Bản án số 08/2026/LĐ-ST ngày 05/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2026/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2026/LĐ-ST ngày 05/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng về tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 08/2026/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/03/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Công ty TNHH M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 4 -ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 08/2026/LĐ - ST
Ngày: 05-03-2026
V/v “Tranh chấp tuyên bố
hợp đồng lao động vô hiệu”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Thi Thi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ
Ông Nguyễn Công Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Bà Lương Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng
đã xét xử công khai vụ án lao động thụ lý số 16/2025/TLST-ngày 26/12/2025 về
việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động hiệu” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 16/2026/QĐXXST–LĐ ngày 13 tháng 02 năm 2026 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; Nơi cư trú: TF phường H,
TP Đà Nẵng
Đại diện theo ủy quyền: Ông Xuân T, sinh năm 1992; Địa chỉ liên hệ: C
T, TP Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH M; Trụ sở: Lô A đường số C KCN H, phường L, TP
Đà Nẵng. Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Thị P, sinh năm 1994; Nơi trú: Thôn A, phường H, TP Đà
Nẵng. Có đơn xin vắng mặt.
2/ Bảo hiểm xã hội cơ sở T, TP Đà Nẵng; Địa chỉ: Số B N, phường T, TP Đà
Nẵng. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa,
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H là ông Lê Xuân T trình
bày:
Bà (Nguyễn Thị H) và bà Nguyễn Thị P là hai chị em ruột, tháng 08 năm 2011
do gia đình bà H tại thời điểm đó khó khăn, P thì không có việc làm nhưng lại chưa
đủ tuổi, là chị em ruột nên bà H cho bà P mượn giấy tờ tùy thân là chứng minh nhân
2
dân để bà P xin việc làm, khi giấy tờ của H P đã được Công ty TNHH M
hợp đồng lao động và làm công nhân tại đây.
Do hạn chế hiểu biết về pháp luật, nên lúc đó H cũng không suy nghĩ gì, bà H
đi làm tại Công ty M1 và tham gia đóng bảo hiểm bắt buộc với số BHXH:
4810009404. Sau đó H phát hiện ra tại thời điểm tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm
2012 bà Nguyễn Thị P cũng đóng bảo hiểm lấy tên bà H tại Công ty TNHH M.
Như vậy Công ty TNHH M đã đóng bảo hiểm bắt buộc cho bà Nguyễn Thị P
01 năm ttháng 08 năm 2011 đến tháng 7 năm 2012 với số số BHXH: 4811042005
Do vậy Công ty TNHH M nơi bà Nguyễn Thị P làm việc và Công ty M1 nơi bà
Nguyễn Thị H làm việc đều tham gia đóng BHXH bắt buộc cho bà (Nguyễn Thị H) tại
quan BHXH, sự việc này dẫn đến H 02 sổ BHXH: số: 4811042005
4810009404
Chính vì lý do nêu trên nên bà H không thể làm hồ sơ để hưởng chế độ một lần
tại cơ quan BHXH
Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của bà H bị ảnh hưởng nên bà H làm đơn
này đề nghị Tòa án các vấn đề sau:
Tuyên hợp đồng lao động đã tháng 8 năm 2011 giữa Nguyễn Thị H với
Công ty TNHH M trong khoảng thời gian tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2012
vô hiệu do không đúng người lao động tham gia kết hợp đồng lao động. Người
lao động trực tiếp tham gia lao động là bà Nguyễn Thị P trong khi hợp đồng lao động
mang tên bà Nguyễn Thị H.
Về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động hiệu chúng H không
yêu cầu.
* Qúa trình tham gia tố tụng, bị đơn Công ty TNHH M trình bày:
Công ty đã tiến hành kiểm tra thông tin bà Nguyễn Thị H nộp hồ để làm
việc tại Công ty TNHH M với thông tin sau:
Họ tên: Nguyễn Thị H; Ngày sinh: 10/04/1991; Số CMND: 201605901.
Quá trình bà H làm việc tại công ty:
- Mã số nhân viên 35737
- Ngày vào công ty: 05/07/2011
- Ngày ký hợp đồng lao động chính thức: 12/08/2011
- Ngày nghỉ việc: 11/08/2012
- Tham gia bảo hiểm hội với số sổ 4811042005 từ tháng 08/2011 đến tháng
07/2012 (12 tháng)
Công ty thực hiện việc tuyển dụng bà H theo đúng quy định của pháp luật và
quy trình tuyển dụng của Công ty. Trong thời gian bà H làm việc tại Công ty, Công
ty đã thực hiện đóng BHXH theo quy định của Luật BHXH. Và khi bà H nghỉ việc,
công ty đã giải quyết đầy đủ các chế đcho người lao động theo quy định pháp luật.
Công ty không hề biết việc bà Nguyễn Thị P mượn chứng minh nhân dân của bà H
để đến giao kết hợp đồng lao động với công ty, nhân danh bà H để kết làm
việc tại Công ty TNHH M. Nên đối với yêu cầu của H "Yêu cầu tuyên bố Hợp
đồng vô hiệu", Công ty sẽ tuân theo phán quyết của quý Tòa và không có ý kiến gì
về vụ việc này. Tuy nhiên vì bà H đã kết thúc hợp đồng lao động tại công ty đã u
3
(trên 5 năm) nên hồ sơ và hợp đồng giấy không còn lưu trữ.
* Qúa trình tham gia tố tụng, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị P trình bày:
Nguyễn ThP B (Nguyễn Thị H) hai chị em ruột, tháng 08 năm 2011
do gia đình khó khăn, P thì không có việc làm nhưng lại chưa đủ tuổi, chị em ruột
nên bà H cho bà P mượn giấy tờ tùy thân là chứng minh nhân dân để xin việc làm,
khi có giấy tờ của bà H thì bà P được Công ty TNHH M ký hợp đồng lao động và làm
công nhân tại đây.
Như vậy Công ty TNHH M đã đóng bảo hiểm bắt buộc cho bà P 01 năm từ
tháng 08 năm 2011 đến tháng 7 năm 2012 với mã số số BHXH: 4811042005
Do vậy Công ty TNHH M nơi bà P làm việc và Công ty M1 nơi bà Nguyễn Thị
H làm việc đều tham gia đóng BHXH bắt buộc cho (Nguyễn Thị H) tại quan
BHXH, sự việc này dẫn đến H 02 sổ BHXH: số: 4811042005 4810009404
Nay Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án: Tuyên hợp đồng lao động giữa bà H tại
thời điểm tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2012 với Công ty TNHH M hiệu do
không đúng người lao động, bà P đồng ý và không có ý kiến gì. Về việc giải quyết hậu
quả của hợp động lao động bà P không yêu cầu.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở T2 trình
bày:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1991, CCCD: 048191008346, có các mã:
- số BHXH 4810009404 quá trình tham gia BHXH, Bảo hiểm thất
nghiệp (BHTN) tại Công ty TNHH Đ từ tháng 06/2010 đến tháng 07/2010;
- số BHXH 4811042005 có quá trình tham gia BHXH, BHTN tại ng ty
TNHH M từ tháng 08/2011 đến tháng 07/2012;
Ngày 17/03/2021, BHXH thành phố Đ đã thực hiện gộp quá trình tham gia
BHXH, BHTN từ mã số BHXH 4811042005 vào mã số BHXH 4810009404. Ngày
02/02/2023, Sở Lao động Thương binh hội Thành phố Đ (cũ) ban hành Quyết
định số 1254/QĐ-SLĐTBXH về việc Hưởng trợ cấp BHTN cho Nguyễn Thị H
đối với mã số BHXH 4810009404. Thời gian được hưởng BHTN từ tháng 06/2010
đến tháng 11/2022.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án,
Thư phiên tòa trong qtrình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ cho đến trước thời
điểm Hội đồng xét xử nghị án: Qtrình Tòa án thụ giải quyết cũng như tại phiên
tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng
trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự
được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Quá trình Tòa án thụ giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn,
bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thực hiện các quyền và nghĩa
4
vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm
nay, bị đơn những người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều đã đơn xin
xét xử vắng mặt, do đó đề nghị HĐXX xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này.
- Về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H: tuyên bố hợp đồng lao động giữa
Nguyễn Thị H và Công ty TNHH M trong khoảng thời gian từ tháng tháng 08/2011
đến tháng 07/2012 hiệu do không đúng người lao động tham gia kết hợp
đồng lao động, người lao động trực tiếp tham gia lao động là bà Nguyễn Thị P. Các
đương sự trong vụ án không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu nên
không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hvụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V th tc t tng:
[1.1] V thm quyn gii quyết: Tranh chp v lao động giữa nguyên đơn bà
Nguyn Th H Công ty TNHH M thuc thm quyn gii quyết ca Tòa án nhân
dân Khu vc 4 - Đà Nẵng theo quy định tại Điều 32, Điều 35 Điều 39 ca B lut
t tng dân s.
[1.2] B đơn Công ty TNHH M người quyn lợi và nghĩa v liên quan
Nguyn Th P Bo him xã hội TP Đà Nẵng đều đã có đơn đề ngh xét x
vng mt. vậy, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 ca B lut t tng dân s, Hi
đồng xét x x vng mt b đơn và người có quyn lợi nghĩa vụ liên quan.
[1.3] V th tc hòa gii tranh chấp lao động cá nhân trước khi khi kin:
Bà Nguyn Th H đã nộp đơn yêu cầu hòa giải đến S Ni v, thành ph Đà
Nẵng để yêu cu hòa gii. Tại Công văn số 641/SNV-LĐVL ngày 24/12/2025 ca
S N cho rằng đối vi việc người lao động mượn h sơ của người khác trường
hp hợp đồng lao động vô hiu toàn b và thuc thm quyn gii quyết ca Tòa án.
V lut áp dng: Các bên tranh chp hợp đồng lao động trong khong thi
gian t tháng 08/2011 đến tháng 07/2012 nên B luật Lao động được áp dụng đ
gii quyết tranh chp là .
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H yêu cầu tuyên bố đồng lao động đã ký giữa bà
với Công ty TNHH M trong khoảng thời gian tháng 08/2011 đến tháng 07/2012 là
hiệu do không đúng người lao động tham gia kết hợp đồng lao động. Người
lao động trực tiếp tham gia lao động Nguyễn Thị P trong khi hợp đồng lao động
mang tên bà Nguyễn Thị H.
Về hợp đồng lao động: Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị P Công ty TNHH
M đều xác nhận giữa bà P và Công ty TNHH M có ký hợp đồng lao động xác định
thời hạn mang tên H nhưng thời gian đã lâu, P đã làm thất lạc hợp đồng, Công
ty TNHH M ng thừa nhận hiện tại, do thời gian ký kết hợp đồng từ năm 2011 đã
quá lâu, Công ty đã tiêu hủy hồ sơ trên 15 năm nên hiện tại không còn lưu trữ.
Căn cứ vào Công văn số 31/BHXH-QLT đề ngày 14/01/2026 của Bảo hiểm
5
xã hội cơ sở T2 cung cấp thì xác định bà Nguyễn Thị H, số BHXH 4811042005 có
quá trình tham gia BHXH, BHTN tại ng ty TNHH M từ tháng 08/2011 đến tháng
07/2012.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào lời khai của đương sự, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ,
có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian tháng 08/2011 đến tháng 07/2012, bà
Nguyễn Thị P đã mượn giấy tờ tùy thân của bà Nguyễn Thị H để hợp đồng lao
động và trực tiếp tham gia lao động tại Công ty TNHH M đóng bảo hiểm xã hội
đây. Trong thời gian này, Nguyễn Thị H đi làm tại Công ty M1 tham gia
đóng bảo hiểm bắt buộc với mã số BHXH: 4810009404.
Như vậy, trong khoảng thời gian tháng 08/2011 đến tháng 07/2012,
Nguyễn Thị H cùng lúc tham gia bảo hiểm xã hội tại 02 doanh nghiệp. Do đó có cơ
sở xác định H không trực tiếp tham gia lao động tại Công ty TNHH M, việc
Nguyễn Thị P hợp đồng lao động với Công ty TNHH M nhưng với tên Nguyễn
Thị H vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật lao động nên có đủ
căn cứ xác định hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H (thực chất người lao động
là bà Nguyễn Thị P) và Công ty TNHH M là không có hiệu lực.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
Nguyễn Thị H, tuyên bố hợp đồng lao động giữa Nguyễn Thị H (thực chất
người lao động là bà Nguyễn Thị P) và Công ty TNHH M trong khoảng thời gian từ
tháng 08/2011 đến tháng 07/2012 hiệu do không đúng người lao động tham
gia ký kết hợp đồng lao động.
Về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu, các đương sự trong vụ án không
yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[3] Về án phí lao động thẩm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty TNHH M phải chịu án
phí 300.000 đồng nhưng Nguyễn Thị H tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xchấp
nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 127, Điều 147, Điều 227, Điều 228
Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 15, điều 16 khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật lao động năm
1994; Điều 51 Bộ luật lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H về việc “Tranh
chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
6
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H Công ty TNHH M
trong khoảng thời gian 08/2011 đến tháng 07/2012 là vô hiệu do không đúng người
lao động tham gia ký kết hợp đồng lao động.
- Về hậu quả của hợp đồng lao động hiệu: Các đương sự trong vụ án không
yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí lao động sơ thẩm:
Nguyễn Thị H tự nguyện chịu án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng,
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0007743 ngày 26/12/2025 của Thi hành án dân sự TP Đà Nẵng. Nguyễn Thị H
đã nộp đủ án phí lao động sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án; Bị đơn, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết
theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND khu vực 4-ĐN;
- Phòng THADS khu vực 4-ĐN;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Nguyễn Thi Thi
Tải về
Bản án số 08/2026/LĐ-ST Bản án số 08/2026/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/LĐ-ST Bản án số 08/2026/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất