Bản án số 09/2023/HS-ST ngày 21-03-2023 của TAND huyện An Biên (TAND tỉnh Kiên Giang) về về tội tham ô tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 09/2023/HS-ST ngày 21-03-2023 của TAND huyện An Biên (TAND tỉnh Kiên Giang) về về tội tham ô tài sản
Tội danh: 353.Tội tham ô tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện An Biên (TAND tỉnh Kiên Giang)
Số hiệu: 09/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/03/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Kiều Ngọc H phạm tội tham ô tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN
NHÂN DÂN
HUYN AN BIÊN
TNH KIÊN GIANG
Bn án s: 09/2023/HS-ST
Ngày: 21-3-2023
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYN AN BIÊN, TNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Đức Hoài
Ông Hà Minh Hằng
- Thư phiên tòa: Thuý Kiều- Thư Tòa án nhân dân huyện An
Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham
gia phiên tòa: Ông Trần Khánh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên
Giang xét xử thẩm ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2022/TLST-
HS ngày 21 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thẩm số:
09/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Kiều Ngọc H, sinh ngày 23 tháng 4 năm 1984; nơi sinh: huyện VT, tỉnh
Kiên Giang; nơi trú: ấp 3B, N, huyện AB, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp:
Làm thuê; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt
Nam; tôn giáo: Không; con ông Kiều Văn K, sinh năm 1945 Bùi Thị H1,
sinh năm 1948; chồng: anh Huỳnh Thanh N, sinh năm 1979 02 người con, lớn
sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2020; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo tại ngoại theo
Lệnh cấm đi khỏi nơi trú số: 01 ngày 02 tháng 01 năm 2020 cho đến nay (có
mặt).
- Bị hại: Tổng công ty B Việt Nam, B tỉnh KG;
Người đại diện hợp pháp Tổng công ty B Việt Nam, tỉnh KG: Ông Nguyễn
Ngọc P, sinh ngày 09 tháng 8 năm 1973, chức vụ: Trưởng phòng Tổ chức Hành
chính B tỉnh Kiên Giang đại diện theo giấy uỷ quyền số: 59/UQ-BĐKG ngày 14
tháng 3 năm 2023 (có mặt);
Địa chỉ trụ sở: S 575 NTT, phường AH, T.p RG, tỉnh Kiên Giang.
2/BA-HSST
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
B huyện AB;
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan B
huyện AB: Chị Thị Hồng Ph, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1981, chức vụ: Phó Giám
đốc B huyện AB, tỉnh Kiên Giang (có mặt);
Địa chỉ: Kp2, th trấn TB, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
Chị Nguyễn Thị BS, sinh năm 1986, chức vụ: Kế toán B huyện AB, tỉnh
Kiên Giang (có mặt);
Địa chỉ: ấp T2, xã ĐY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
- Người làm chứng: Ông Xuân Kh, sinh năm 1970, chức vụ: Phó
Trưởng phòng Lđ - Tb huyện AB, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt);
Địa chỉ: Kp3, th trấn TB, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên toà, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Tổng công ty B Việt Nam Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
do Nhà nước shữu 100% vốn điều lệ, B tỉnh Kiên Giang đơn vị hạch toán
phụ thuộc Tổng công ty B Việt Nam; B huyện AB đơn vị hạch toán phụ thuộc
B tỉnh Kiên Giang. B Văn hóa xã N là đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc B huyện
AB.
Kiều Ngọc H nhân viên B - Văn hóa N từ năm 2013 theo hợp đồng
Đại B - Văn hóa (gọi tắt Hợp đồng Đại lý) số 006 ngày 01 tháng 01 năm
2013 với B huyện AB (hợp đồng Đại được ký kết lại hàng năm, từ năm 2013
đến ngày 30 tháng 12 năm 2016 B huyện AB hợp đồng với Kiều Ngọc H; từ
ngày 31 tháng 12 năm 2016 B tỉnh Kiên Giang ký hợp đồng với Kiều Ngọc H).
Kiều Ngọc H được B huyện AB giao nhiệm vụ thực hiện cung cấp dịch vụ bưu
chính chuyển phát, tài chính bưu chính, Viễn thông Công nghệ thông tin
phục vụ hoạt động văn hóa tại điểm B - Văn hóa N, cụ thể: thực hiện việc thu
hộ tiền vay trả góp, mua hàng qua mạng, cước điện thoại.., dịch vụ chuyển tiền,
nhận tem, card điện thoại từ B huyện AB về bán các hoạt động kinh doanh
khác; hàng tháng nhận tiền B huyện AB về phát cho các đối tượng bảo trợ xã hội
trên địa bàn N theo danh sách của Phòng Tb huyện AB. Theo quy định tại
hợp đồng Đại đã được kết và Quy định về tổ chức quản lý, hoạt động B -
Văn hóa xã của Tổng công ty B Việt Nam, Kiều Ngọc H trách nhiệm theo dõi,
quản lý tiền, vật tư, hàng hóa tại B - Văn hóa xã N. Theo quy định của Tổng công
3/BA-HSST
ty B Việt Nam, B tỉnh KG cũng như B huyện AB hàng ngày mọi hoạt động thu,
chi Kiều Ngọc H phải nhập phần mềm (CFM) để quản lý, cuối ngày (trước 16
giờ) Kiều Ngọc H phải lập báo cáo tổng hợp dòng tiền thu, chi các dịch vụ phát
sinh báo cáo thu, tiếp quỹ. Báo cáo được lập trên sở số liệu thu, chi các
dịch vkinh doanh, bán hàng, thu quỹ, tiếp quỹ phát sinh trong ngày, số dự chi
và báo cáo lên B huyện AB bằng thư điện tử. Số tiền mặt còn tồn trong ngày phải
nộp về B huyện AB (được lưu quỹ mức cho phép, trước ngày 01/12/2016
2.000.000 đồng, từ ngày 01/12/2016 7.000.000 đồng). Kiều Ngọc H được
hưởng thù lao hàng tháng từ việc phục vụ hoạt động văn hóa tại điểm B - Văn
hóa xã N và hưởng hoa hồng trên sản phẩm đã bán được hoặc đã giao dịch.
Lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao Kiều Ngọc H đã chiếm đoạt của
Tổng công ty B Việt Nam tổng số tiền 299.017.233 đồng với thủ đoạn các
khoản tiền cụ thể như sau:
- Tiền bán hàng: ngày 30 tháng 11 năm 2013 B huyện AB 50 con tem loại
2000 đồng/01 con tem trị giá 100.000 đồng; ngày 01 tháng 4 năm 2015 Kiều
Ngọc H nhận B huyện AB 05 thẻ AVG mệnh giá mỗi thẻ 200.000 đồng; 10 thẻ
VN50 mệnh giá mỗi thẻ 50.000 đồng; 05 thẻ VN100 mệnh giá mỗi thẻ 100.000
đồng. Tổng giá trị số tem, thKiều Ngọc H nhận là 2.100.000 đồng. Số tem, thẻ
này sau khi bán hết Kiều Ngọc H giữ tiền lại để tiêu xài nhân, không nộp tiền
cho B huyện AB theo quy định. Chiếm đoạt của Tổng công ty B Việt Nam
2.100.000 đồng.
- Tiền quỹ chuyển tiền: Quá trình thực hiện nhiệm vụ thu hộ, chi hộ, nhận
chuyển tiền thông qua hệ thống Paypost Kiều Ngọc H thường xuyên sdụng
tiền thu hộ, tiền tiếp quỹ vào mục đích tiêu xài nhân. Để tránh bị phát hiện,
hàng ngày Kiều Ngọc H lập báo cáo khống số tiền thu chi cho phù hợp với số
tiền đã chiếm đoạt báo cáo về B huyện AB. Theo quy định đối với khách hàng
nhận tiền tại B, hàng ngày B tỉnh Kiên Giang sẽ phân tuyến về theo từng xã,
khách hàng xã nào nhận tiền thì đưa danh sách về xã đó (danh sách khách hàng
nhận tiền thể hiện trên hệ thống Paypost). Khi đăng nhập vào hthống Paypost
giao dịch viên sẽ biết được số tiền phát cho khách hàng tại B của mình trong ngày
thì giao dịch viên lập phiếu xin tiếp quỹ (nhận tiền mặt) từ B huyện về phát cho
người nhận tiền. Lợi dụng điều này, Kiều Ngọc H Sử dụng tài khoản được cấp
922450 đăng nhập vào hệ thống Paypost để biết số tiền phát cho khách hàng
trong ngày rồi lập phiếu xin tiếp quỹ từ B huyện AB với số tiền cao hơn để chiếm
đoạt hoặc vào số tiền đã chiếm đoạt trước đó. Bằng cách thức, thủ đoạn trên,
từ khoảng tháng 01 m 2016 đến ngày 02 tháng 10 năm 2017, Kiều Ngọc H đã
4/BA-HSST
chiếm đoạt tiền tiếp quỹ của Tổng công ty B Việt Nam với tổng số tiền
237.067.233 đồng. Quá trình thực hiện hành vi chiếm đoạt ngày Kiều Ngọc H
thực hiện hành vi chiếm đoạt nhưng cũng ngày Kiều Ngọc H nộp tiền vào đ
khắc phục.
- Tiền Bảo trợ xã hội (BTXH): Ngày 24 tháng 6 năm 2016, B huyện AB và
Phòng - Tb huyện AB hợp đồng số 428 về việc chi trả chi trả chính sách
trợ giúp hội cho các đối tượng bảo trợ hội qua hệ thống B theo đó B huyện
AB trách nhiệm tổ chức chi trả toàn bộ chế độ trợ giúp hội hàng tháng tại
các điểm Bưu cục, B văn hóa xã. Hàng tháng từ ngày 05 đến ngày 15 Phòng
Tb huyện AB căn cứ danh sách đối tượng thụ hưởng thực hiện rút dự toán tại
Kho bạc Nhà nước, lập ủy nhiệm chi chuyển tiền cho B huyện AB cùng với danh
sách đối tượng thụ hưởng. B huyện AB tổ chức chi trả tổng hợp danh sách đối
tượng đã nhận tiền, số tiền đã chi trả danh sách đối tượng chưa nhận tiền cho
Phòng - Tb huyện AB trước ngày 20 hàng tháng. Hợp đồng được triển khai
thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 được kết lại hàng năm. Theo hợp
đồng Đại được B huyện AB phân công Kiều Ngọc H trách nhiệm thực
hiện việc chi trả tiền cho các đối tượng bảo trợ hội trên địa bàn N. Hàng
tháng, Kiều Ngọc H nhận tiền và danh sách danh sách đối tượng thụ hưởng từ B
huyện AB về chi trả cho các đối tượng thụ hưởng trên địa bàn. Sau khi chi trả
xong Kiều Ngọc H mang danh sách đã chi trả chcủa các đối tượng thụ
hưởng về nộp cho B huyện AB cùng với số tiền chưa phát hết (nếu ) để quyết
toán. Quá trình thực hiện nhiệm vKiều Ngọc H nhận thấy B huyện AB chỉ căn
cứ vào danh sách đã chi trả do Kiều Ngọc H nộp nếu có đủ chữ ký hoặc điểm chỉ
của người thụ hưởng thì đồng ý quyết toán nên Kiều Ngọc H nảy sinh ý định
chiếm đoạt tiền bảo trợ hội đtiêu xài nhân rồi khống hoặc tự điểm ch
vào danh sách chi trả để quyết toán với B huyện. Bằng thủ đoạn trên từ tháng 10
năm 2016 đến tháng 10 năm 2017 Kiều Ngọc H đã chiếm đoạt của Tổng công ty
B Việt Nam với tổng số tiền là 59.850.000 đồng tiền bảo trợ xã hội.
Ngày 02 tháng 10 năm 2017, B huyện AB tiến hành kiểm tra tài chính tại
B - Văn a N phát hiện hành vi chiếm đoạt của Kiều Ngọc H. Vào ngày 24
tháng 11 năm 2017 09 tháng 12 năm 2017 B tỉnh Kiên Giang B huyện AB
tiến hành làm việc với Kiều Ngọc H; tại các buổi làm việc Kiều Ngọc H thừa
nhận hành vi chiếm đoạt tài sản, số tiền chiếm đoạt và cam kết đến ngày 30 tháng
3 năm 2018 khắc phục toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho Tổng công ty B Việt
Nam. Ngày 29 tháng 6 năm 2018, B huyện AB tố giác hành vi phạm tội của Kiều
Ngọc H đến quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Biên. Sau đó, Kiều
5/BA-HSST
Ngọc H bỏ trốn đến ngày 31 tháng 12 năm 2019 ra đầu ttại quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện An Biên và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số: 67/CT-VKSHAB ngày 18 tháng 11 năm 2021 truy tố bị
cáo Kiều Ngọc H về tội tham ô tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 của
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Về trách nhiệm dân sự,
ngày 10 tháng 02 năm 2018, ông Lương Văn K đại diện nộp thay Kiều Ngọc H
10.000.000 đồng khắc phục cho B tỉnh Kiên Giang. Ngày 26/10/2021, bị cáo
Kiều Ngọc H được người thân nộp thay khắc phục xong số tiền đã chiếm đoạt
còn lại 289.017.233 đồng. Kiều Ngọc H không tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo người thai, thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phm.
Đối với Danh Quốc V (Giám đốc), Huỳnh Thị Thu H (Phó Giám đốc được
phân công chuyên quản B - Văn hóa xã), Nguyễn Thị BS (Kế toán trưởng),
Nguyễn HV (Kế toán viên), Thị Hồng Ph (Kiểm soát viên) thuộc B huyện AB
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao không thực hiện đúng quy định của
Tổng công ty B Việt Nam, B tỉnh KG trong việc quản tài sản để cho Kiều
Ngọc H chiếm đoạt dấu hiệu phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng” được quy định tại khoản 1 Điều 360 Bộ luật hình snăm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017. quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Biên sẽ
tiếp tục điều tra để xử sau.
Tại phiên toà:
Kiểm sát viên kết luận đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353, các
điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Điều 38 Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Kiều Ngọc H từ 02 năm đến 02
năm 06 tháng về tội tham ô tài sản. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo Kiều Ngọc
H được người thân nộp thay khắc phục xong số tiền đã chiếm đoạt
299.017.233 đồng, Tổng công ty B Việt Nam, B tỉnh KG B huyện AB không
yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên không xem xét.
Bị cáo Kiều Ngọc H thừa nhận thực hiện hành vi nCáo trạng đã nêu
kết luận của Kiểm sát viên bị cáo lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao đã
chiếm đoạt của Tổng công ty B Việt Nam tổng số tiền 299.017.233 đồng. Trong
đó: Tiền bán tem thẻ 2.100.000 đồng, tiền quỹ chuyển tiền 237.067.233
đồng tiền bảo trợ xã hội là 59.850.000 đồng, không ý kiến tranh luận gì
thêm. Lời nói sau cùng, bị cáo hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên phạm
tội, thấy rất ăn năn hối hận, xin xử mức án thấp để bị cáo điều kiện lo cho gia
đình và con của bị cáo.
6/BA-HSST
Ông Nguyễn Ngọc P người đại diện hợp pháp của bị hại Tổng công ty B
Việt Nam, B tỉnh KG xác định, bcáo Kiều Ngọc H lợi dụng nhiệm vụ, quyền
hạn được giao đã chiếm đoạt của Tổng công ty B Việt Nam tổng số tiền
299.017.233 đồng, đến ngày 26 tháng 10 năm 2021 bị o cùng người thân đã
nộp trả đủ số tiền chiếm đoạt 299.017.233 đồng. Nay ông không yêu cầu bị cáo
bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
Chị Thị Hồng Ph người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan B huyện AB, tỉnh Kiên Giang xác định, bị cáo Kiều Ngọc H lợi
dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao đã chiếm đoạt của Tổng công ty B Việt
Nam tổng số tiền 299.017.233 đồng, đến ngày 26 tháng 10 năm 2021 bị cáo cùng
người thân đã nộp trả đủ số tiền chiếm đoạt 299.017.233 đồng, khi đó Kế toán
chị Nguyễn Thị BS trực tiếp thu mang nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện
An Biên, tỉnh Kiên Giang. Nay ch không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản
thiệt hại nào khác, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chNguyễn Thị BS tự xác định,
người thân bị cáo Kiều Ngọc H đã nộp số tiền 289.017.233 đồng còn lại trả cho B
huyện AB, tỉnh Kiên Giang khắc phục hậu quả số tiền bị cáo Kiều Ngọc H chiếm
đoạt, chị không biết nên chị mang nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An
Biên, tỉnh Kiên Giang, chị không biết họ và tên, nơi tcủa người thân bị
cáo Kiều Ngọc H, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra chị
không yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở ni dung v án, căn cứ vào các tài liu trong h vụ án đã
đưc tranh tng ti phiên toà, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] V hành vi, quyết đnh t tng của Cơ quan điều tra Công an huyn An
Biên, Điều tra viên, Vin kim sát nhân dân huyn An Biên, Kim sát viên trong
quá trình điu tra, truy t đã thực hiện đúng về thm quyn, trình t, th tc quy
định ca B lut t tng hình s. B cáo, bị hại người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không có ý kiến hoc khiếu ni v hành vi, quyết đnh của Cơ quan tiến
hành t tụng, ngưi tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tng ca
cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đu hp pháp.
[2] B cáo thc hin hành vi phm tội trước ngày 01/01/2018, đối chiếu
gia điểm a khoản 3 Điều 278 B lut hình s năm 1999, sửa đổi b sung năm
2009 vi điểm d khoản 2 Điều 353 B lut hình s năm 2015, sửa đổi b sung
7/BA-HSST
năm 2017, thy rng mc hình pht ca điểm a khoản 3 Điều 278 B lut hình s
năm 1999, sửa đổi b sung năm 2009 cao hơn mc hình phạt quy đnh ti điểm d
khoản 2 Điều 353 B lut hình s năm 2015, sửa đổi b sung năm 2017. Trong
trường hp này áp dụng điu lut gii quyết li cho b cáo nên Hội đồng xét
x căn cứ đim b khoản 1 Điều 2 Ngh quyết s: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017
ca Quc hi v vic thi hành B lut hình s s 100/2015/QH13 đã được sa
đổi, b sung mt s điu theo Lut s 12/2017/QH14... áp dng lut mới để x
b cáo như kết lun ca Cơ quan Điều tra Công an huyện An Biên đề ngh ca
Kim sát viên.
[3] Ti phiên tòa b cáo Kiu Ngc H khai nhận đã thực hiện hành vi như
Cáo trạng đã nêu. Li khai nhn ca b cáo phù hp vi li khai ca b hại, người
có quyn lợi, nghĩa v liên quan và người làm chng, li khai ca b cáo trước đó
tại quan điều tra, phù hp vi biên bn kim tra qu ngày 02 tháng 10 năm
2017 các biên bản đối chiếu s tin b cáo chiếm đoạt ngun tin bo tr
hi, tem, th ngày 27 tháng 4 năm 2020 cùng các chng c khác trong h
v án, đủ sở xác định được: T ngày 30 tháng 11 năm 2013 đến ngày 02
tháng 10 năm 2017 bị cáo Kiều Ngọc H lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao
chiếm đoạt của Tổng công ty B Việt Nam tổng số tiền 299.017.233 đồng (Trong
đó: Tiền bán tem th2.100.000 đồng, tiền quỹ chuyển tiền 237.067.233
đồng tiền bảo trợ xã hội 59.850.000 đồng). Như vậy, Hội đồng xét xử đã
đủ sở kết luận hành vi của bị cáo Kiều Ngọc H thực hiện phạm tội tham ô tài
sản theo quy đnh tại điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình snăm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố
bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Khoản 1 khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017 quy đnh:
“1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình
trách nhiệm quản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc
dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
………………
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 07
năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
…………………..
8/BA-HSST
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000
đồng;
đ) …….”
Bị cáo Kiều Ngọc H là người có đầy đủ sức khoẻ, có đầy đủ năng lực trách
nhiệm hình sự, được B huyện AB giao nhiệm vụ thực hiện việc thu hộ tiền vay
trả góp, mua hàng qua mạng, cước điện thoại.., dịch vụ chuyển tiền, nhận tem,
card điện thoại tB huyện AB, nhận tiền B huyện AB về phát cho các đối tượng
bảo trợ xã hội trên địa bàn N theo danh sách của Phòng Tb huyện AB theo
quy định tại hợp đồng Đại lý đã được ký kết và Quy định về tổ chức quản lý, hoạt
động B - Văn hóa của Tổng công ty B Việt Nam t ngày 30 tháng 11 năm
2013 đến ngày 02 tháng 10 năm 2017 bị cáo lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được
giao, báo cáo không trung thực về tài chính thu hộ, cấp phát, không vào danh
sách các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn xã N, để đơn vị chủ quản và Phòng
Tb huyện AB không phát hiện được, chiếm đoạt của Tng công ty B Việt
Nam tổng số tiền 299.017.233 đồng, hành vi phạm tội của bcáo được xác định
là rất nghiêm trọng với lỗi cố ý. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên,
xử phạt bị cáo một mức án để thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành
người tốt sống ích cho hội biết tuân thủ pháp luật, nhằm ngăn chặn
phòng ngừa chung cho xã hội có ý định thực hiện hành vi tương tự bị cáo.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng thấy rằng bị cáo phụ nữ, trong giai
đoạn điều tra, truy tố bị cáo đang mang thai, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu chưa
tiền sự, tiền án; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo cùng
người thân nộp toàn bộ stiền đã chiếm đoạt khắc phục hậu quả mặc kinh tế
gia đình bị cáo rất khó khăn, bị hại người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin
giảm nhẹ hình phạt cho bcáo nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị
cáo theo quy đinh tại các đim b, n, s khoản 1 Điều 51, khon 2 Điu 51 B lut
hình s năm 2015, sửa đổi b sung năm 2017. Đồng thi b cáo 04 tình tiết
gim nh trách nhim nh s theo quy đinh tại khoản 1 Điều 51 B lut hình s
năm 2015, sửa đi b sung năm 2017 nên x pht b cáo dưới mc thp nht ca
khung hình phạt được áp dụng theo quy đnh ti theo quy đinh tại khoản 1 Điều
54 B lut hình s năm 2015, sửa đổi b sung năm 2017.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo Kiều Ngọc H được người thân nộp thay
02 lần khắc phục xong số tiền đã chiếm đoạt 299.017.233 đồng trả cho Tổng
công ty B Việt Nam, B tỉnh KG B huyện AB (Trong đó: ngày 10/02/2018 trả
trực tiếp B huyện AB nhận 10.000.000 đồng số tiền 289.017.233 đồng nộp tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên theo biên lai thu tiền số: 0003304
9/BA-HSST
ngày 26 tháng 10 năm 2021). Nay người đại diện hợp pháp Tổng công ty B Việt
Nam, B tỉnh KG B huyện AB không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì nên
không xem xét.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị BS xác định, chị
nhận số tiền người thân của bị cáo Kiều Ngọc H nộp khắc phục hậu quả trả
cho Tổng công ty B Việt Nam, B tỉnh KG B huyện AB stiền 289.017.233
đồng, chị không biết mang nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên,
tỉnh Kiên Giang. Nay chị không yêu cầu gì nên không xem xét.
[5] Đối với Danh Quốc V (Giám đốc), Huỳnh Thị Thu H (Phó Giám đốc
được phân công chuyên quản B-Văn hóa xã), Nguyễn Thị BS (Kế toán trưởng),
Nguyễn HV (Kế toán viên), Thị Hồng Ph (Kiểm soát viên) thuộc B huyện AB
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao không thực hiện đúng quy định của
Tổng công ty B Việt Nam, B tỉnh KG trong việc quản tài sản để cho Kiều
Ngọc H chiếm đoạt dấu hiệu thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng,
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Biên tiếp tục điều tra khi nào
căn cứ sẽ xử lý sau.
[6] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định khoản
2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 m 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 353, các điểm b, n, s khoản 1, khoản 2
Điều 51, khoản 1 Điều 54 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017. Tuyên bố bị cáo Kiều Ngọc H phạm tội tham ô tài sản.
Xphạt bị cáo Kiều Ngọc H 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính tngày bị
cáo đi vào chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự, bị cáo Kiều Ngọc H được người thân nộp thay 02
lần khắc phục xong số tiền đã chiếm đoạt là 299.017.233 đồng trả cho Tổng công
ty B Việt Nam, B tỉnh KG B huyện AB (Trong đó: ngày 10/02/2018 trả trực
tiếp B huyện AB nhận 10.000.000 đồng số tiền 289.017.233 đồng nộp tại Chi
cục Thi hành án dân sự huyện An Biên theo biên lai thu tiền số: 0003304 ngày 26
tháng 10 năm 2021). Nay người đại diện hợp pháp Tổng công ty B Việt Nam, B
10/BA-HSST
tỉnh KG B huyện AB không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không
xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị BS tự xác định, chị
nhận số tiền người thân của bị cáo Kiều Ngọc H nộp khắc phục hậu quả trả
cho Tổng công ty B Việt Nam, B tỉnh KG B huyện AB stiền 289.017.233
đồng, chị không biết mang nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên,
tỉnh Kiên Giang. Nay chị không yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự điểm a
khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án. Buộc bcáo Kiều Ngọc H phải chịu án phí hình sự thẩm
200.000 đồng.
Về báo quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án 21/3/2023.
Nơi nhận:
- VKSND huyện AB, tỉnh Kiên Giang;
- TAND tỉnh Kiên Giang;
- Cơ quan THAHS huyện AB;
- Chi cục THADS huyện AB;
- Bị cáo, bị hại và người có quyn lợi, nghĩa
v liên quan;
- Sở Tư Pháp tỉnh Kiên Giang;
- Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (Kiều).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Văn Thảo
Tải về
Bản án 09/2023/HS-ST Kiên Giang Bản án 09/2023/HS-ST Kiên Giang

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 09/2023/HS-ST Kiên Giang Bản án 09/2023/HS-ST Kiên Giang

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất