Bản án số 102/2019/HNGĐ-ST ngày 03/09/2019 của TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 102/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 102/2019/HNGĐ-ST ngày 03/09/2019 của TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Cai Lậy (TAND tỉnh Tiền Giang)
Số hiệu: 102/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/09/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình giữa chị Nguyễn Thị Bích L và anh Nguyễn Thanh Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG
Bn án s: 102/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 03-9-2019
V/v tranh chp Ly hôn, nuôi con
CỘNG A HỘI CHNGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thực;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư;
- Lê Thị Vân.
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Minh Đang - Thư Tòa án nhân dân
huyện Cai Lậy.
Ngày 03 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét
xử thẩm ng khai vụ án thụ số: 396/2019/TLST-HNGĐ ny 06 tng 8
năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, nuôi contheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 122/2019/QĐXX-ST ngày 22 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1991; trú tại: Ấp A,
xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1985; trú tại: Ấp A, xã P,
huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên
đơn, chị Nguyễn Thị Bích L trình bày: Chị anh Nguyễn Thanh Q chung sống
với nhau từ năm 2012, nhưng đến ngày 14-11-2014 mới đăng kết hôn, hôn
nhân trên sở tnguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc không
trọn vẹn không hợp nhau về lối sống nên xảy ra nhiều xung đột, thường
xuyên cự cãi, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị anh Q đã cố hàn gắn
để giữ hạnh phúc gia đình nhưng không kết quả. Từ khoảng 01 năm trở lại
đây, do công việc chị làm nhiều nên anh Q còn thường xuyên ghen tuông cớ
dùng lời lẽ thô tục xúc phạm danh dự, nhân phẩm của chị, anh Q yêu cầu ch
nghỉ việc.
2
Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân
không đạt được nên yêu cầu được lyn với anh Q.
Về con chung: 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh Kim C, sinh ngày
02-01-2015. Hiện cháu C đang sống với chị, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi
con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Chị yêu cầu nuôi con vì hiện nay
con đang do chị nuôi dưỡng, con chị cũng muốn sống với chị, điều kiện kinh tế
của chị cũng ổn định, đảm bảo để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, để hai
bên tự thỏa thuận.
*. Bị đơn, anh Nguyễn Thanh Q trình bày: Anh thống nhất về thời điểm kết
hôn, con chung như chị L trình bày. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị L đi làm
thường xuyên không có thời gian chăm lo cho gia đình cho con; và chị L hay
nói anh cọc cằn; vvấn đề kinh tế, mặc anh không đi làm công việc ổn định
nhưng kinh tế gia đình đều do anh làm ra. anh thương vợ nên anh thừa nhận
hay khuyên vợ anh đừng làm những việc anh không thích (như đi nhậu…),
anh chỉ nói lúc hai vợ chồng, anh không đánh đập chị L. Mâu thuẫn vợ
chồng trở nên trầm trọng kể tkhi chị L đi thi hội thi thanh lịch của xã, từ đó
anh cảm thấy chị L không còn tình cảm với anh.
Về con chung, anh muốn trực tiếp nuôi con chung phía gia đình anh
nhiều anh chị em, con anh khi sống bên gia đình anh được tiếp xúc với nhiều
người còn sống bên gia đình vợ anh sau này cháu sẽ bị hạn chế khi tiếp xúc
đông người. Công việc của chị L thời gian tới sẽ không có thời gian để chăm sóc
con, chị L thường xuyên đi trực, kể cả trực ban đêm nên không nhiều thời
gian để chămc con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh thống nhất để hai bên tự thỏa thuận,
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Bích L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly
hôn với anh Q, yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Q phải cấp
dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Thanh Q đồng ý ly hôn nhưng không đồng ý giao
con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi
dưỡng. Cả anh Q, chị L đều không yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Chị Nguyễn Thị Bích L anh Nguyễn Thanh Q tranh chấp về ly hôn;
anh Q trú tại: Ấp 5B, P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ khoản 1
Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, thì thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
3
[2] Đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bích L anh Nguyễn Thanh Q là hợp
pháp, vì có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấy chứng nhận kết
hôn số 113/2014, quyển số 1/2014 ngày 14-11-2014. Nay giữa chị L, anh Q đều
thống nhất thuận tình ly hôn, xét sự thỏa thuận giữa hai bên là tự nguyện, không
trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi con của chị L, anh Q, Hội đồng xét
xử xét thấy: Qua các tài liệu, chứng cứ do hai bên cung cấp cho Tòa án lời
trình bày của hai bên tại tòa, có căn cứ xác định cả chị L, anh Q đều có điều kiện
vật chất để nuôi con chung cháu Nguyễn Thanh Kim C, sinh ngày 02-01-
2015. Việc anh Q cho rằng chL đi làm không thời gian để chăm sóc con
chung là không phù hợp, bởi lẽ việc chăm sóc con chung giao cho bên nào chăm
sóc để cháu sống đảm bảo không những về điều kiện vật chất còn phải
đảm bảo về mặt tinh thần, làm sao cho cháu cuộc sống thoải mái, không bị
xáo trộn, nh hưởng vmặt tâm sinh lý của cháu. Từ lúc còn chung sống vợ
chồng tkhi chị L trực tiếp nuôi con đến nay chL vẫn nuôi con chu đáo.
Hơn nữa, cháu C cháu gái, hiện đang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, việc thay
đổi người nuôi con sẽ làm xáo trộn cuộc sống cũng như tâm của cháu. Do đó,
Hội đồng xét xử xét cần thiết tiếp tục giao cháu C cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng
sau khi ly hôn phù hợp, đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ và con chung
chưa thành niên.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nchung: Do cả anh Q, chị L
đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích L nguyên đơn khởi kiện ly hôn nên
phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn
nhân Gia đình; điểm a khoản 5 Điu 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sthỏa thuận giữa chị Nguyễn Thị Bích
L anh Nguyễn Thanh Q. Cho chị Nguyễn Thị Bích L anh Nguyễn Thanh
Q được ly hôn.
2. Về con chung:
4
Giao cho chị Nguyễn Thị Bích L là người trực tiếp nuôi ỡng cháu
Nguyễn Thanh Kim C, sinh ngày 02-01-2015 sau khi ly hôn.
Anh Nguyễn Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L chưa yêu
cầu.
Anh Nguyễn Thanh Q quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không
ai được quyền cản trở.
3. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Bích L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân
sự thẩm về hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm
nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 16970
ngày 06-8-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, nên xem n
chị L đã thi hành xong.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền
Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tiền Giang;
- VKSND huyện Cai Lậy;
- Chi cục THADS huyện Cai Lậy;
- UBND xã P, huyện C;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Anh Thực
Tải về
Bản án số 102/2019/HNGĐ-ST Bản án số 102/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất