Bản án số 103/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 103/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 103/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 103/2025/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 103/2025/DS-ST ngày 16/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk |
Số hiệu: | 103/2025/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 16/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | UBND BMT kiện đòi tài sản 07 hộ dân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 103/2025/DS-ST
Ngày: 16/6/2025
V/v: Kiện đòi tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Tùng Mận và ông Trần Văn Nghị.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Thị Mai Anh –Thư ký Tòa án
nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Bà Nguyễn Thị Thùy
Linh, chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã
đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 02/2024/TLST-DS ngày 15/01/2024 về
việc: “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2025/QĐXX-
DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: A L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn H; chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn C – Giám đốc Trung tâm P đất
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: C H, Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Bị đơn:
1. Ông Hoàng Mạnh H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: A T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
có mặt.
2. Ông Hoàng Mạnh T, sinh năm 1973. Địa chỉ: A T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có
mặt.
3. Bà Hoàng Thị Như H2, sinh năm 1968. Địa chỉ: A T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
có mặt.

4. Ông Hoàng Mộng K, sinh năm 1962. Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường T, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
5. Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1968. Địa chỉ: H N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
có mặt.
6. Ông Nguyễn Tiến V, sinh năm 1971. Địa chỉ: H N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
có mặt.
7. Ông Nguyễn Khoa N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường T, thành phố
B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Tiến H3 – Chuyên viên Phòng Tài nguyên
và môi trường thành phố B.
Địa chỉ: Số B T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
2. Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Quang T1 – Phó giám đốc Trung tâm Phát
triển Quỹ đất thành phố P, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số C H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn xét xử vắng mặt.
3. Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Kiều Quuang V1 – Phó chủ tịch UBND phường
T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số A P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có đơn xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trương Văn C trình bày:
Ngày 22/07/2009, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 1993/QĐ-UBND về
việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
để xây dựng công trình: Bệnh viện Đ; Ngày ngày 02/4/2010, UBND tỉnh Đ ban hành
Công văn số 1506/UBND- NN&MT về việc chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng
mặt bằng công trình Bệnh viện Đ và cải tạo hệ thống thoát nước Quốc lộ A, Thực
hiện Công văn số 1506/UBND-NN&MT ngày 02/4/2010 của UBND tỉnh Đ đến
ngày 25/08/2010 UBND thành phố B ban hành Quyết định số 1475/QĐ-UBND về
việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất để
xây dựng công trình: Bệnh viện Đ.
Sau khi có Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ của UBND thành
phố, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố B đã chi trả số tiền bồi thường

cho các hộ trong đó có 07 hộ gia đình theo đúng số tiền được phê duyệt tại Quyết
định số 1993/QĐ-UBND và Quyết định số 1475/QĐ-UBND.
Thực hiện Kết Luận số 41/KL-TTr ngày 30/11/2018 của Thanh tra tỉnh về việc Kết
luận thanh tra các nội dung theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại Công văn số
2093/UBND-CN ngày 19/3/2018 thì không bồi thường, hỗ trợ về đất đối với 07 hộ
gia đình là H3, T, H2, K, D, V, N. Diện tích đất của 07 hộ trên bồi thường cho 03 hộ
ông D, L và N1.
Ngày 07/5/2019, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 3069/QĐ-UBND về
việc điều chỉnh đối tượng và diện tích thu hồi đất Quyết định số 1169/QĐ-UBND
ngày 25/6/2008 và Quyết định số 2466/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 của UBND
thành phố B khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Bệnh viện Đ; Quyết
định số 3070/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ
khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Bệnh viện Đ. Theo đó thu hồi số
tiền đã bồi thường, hỗ trợ đối với 07 hộ gia đình nêu trên.
Ngày 08/5/2019, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố phối hợp với UBND
phường T, UBMTTQVN phường Tự nn niêm yết công khai Quyết định số 3069/QĐ-
UBND và 3070/QĐ-UBND, ngày 07/5/2019 của UBND thành phố B, tại trụ sở
UBND phường T. Đồng thời công khai các Quyết định trên đến từng hộ dân.
Ngày 14/5/2019, UBND thành phố chỉ đạo Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố
chủ trì, phối hợp cùng các phòng ban của UBND thành phố, UBND phường T,
UBMTTQVN phường T, Đại diện tổ dân phố I phường T và 07 hộ trên họp để thông
báo cho các hộ được biết về việc chi trả sai đối tượng thường, hỗ trợ và vận động,
thuyết phục các hộ nộp trả số tiền theo Quyết định số 3070/QĐ-UBND ngày
07/05/2019 vào Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, các hộ dân đều có chung ý kiến là
không đồng ý với Kết Luận số 41/KL-TTr ngày 30/11/2018 của Thanh tra tỉnh và
Quyết định số 3070/QĐ-UBND ngày 07/05/2019 của UBND thành phố B. UBND
thành phố B tiếp tục có 03 lần đề nghị 07 hộ gia đình nộp tiền vào ngân sách Nhà
nước nhưng cả 03 lần đề nghị 07 hộ gia đình vẫn không chấp hành.
Để thực hiện thu hồi tiền của các 7 hộ gia đình nhận tiền bồi thường, hỗ trợ không
đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc
ông Nguyễn Tiến D nộp lại số tiền là 723.404.640 đồng, ông Hoàng Mạnh H1 nộp
lại số tiền là 847.738.680 đồng, ông Hoàng Mạnh T nộp lại số tiền là 641.516.960
đồng, ông Hoàng Mộng K nộp lại số tiền là 525.444.720 đồng, bà Hoàng Thị Như
H2 nộp lại số tiền là 844.204.440 đồng, ông Nguyễn Tiến V nộp số tiền là
794.884.000 đồng và ông Nguyễn Khoa N nộp lại số tiền là 657.218.400 đồng. Ngoài
ra, không có ý kiến, yêu cầu nào khác.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bị đơn có mặt thống nhất trình
bày:
Căn cứ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất thì việc thì khi cơ quan nhà nước thu hồi
đất của 07 bị đơn đề làm để xây dựng công trình Bệnh viện Đ, thì 07 bị đơn đã chấp
hành đúng pháp luật. trong quá trình thu hồi các cơ quan nhà nước đã thực hiện đúng
theo quy định của pháp luật trong đó có bồi thường, hỗ trọ cho 07 bị đơn cụ thể: ông
Nguyễn Tiến D nộp lại số tiền là 723.404.640 đồng, ông Hoàng Mạnh H1 nộp lại số
tiền là 847.738.680 đồng, ông Hoàng Mạnh T nộp lại số tiền là 641.516.960 đồng,
ông Hoàng Mộng K nộp lại số tiền là 525.444.720 đồng, bà Hoàng Thị Như H2 nộp
lại số tiền là 844.204.440 đồng, ông Nguyễn Tiến V nộp số tiền là 794.884.000
đồng và ông Nguyễn Khoa N nộp lại số tiền là 657.218.400 đồng.
Toàn bộ số tiền trên 07 bị đơn đã nhận đủ và sử dụng hết vào cuộc sống của gia đình,
nay nguyên đơn căn cứ Kết Luận số 41/KL-TTr ngày 30/11/2018 của Thanh tra tỉnh
về việc Kết luận thanh tra các nội dung theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại
Công văn số 2093/UBND-CN ngày 19/3/2018, để yêu cầu 07 bị đơn nộp lại số tiền
mà các bị đơn đã nhận là không có căn cứ, không đúng pháp luật nên 07 bị đơn
không đồng ý. Đề nghị tòa án không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn UBND thành phố B. Ngoài ra, không có ý kiến, yêu cầu nào khác.
Đối với bị đơn Nguyễn Khoa N: Trong quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập hợp lệ
nhiều lần nhưng bị đơn không tham gia tố tụng nên Tòa án không tiến hành lấy lời
khai, công khai chứng cứ và hoà giải được.
Đại diện theo ủy quyền của Phòng tài Nguyên và Môi trường thành phố B ông Vũ
Tiến T2 trình bày:
Thống nhất với ý kiến trình bày của đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân
thành phố B, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc 07
hộ gia đình bị đơn phải nộp lại số tiền đã nhận bồi thường, hỗ trợ cho UBND thành
phố B để UBND thành phố nộp trả Ngân sách Nhà nước theo quy định. Ngoài ra
không có ý kiến gì khác.
Đại diện theo ủy quyền của Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố B ông Võ
Quang T1 trình bày:
Về nội dung sự việc thống nhất như trình bày của đại diện theo ủy quyền của Ủy ban
nhân dân thành phố B, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
buộc 07 hộ gia đình bị đơn phải nộp lại số tiền đã nhận bồi thường, hỗ trợ cho UBND
thành phố B để UBND thành phố nộp trả Ngân sách Nhà nước theo quy định. Ngoài
ra không có ý kiến gì khác.
Đại diện theo ủy quyền của UBND phường T ông Kiều Quang V2 trình bày:

Về nội dung sự việc thống nhất như trình bày của đại diện theo ủy quyền của Ủy ban
nhân dân thành phố B, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
buộc 07 hộ gia đình bị đơn phải nộp lại số tiền đã nhận bồi thường, hỗ trợ cho UBND
thành phố B để UBND thành phố nộp trả Ngân sách Nhà nước theo quy định. Ngoài
ra không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương
sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dụng vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của
đương sự: Thể hiện quyền sử dụng đất mà 07 hộ dân quản lý, sử dụng có nguồn gốc
hợp pháp, đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất, việc UBND thành phố B, việc
UBND thành phố B ban hành chính sách bồi thường, hộ trợ là đúng pháp luật. Vì
vậy, đề nghị Hội đồng xét xử.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc các bị đơn
phải nộp lại số tiền đã nhận bồi thường, hỗ trợ cho UBND thành phố B để UBND
thành phố nộp trả Ngân sách Nhà nước theo quy định.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và
căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Khoa N, người đại diện theo ủy quyền của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Quang T1, ông Kiều Quang V2 vắng
mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố
tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù
hợp.
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện, các
chứng cứ kèm theo Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là kiện đòi tài sản,
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo
quy định tại khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án: Ngày 22/07/2009, UBND thành phố B ban hành Quyết định
số 1993/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình: Bệnh viện Đ; Ngày ngày 02/4/2010,
UBND tỉnh Đ ban hành Công văn số 1506/UBND- NN&MT về việc chính sách bồi

thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng công trình Bệnh viện Đ và cải tạo hệ thống thoát
nước Quốc lộ A, Thực hiện Công văn số 1506/UBND-NN&MT ngày 02/4/2010 của
UBND tỉnh Đ đến ngày 25/08/2010 UBND thành phố B ban hành Quyết định số
1475/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ khi nhà
nước thu hồi đất để xây dựng công trình Bệnh viện Đ.
Sau khi có Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ của UBND thành
phố, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố B đã chi trả số tiền bồi thường
cho các hộ trong đó có 07 hộ gia đình theo đúng số tiền được phê duyệt tại Quyết
định số 1993/QĐ-UBND và Quyết định số 1475/QĐ-UBND.
Thực hiện Kết Luận số 41/KL-TTr ngày 30/11/2018 của Thanh tra tỉnh về việc Kết
luận thanh tra các nội dung theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại Công văn số
2093/UBND-CN ngày 19/3/2018 thì không bồi thường, hỗ trợ về đất đối với 07 hộ
gia đình là H1, T, H2, K, D, V, N. Diện tích đất của 07 hộ trên bồi thường cho 03 hộ
ông D, L và N1.
Sau nhiều lần mời làm việc, đối thoại giữa UBND thành phố B với 07 hộ gia đình
bị đơn, nhưng không đi đến kết quả. Vì vậy nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa
án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình thực hiện việc hỗ trợ đền bù khi Nhà nước thu
hồi đất thực hiện dự án Bệnh viện Đ, Ủy ban nhân dân thành phố B đã không đề xuất
Ủy ban nhân dân tỉnh Đ xin chủ trương vận dụng, áp dụng quy định của pháp luật
về việc hỗ trợ đền bù khi Nhà nước thu hồi đất đối với 07 hộ gồm Hoàng Thị Như
H2, Hoàng Mạnh T, Hoàng Mạnh H1, Hoàng Mộng K, Nguyễn Tiến D, Nguyễn
Tiến V, Nguyễn Khoa N dẫn đến việc hỗ trợ cho 07 hộ dân này với tổng số tiền
5.034.411.840 đồng. Việc các tổ chức, cá nhân thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ
chưa đúng thủ tục một phần để đảm bảo tiến độ của dự án, bởi vì 07 bị đơn tuy chưa
có đầy đủ giấy tờ về quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật, nhưng đã
sử dụng đất ổn định trước khi có chủ trương thu hồi đất làm dự án Bệnh viện Đ, mức
giá bồi thường, hỗ trợ của Nhà nước tại thời điểm thu hồi đất thấp hơn nhiều lần so
với giá trị đất thực tế và hoàn toàn không có động cơ vụ lợi, lợi ích vật chất khác.
Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ khi không đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh
Đ xin chủ trương vận dụng, áp dụng quy định của pháp luật về việc hỗ trợ đền bù
khi Nhà nước thu hồi đất đối với với 07 bị đơn là thiếu sót, nhưng không làm thay
đổi bản chất của sự việc.
Mặt khác, theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và Luật đất đai năm 2024 thì các
trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng đất từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp
nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký đất đai vẫn đủ điều kiện được bồi thường về

đất khi Nhà nước thu hồi đất, đối chiếu với quy định này thì đến nay 07 hộ gồm
Hoàng Thị Như H2, Hoàng Mạnh T, Hoàng Mạnh H1, Hoàng Mộng K; Nguyễn
Tiến D, Nguyễn Tiến V, Nguyễn Khoa N có đủ điều kiện để được bồi thường, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
Căn cứ nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng, căn cứ quy định của Luật đất đai năm
2013 và Luật đất đai năm 2024, 07 hộ gồm Hoàng Thị Như H2, Hoàng Mạnh T,
Hoàng Mạnh H1, Hoàng Mộng K; Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tiến V, Nguyễn Khoa
N là những người sử dụng đất hợp pháp, ổn định và không có tranh chấp nên đủ điều
kiện để nhà nược công nhận quyền sử dụng đất.
Từ những căn cứ nhận định nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ủy ban nhân dân thành phố B về việc
buộc các bị đơn Hoàng Thị Như H2, Hoàng Mạnh T, Hoàng Mạnh H1, Hoàng Mộng
K, Nguyễn Tiến D, Nguyễn Tiến V, Nguyễn Khoa N trả lại tổng số tiền
5.034.411.840 đồng là tiền hỗ trợ đền bù khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án
Bệnh viện Đ mà các bị đơn nhận.
[4]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu 800.000 đồng tiền thu thập tải liệu,
chứng cứ đã nộp đủ và chi phí xong.
Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 11 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn không phải nộp tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 163, Điều 164 và Điều 166 Bộ luật dân sự 2015.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ủy ban nhân dân
thành phố B.
Về việc: Buộc ông Nguyễn Tiến D nộp lại số tiền là 723.404.640 đồng; ông Hoàng
Mạnh H1 nộp lại số tiền là 847.738.680 đồng; ông Hoàng Mạnh T nộp lại số tiền là
641.516.960 đồng; ông Hoàng Mộng K nộp lại số tiền là 525.444.720 đồng; bà
Hoàng Thị Như H2 nộp lại số tiền là 844.204.440 đồng; ông Nguyễn Tiến V nộp số
tiền là 794.884.000 đồng và ông Nguyễn Khoa N nộp lại số tiền là 657.218.400 đồng

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn Ủy ban nhân dân thành phố B phải chịu 800.000
đồng tiền thu thập tài liệu, chứng cứ (đã nộp đủ và chi phí xong).
Về án phí: Nguyên đơn Ủy ban nhân dân thành phố B không phải nộp tiền án phí
dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND TP. BMT;
- CCTHADS TP. BMT;
- Các đương sự; (đã ký)
- Lưu: HS +VP.
Lê Đình Thanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 01/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 22/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 22/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 15/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 08/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 30/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 30/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 30/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 27/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 25/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm