBND-NC ngày 23/8/2023 của Ủy ban nhân dân
huyện B cung cấp thông tin như sau: Thửa đất số 109 cấp cho ông L và bà L1; thửa
đất số 780 cấp cho ông Đ và bà P1 theo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào bản đồ địa chính của địa phương thì phần đất tranh chấp được thể
hiện tại Mảnh trích lục địa chính đo đạc chỉnh số 191-2022 ngày 20/6/2023
của Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện B (gọi tắt Mảnh trích lục số
191-2022) không phải lối đi. Đất tranh chấp không phục vụ cho việc đi lại của
các hộ dân nào phía sau. Các hộ phía sau không sử dụng đất tranh chấp trên ra đường
công cộng mà có lối đi khác.
Tại Toà, ông Đ, ông L và bà L1 xác định dưới đất tranh chấp diện tích 87,9m
2
(82,6m
2
+ 5,3m
2
) chỉ có đồng hồ nước và đường ống đi đồng hồ nước do Trung tâm
Đ1 gắn, các bên đồng ý tháo dỡ đồng hồ nước đường ống nước ra khỏi phần đất
tranh chấp. Ông Đ đề nghị Toà án xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất
của ông với bà P1 như GCNQSDĐ được cấp. Ông Đ cho biết phía cuối và ngay trên
phần đất tranh chấp, có 4 trụ bê tông do ông trồng, các tắm sắt ngăn với đất phía sau
do ông Lâm D nằm trên phần đất diện tích 5,2m
2
thuộc thửa 780 nhưng ông Đ
không sử dụng, ông không tranh chấp đất này. Ông L giữ nguyên yêu cầu phản tố và
thừa nhận tài sản trên đất như ông Đ trình bày. Ông T chủ sử dụng các thửa đất
phía sau đất tranh chấp từng sử dụng đất này làm lối đi, nay ông T không còn sử
dụng và đã có lối đi khác. Bà L1 thống nhất với lời trình bày của ông L.
5
Tại Bản tự khai ngày 07/5/2025, người làm chứng ông Bùi Văn K
Thị M trình bày: Năm 2011, vợ chồng ông bán thửa đất 780 cho ông Đ. Đất ông L
ông Đ tranh chấp trước đây không có lối đi. Ông, cũng không thoả thuận
phần đất trên dùng làm lối đi. Hiện ông bà không liên quan đến vụ án.
Người làm chứng ông Nguyễn Hoài V trình bày: Ông sống gần với đất tranh
chấp. Lúc nhỏ, ông đi xuống ruộng thì thấy trên phần đất hiện ông Đ và ông L tranh
chấp lối đi nhưng đó lối đi hay không, sử dụng như thế nào thì ông không
biết. Ông không đất phía sau, không sử dụng đất các bên tranh chấp nên ông không
có liên quan đến vụ án.
Tại Bản án dân sự thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 20/5/2025, Tòa án nhân
dân huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Khu vực A - Thành phố H
Chí Minh) đã quyết định:
1. Ghi nhận sự thoả thuận của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, bị đơn ông
Nguyễn Đức L người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Ngọc L1 về
việc tháo dỡ đồng hồ nước và đường ống nước ra khỏi phần đất tranh chấp diện tích
87,9m
2
thuộc một phần thửa đất số 780 tờ bản đồ số 30, tại L, huyện B, tỉnh Bình
Dương; Trung tâm Đ1 nghĩa vụ tháo dỡ đồng hồ nước đường ống nước được
lắp đặt dưới phần đất tranh chấp diện tích 87,9m
2
mà không được bồi thường.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ với bị
đơn ông Nguyễn Đức L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất diện
tích 87,9m
2
(82,6m
2
+ 5,3m
2
) thuộc một phần thửa đất số 780 tờ bản đồ số 30, tại
L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Đất diện tích 87,9m
2
thuộc quyền sử dụng đất của ông
Nguyễn Văn Đ Hồ Thị P theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD
119314, số vào sổ CH00271 ngày 21/02/2011 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh
Bình Dương.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Đức L đối với
nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ về việc trả lại lối đi chung đối với phần đất diện tích
87,9m
2
(82,6m
2
+ 5,3m
2
) thuộc một phần thửa đất số 780 tờ bản đồ số 30, tại L,
huyện B, tỉnh Bình Dương; không chấp nhận yêu cầu phản tố về việc kiến nghị
quan nhà nước thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD
119314, số vào sổ CH00271 ngày 21/02/2011 của Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho
ông Nguyễn Văn Đ và bà Hồ Thị P.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trách nhiệm thi hành án
và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 27/5/2025 của bị đơn ông Nguyễn Đức L
đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 20/5/2025
của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Khu vực A
- Thành phố Hồ Chí Minh), đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết lại vụ
án.
6
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị
đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Phần đất tranh chấp không phải lối đi, mà thuộc quyền sử dụng
đất của ông Đ, không thuộc quyền sử dụng đất của ông L hay bất kỳ hộ dân nào
ở phía sau. Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
để giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà, kết quả tranh tụng của các đương sự tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện
kiểm sát,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đức L là trong thời hạn luật định. Do
đó, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
[1.2] Tại cấp phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân
dân huyện B, tỉnh Bình Dương và Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương
(đều có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T,
Thành phố Hồ Chí Minh) Trung tâm Đ1 đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tự T (có người đại diện hợp
pháp của ông Nguyễn Văn C) và người làm chứng ông Bùi Văn K, bà Vũ Thị M
ông Nguyễn Hoài V vắng mặt. Căn cứ theo Điều 296 của Bluật Tố tụng dân sự
năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự này.
[1.3] Tại cấp thẩm, Tòa án đã thu thập văn bản trình bày ý kiến của ông
Nguyễn Tự T nhưng không thể hiện vào nội dung bản án dân sự sơ thẩm là chưa phù
hợp. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm đã khắc phục thiếu sót này.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ vào kết quả đo đạc tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh
số 191 - 2023 ngày 20/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện
B thể hiện:
Phần đất tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đ và yêu cầu
phản tố của bị đơn ông L diện tích qua đo đạc thực tế 87,9m
2
(82,6m
2
+ 5,3m
2
)
thuộc một phần cửa thửa đất số 780 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
119314, số vào sổ cấp GCN: CH00271 ngày 21/02/2011 cấp cho ông Nguyễn Văn
Đ Hồ Thị P. Phần đất y cố nguồn gốc do ông Nguyễn Văn Đ nhận chuyển
nhượng từ ông Bùi Văn K từ năm 2011. Hồ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
thể hiện thửa đất số 780 được tách từ thửa đất số 110, đo đạc thực tế. quan
7
quản lý đất đai xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ
P đúng trình tự, thủ tục luật định đã cung cấp hồ địa chính cho Tòa án.
Xét thấy, hồ sơ địa chính khi tách thửa đối với thửa đất số 780 thì không thể hiện có
lối đi chung.
[2.2] Qtrình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn
K và bà Thị M xác định thửa đất số 780 khi ông bà bán cho ông Đ thì không có
lối đi chung. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tự T cũng xác
định ông chủ sử dụng của phần đất phía sau thửa 109 780, ông sử dụng lối đi
khác để vào thửa đất của mình. Ngoài ra, theo Công văn số 108/UBND-ĐC ngày
14/4/2022 Biên bản xác minh ngày 13/3/2024, Ủy ban nhân dân L, huyện B
đều cho biết phần tiếp giáp thửa đất số 109 và thửa đất số 780 không thể hiện đường
đi. Phần đất tranh chấp theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 191-2023
ngày 20/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B không phải là lối
đi và không phục vụ việc đi lại cho các hộ dân nào phía sau. Các hộ phía sau không
sử dụng phần đất tranh chấp trên ra đường công cộng mà có lối đi khác.
Do đó, ông Đ khởi kiện yêu cầu Toà án xác định đất này thuộc quyền sử dụng
đất của ông Đ P sở chấp nhận. Yêu cầu phản tố của bị đơn không
có cơ sở chấp nhận.
[3] Tại cấp thẩm, ông Đ, ông L và bà L1 đồng ý tháo dỡ đồng hồ nước và
đường ống nước ra khỏi phần đất tranh chấp. Trung tâm Đ1 có Công văn số 411/TL-
KDTT ngày 22/4/2025 trình bày đồng ý tháo dỡ đồng hồ nước đường ống nước
do Trung tâm lắp đặt dưới phần đất tranh chấp không yêu cầu bồi thường. Xét
thấy, đây là sự thỏa thuận của các bên liên quan nên Tòa án ghi nhận.
[4] Từ những phân tích trên, bị đơn ông Nguyễn Văn L2 kháng cáo nhưng
không cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án. Tòa án cấp thẩm
đã xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đảm bảo quyền
lợi ích các bên, xét xử phù hợp với quy định pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn L2 phải chịu theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn L2.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 20/5/2025, Tòa
án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Khu vực A - Thành
phố Hồ Chí Minh).
8
3. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn L2 phải chịu 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
tạm ứng án phí phúc thẩm tại các Biên lai tm ng án phí s0004082 ngày 27/5/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bình Dương (nay Phòng Thi hành
án dân sự Khu vực A Thành phố Hồ Chí Minh).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Khu vực A TP.HCM;
- Phòng THADS Khu vực A TP.HCM;
- UBND xã T, TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, Hồ sơ vụ án (14).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Trung Dũng
Tải về
Bản án số 1148/2025/DS-PT Bản án số 1148/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 1148/2025/DS-PT Bản án số 1148/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất