Bản án số 08/2022/HS-PT ngày 22/03/2022 của TAND tỉnh Hà Nam về tội tham ô tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2022/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 08/2022/HS-PT ngày 22/03/2022 của TAND tỉnh Hà Nam về tội tham ô tài sản
Tội danh: 353.Tội tham ô tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hà Nam
Số hiệu: 08/2022/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/03/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Hoàng Văn K tội tham ô tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 08/2022/HS-PT
Ngày: 22 - 3 - 2022.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Hùng Long và Nguyn Thị Mai Hương.
- Thư phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam tham gia phiên toà:
Lê Thị Thu Thủy - Kim sát viên.
Ngày 22 tháng 3 m 2022, tại trsTòa án nhân n tỉnh Nam xét xử
thm ng khai vụ án hình sự phúc thâ
̉
m thụ số 10/2022/TLPT-HS ngày 08
tháng 02 m 2022, đối với bị cáo Hoàng Văn K; do kháng cáo của bị cáo đối
với bản án hình sự thẩm số 104/2021/HS-ST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân
dân huyn Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- B cáo kháng cáo: Hoàng n K, sinh năm 1982; i trú: Số nhà
134, Khu 1, phường N, thành phố H, tỉnh H; nghề nghiệp: nhân viên ng ty Cổ
phần Lilama 69-3; trình đvăn hoá: 12/12; n tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:
không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ Nguyễn Thị M; vợ
Trần Thị P và 02 con, con lớn sinh m 2007, con nhỏ sinh m 2012; tiền án, tiền
sự: không. Bị o bị tạm giữ từ ngày 01/7/2021 đến ngày 10/7/2021 chuyển tạm
giam, hiện đang btạm giam tại Trại tạm giam ng an tỉnh Nam; mặt tại
phiên toà.
- Bị hại: Công ty Cphần L; địa chỉ: Số 515, đường Điện Biên Phủ, png
B, thành phH, tỉnh H; người đại din theo pháp lut: ông Cao Viết C - chức vụ:
Tổng Gm đốc; người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Quốc K - chc vụ: Phó
Tổng giám đốc; mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. NCQLNVLQ1 - sinh năm 1979; i trú: thôn C, H, huyện S, Thành
phố H; vng mặt.
2. NCQLNVLQ2 - sinh năm 1993; i trú: m Đ, B, thành phố S,
tỉnh T; vng mặt.
3. NCQLNVLQ3 - sinh năm 1975; nơi trú: S nhà 540, t dân phố T,
phường L, thành phố S, tỉnh T; vắng mặt.
4. NCQLNVLQ4 - sinh năm 1975; i cư trú: thôn Q, K, huyện K, tỉnh
H; vắng mặt.
5. NCQLNVLQ5 - sinh năm 1977; nơi cư trú: tn V, Q, huyện T, tỉnh
H; mặt.
6. NCQLNVLQ6 - sinh m 1970; nơi trú: thôn V, T, huyn V, thành
phố H; mặt.
7. NCQLNVLQ7 - sinh năm 1981; nơi trú: thôn N, Q, huyện T, tỉnh
H; mặt.
8. NCQLNVLQ8 - sinh m 1986; nơi trú: tổ dân phY, phường B, thị
xã N, tỉnh T; vắng mặt.
9. NCQLNVLQ9 - sinh m 1956; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh H;
vắng mặt.
10. NCQLNVLQ10 - sinh năm 1984; nơi trú: Khu 1, phường N, thành
phố H, tỉnh H; vng mặt.
11. NCQLNVLQ11; địa chỉ: Khu B, khu công nghiệp ng Công, phường
B, thành phS, tỉnh T; người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn n M - chức
vụ: Giám đốc; người đại din theo ủy quyn: Phan Thu D - chức vụ: Trợ
Tổng giám đốc NCQLNVLQ11; có đơn xin vng mặt.
12. NCQLNVLQ12 - sinh năm 1980; nơi trú: Tổ 3, phường L, thành phố
S, tỉnh T; vng mặt.
13. NCQLNVLQ13; địa chỉ: Tổ 5, phường G, thành phố T, tỉnh T; người đại
din theo pháp luật: ông Nguyễn Duy H - chức vụ: Giám đốc; vng mặt.
- Người làm chứng:
1. NLC1; vng mặt.
2. NLC2; vng mặt.
3. NLC3; vắng mt.
4. NLC4; vng mặt.
5. NLC5; vng mặt.
6. NLC6; vng mặt.
7. NLC7; vng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v
án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần L (sau đây gọi tắt Công ty L) công ty cổ phần theo
Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp công ty cổ phần ngày 25/5/2007 của Sở
Kế hoạch Đầu tư tỉnh Hải Dương, đăng thay đổi lần thứ 6 ngày 07/5/2018.
Ngày 29/11/2019, ng ty Li kết Hợp đồng kinh tế số 291119/XT-Lilama 69-3
với ng ty Cổ phần xi ng Xuân Thành (sau đây gọi tắt là Công ty Xuân
Thành) về việc gia ng, chế tạo lắp đặt hoàn thiện thiết b khí, kết cấu thép,
phần điện, vật liệu chịu lửa cho dự án xi ng Xuân Thành 3 đặt tại nhà máy xi
măng Xuân Thành có địa chỉ tại thôn Bồng Lạng, Thanh Nghị, huyện Thanh
Liêm, tỉnh Hà Nam. Ngày 26/12/2019, Công ty Lilama ra quyết định thành lập Ban
dự án xi ng Xuân Thành 3 (gọi tắt là Dự án Xuân Thành 3) phân công trách
nhim các bộ phận thi công, lắp đặt. Trong đó, bộ phận vật trách nhim nhận
thiết bị gia công, chế tạo ca các đơn vị chế tạo giao tại ng trường và làm thủ tục
bàn giao li cho chủ đầu tư; m thủ tục nhận thiết b, vật tư của chủ đầu cấp
cho đơn vị lắp đặt theo yêu cầu của đơn vị lắp đặt; quyết toán thiết bị, vật tư lắp đặt
đã giao nhận với các đơn vị lắp đặt chủ đầu tư. Để thuận tin cho công tác quản
ng tác thi ng, lắp đặt, ngày 30/5/2020 Công ty Xuân Thành Công ty
Lilama họp thống nhất nội dung: Để thuận tiện cho công tác quản hàng gia
công chế tạo khi đã chuyển vào công trưng và công c lắp đặt sau này, hai bên
thống nhất n sau: sau khi LILAMA 69-3 bàn giao hàng gia công chế tạo cho
XMXT, XMXT sẽ bàn giao lại ngay cho LILAMA 69-3 để vận chuyển về bãi tập kết
trong công trường quản và thực hiện công tác lắp đặt”. Theo đó, vật , thiết bị
phục v thi công d án đều đưc chuyển về tập kết tại c bãi vật của Công ty
Lilama đặt trong Công ty Xuân Thành để Công ty Lilama quản lý và thi công lắp đặt.
Hoàng n K nhân viên hợp đồng (hợp đồng không xác định thời hạn
ngày 01/01/2018) ca Công ty Lilama. Ông Nguyễn Quốc K - Phó Tổng giám đốc
Công ty Lilama được ng ty Lilama giao kiêm nhiệm chức vụ Giám đốc Ban d
án xi măng Xuân Thành 3; NCQLNVLQ4 nhân viên Công ty Lilama được điều
động đến Ban dự án xi măng Xuân Thành 3, gichức vụ Trưởng Bộ phận vật tư
của dự án; Hoàng Văn K được điều động đến Ban dán xi măng Xuân Thành 3 kể
từ ngày 01/6/2020. Theo sơ đồ tổ chức Quy định số 01-2020/DAXMXT
III/LILAMA 69-3 ngày 01/6/2021 của Ban dự án, danh sách phân công nhiệm vụ
ngày 18/6/2020 ca Giám đốc Ban dự án thì Hoàng n K là nhân viên thuộc B
phận vật tư, nhiệm vụ thực hiện ng tác vật tư theo sphân ng ca Trưởng
Bộ phận. Trên thực tế, NCQLNVLQ4 và K đã thống nhất, phân ng nhim vụ:
trong các ngày nghỉ tK NCQLNVLQ4 luân phiên trực Bộ phận vật tư, ca
trực của ai t người đó chịu trách nhiệm quản lý, toàn quyền xuất, nhập vật tư,
thiết bị. Việc xuất, nhập vật tư trong ca trực của K không cần thông báo qua
NCQLNVLQ4, việc y đã được lãnh đạo Ban dán nhất trí thông qua bằng li
nói. Ngày 15/6/2020, Công ty Lilama nhập hàng tấm lót phu đá vôi (ký hiệu
111.FY 050) các tấm tôn thép độ y 2,5 cm, đã được cắt thành nhiều hình
dạng, bề mặt mỗi tấm đều được đục các lỗ tròn đường kính 03cm (mác vật liu
ASTM A36), tổng khối lượng 22.860kg từ Công ty Cổ phần Lilama 69-1 để thi
công lắp đặt tại Dự án Xuân Thành 3 bàn giao cho ng ty Xuân Thành, theo
như thỏa thuận thống nhất ttrước giữa 02 công ty. ng ty Xuân Thành đã giao
lô hàng trên cho ng ty Lilama tập kết tại Bãi vật tư s1 của Công ty Lilama đặt
y chuyn 2 nhà máy xi ng Xuân Thành, để Công ty Lilama quản lý, thi
công lắp ráp.
Ngày 24/01/2021, Hoàng Văn K trực tại Bphận vật tư Dự án Xuân Thành
3. Khoảng 08 giờ cùng ngày, K liên lạc với NCQLNVLQ5 đ điu động
NCQLNVLQ5 cùng tổ máy cẩu gồm c NCQLNVLQ8, NCQLNVLQ6,
NCQLNVLQ7 công nhân móc cáp đến i vật tư số 1 để dọn dẹp. Tại đây, K
thông báo cho trực bảo vệ tại Bãi vật tư số 1 NCQLNVLQ9 để cho nhóm cẩu
dọn dẹp, rồi chỉ đạo cẩu 01 kiện hàng xếp trên kin hàng ký hiệu 111.FY 050 đặt
sang bên cạnh. Khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi cẩu xong, Kiên nhóm
cẩu đang ngồi nghỉ, uống nước thì NLC4 người làm nhiệm vụ quản lý xe máy
cẩu tại Ban dự án đi đến. Thấy K và nhóm công nhân đã cẩu xong, thì NLC4 u
cầu NCQLNVLQ8 đưa máy cẩu về công trường để phục vụ công việc, còn K
các NCQLNVLQ5, NCQLNVLQ7, NCQLNVLQ6 v khu tập thể của Công ty
Lilama nghỉ ngơi.
Khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô BKS 99H4-2226 đi ra
quán nước cạnh y ng Dầu k Ninh Bình, chi nhánh Nam ngã tư Xn
Thành, thuộc địa phận thôn Phú Gia, Thanh Nguyên, huyện Thanh Liêm để hỏi
xe khách về thành phố Hi Dương. Tại đây, K ngồi cạnh NCQLNVLQ1 người
đi thu mua sắt phế liệu, đi cùng NCQLNVLQ1 NCQLNVLQ3 đang nằm ngh
trên võng. Khi thấy NCQLNVLQ1 nói chuyện qua điện thoại về việc thu mua sắt
phế liu, thì Kiên ny sinh ý định lợi dụng việc quyền nhập, xuất vật tư trong ca
trực để bán các tấm tôn thép tại Bãi vật tư số 1 của Công ty Lilama lấy tiền chi tiêu
nhân. K bắt chuyn hỏi NCQLNVLQ1: “anh phải bên thu mua phế liệu
hay không?, NCQLNVLQ1 trả li: “vâng, đúng rồi”, K hỏi tiếp: “thế anh
mua sắt phế liệu bên trong công trường xi măng Xuân Thành không?”,
NCQLNVLQ1 hỏi lại: loại sắt gì?”, K nói: “tấm tôn thừa, khoảng 22 tấn”,
NCQLNVLQ1 hỏi tiếp: “thế hình ảnh không?”, K trả lời: “không”, thì
NCQLNVLQ1 bảo: “cũng không sao. Sau đó, K lại hỏi: “giá sắt vụn bao
nhiêu?”, NCQLNVLQ1 trả li: “8.500 đồng/kg”, t K đồng ý n cho
NCQLNVLQ1 nói: “không xe, chỉ hộ cẩu công nhân bốc hàng”,
NCQLNVLQ1 nói: “thế cũng được, để anh gọi xe”. Sau đó, thông qua mạng
Facebook, NCQLNVLQ1 đã liên hệ trao đổi, thỏa thuận thuê xe của
NCQLNVLQ2 để vận chuyn tôn thép từ Công ty Xuân Thành về thành phố Sông
Công với giá cước 5.000.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, NCQLNVLQ2
là i xe của NCQLNVLQ13, điều khiển xe ô tải BKS 20C-095.40 của Công ty
đến khu vực quán nước địa phận thôn P Gia, xã Thanh Nguyên, huyện Thanh
Liêm, t K NCQLNVLQ1 chỉ dẫn NCQLNVLQ2 điu khin xe ô đến n
khối lượng xe tại trạm n của y ng dầu kNinh Bình, chi nhánh Nam
thôn P Gia, Thanh Nguyên, huyn Thanh Liêm. Cân xe xong, Kiên điều
khin xe BKS 99 H4-2226 đi trước dẫn đường cho NCQLNVLQ2 điều
khin xe ô BKS 20C-095.40 đi vào trong ng ty Xuân Thành qua cổng số 2.
Tại đây, K báo vi NLC1 NLC2 là nhân viên bảo vca Công ty Xuân Thành
với ni dung trả ng cho Lilama”, t anh Dương m chn bảo vệ cho
NCQLNVLQ2 điều khiển xe ô đi vào nhà máy Xuân Thành. Sau đó, K gọi điện
thoại bảo NCQLNVLQ5 điều động nhóm cẩu lúc sáng đến Bãi vật tư số 1 để tiếp
tục cẩu ng sẽ được trả công, t NCQLNVLQ5 đồng ý. K tiếp tc chỉ dẫn cho
NCQLNVLQ2 điều khiển xe ô tải đến Bãi vật số 1 ca Công ty Lilama trong
nhà máy xi măng Xuân Thành đỗ đường cạnh Bãi vật tư số 1. Khi
NCQLNVLQ5, anh NCQLNVLQ7, anh NCQLNVLQ6 và NCQLNVLQ8 điều
khin y cẩu đến, thì K ngồi lên vị trí trước cabin máy cẩu chỉ đạo
NCQLNVLQ5, anh NCQLNVLQ7, anh NCQLNVLQ6 móc cáp, còn
NCQLNVLQ8 vận nh cẩu, lần lượt cẩu 11 tấm tôn thép mác ASTM A36 ca
hàng ký hiệu 111.FY050 lên xe ô tải BKS 20C-095.40 của NCQLNVLQ2. Quá
trình cầu hàng t NCQLNVLQ2 chụp lại hình nh các tấm thép gửi cho
NCQLNVLQ1 qua ứng dụng Zalo theo như lời dặn của NCQLNVLQ1. Đến
khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi cẩu xong 11 tấm tôn thép lên xe, nhóm cẩu đi về
khu tập thể; Kiên điều khiển xe đi ra cổng số 2 trước, NCQLNVLQ2 điều
khin xe chtôn thép đi ra sau. Khi ra đến cổng, K chuẩn b làm thủ tục cho xe ô
ca NCQLNVLQ2 qua cổng, tthấy bảo vệ ca ng ty Xuân Thành kiểm tra
cho xe qua cổng, nên K điều khiển xe mô đi v khu tập thể, còn
NCQLNVLQ2 đưa xe ô tải đến trạm cân thôn Phú Gia, Thanh Nguyên,
huyện Thanh Liêm như đã thống nhất ttrước với NCQLNVLQ1. Khi về đến khu
tập thể, K đưa 2.000.000 đồng tiền bồi ỡng nhóm thcẩu cho NCQLNVLQ5,
rồi thay quần áo, thuê xe ôm đèo ra trạm n và cùng NCQLNVLQ1,
NCQLNVLQ2 tiến hành cho n xe. Sau khi đối trừ khối lượng xe xác định khối
lượng tôn thép 22.730kg, cả ba người quay li khu vực quán nước. Tại đây,
NCQLNVLQ1 xem phiếu n rồi trả cho Kiên 193.000.000 đồng. Sau khi nhn
tin, Kiên đi ra cửa quán nước trả 30.000.000 đồng cho 01 người đàn ông theo K
khai n Qtỉnh Hưng n (Kiên không biết địa chỉ cthể) thông qua 01 nam
thanh niên, do Kiên đã vay số tin trên ca Quý ttháng 02/2020, rồi bắt xe khách
về nhà tại thành phố Hải Dương. Số tiền bán tôn thép còn lại, Kiên đã chi tiêu
nhân hết. Còn NCQLNVLQ1, sau khi trả tiền cho K đã bảo NCQLNVLQ3 đi cùng
xe ô với NCQLNVLQ2 để chở số tôn thép đến bán cho NCQLNVLQ11 (sau
đây viết tắt NCQLNVLQ11). NCQLNVLQ3 đã liên hệ bán cho NCQLNVLQ11
thông qua NCQLNVLQ12, rồi lên xe ô tải BKS 20C-095.40 đi cùng
NCQLNVLQ2 về NCQLNVLQ11; còn NCQLNVLQ1 một mình điều khiển xe ô
đi về nhà. Đến i, NCQLNVLQ3 trả cho NCQLNVLQ2 5.000.000 đồng tiền
cước vận chuyển. Song do đã muộn, nên NCQLNVLQ2 để lại toàn bộ sn thép
trên xe ô NCQLNVLQ11, rồi đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ ngày 25/01/2021,
NCQLNVLQ2 quay li NCQLNVLQ11, thì nhân viên ng ty kiểm tra hàng hóa,
chỉ dẫn cho NCQLNVLQ2 điều khin xe đi n tại trạm n của công ty, xác định
khối lượng tôn thép trên là 22.670kg. Sau đó, công nhân công ty vận chuyển stôn
thép trên vào kho, còn NCQLNVLQ2 điều xe ô BKS 20C-095.40 đi về đưa
phiếu n cho NCQLNVLQ3. Sau đó, bộ phận kế tn của NCQLNVLQ11 chi số
tin 272.040.000 đồng cho NCQLNVLQ12 để chị ng trả số tin mua n thép
nêu trên cho NCQLNVLQ3, rồi NCQLNVLQ3 đã trả cho NCQLNVLQ1.
Đến cuối tháng 4 m 2021, Công ty L phát hiện bị mất số n thép nêu trên,
nên đã trình o quan chức ng giải quyết. quan CSĐT - ng an huyện
Thanh Liêm đã tiến hành điều tra, khám nghim hin trường và thu giữ vật chứng,
gồm: 11 tấm n thép độ dày 2,5cm, các kích thước khác nhau, trên bề mặt
đều có c lỗ tròn đường kính 03cm tại kho của NCQLNVLQ11; 01 xe mô tô nhãn
hiu MAGIC, biển kiểm soát 99H4-2226 m theo đăng xe do NCQLNVLQ4
tự nguyn giao nộp; số tiền 193.000.000 đồng do NCQLNVLQ10 (vợ bị cáo
Hoàng Văn K) tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả theo tác động của K.
Tại bản Kết NCQLNVLQ7 định giá i sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày
02/7/2021 của Hội đồng định giá i sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Liêm
kết NCQLNVLQ7: Giá trị của 11 tấm tôn thép thường mác vật liệu ASTM
A36 do Trung Quốc sản xuất độ dầy 2,5cm các lỗ tròn đường kính 3cm . . .
tổng trọng lượng ca 11 tấm n thép trên 22.670kg tại thời điểm ngày
24/01/2021 430.730.000 đồng (gnguyên vật liệu bao gồm công vận chuyển)
(bốn trăm ba mươi triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng)”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2021/HS-ST ngày 30/12/2021, Tòa án nhân
dân huyn Thanh Liêm, tỉnh Nam đã áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; đim
b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Điều 47 ca Bộ luật Hình sự, tuyên bố:
bị cáo Hoàng n K phạm tội Tham ô tài sản”. Xử phạt bcáo Hoàng n K 07
(bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là 01/7/2021.
Ngoài ra án thẩm n tuyên về xử vật chứng, án phí quyền kháng
cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 07/01/2022 b cáo Hoàng Văn K đơn kháng cáo xin gim nhhình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Vin kiểm sát nhân n tỉnh Nam đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp
nhận kháng cáo xin gim nhẹ hình phạt của bị cáo Hng Văn K, sửa một phần bản
án hình sự sơ thm số 104/2021/HS-ST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân n
huyện Thanh Liêm, tỉnh Nam về phần hình phạt. Giảm nhẹ hình phạt cho b
cáo từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tham ô tài sản”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tu
̣
ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đnh như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo HoàngVăn K trong thời hạn luật định, nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình snên Hội đồng xét
xử xem xét, gii quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà b cáo Hng n K đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù
hợp với biên bản khám nghiệm hin trường, lời khai của b hại, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người m chứng, vật chứng đã thu giữ các i
liu, chứng c khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ sở để kết
NCQLNVLQ7: Hoàng Văn K là nhân viên của ng ty Cổ phần Lilama 69-3,
được giao nhiệm vụ làm việc tại Bộ phận vật thuộc Ban dự án xi măng Xuân
Thành 3. Khoảng 13 giờ 30 phNCQLNVLQ6 ngày 24/01/2021, lợi dụng nhiệm v
được giao toàn quyền xuất, nhập vật tư, thiết bị trong ca trực ca mình; Kiên đã
tự ý chiếm đoạt 11 tấm n thép mác ASTM A36 có tổng khối lượng 22.670kg, tr
giá 430.730.000 đồng ca ng ty Cổ phần Lilama 69-3, n cho NCQLNVLQ1
với số tin 193.000.000 đồng để trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Hành vi nêu trên ca b cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội Tham ô
tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 ca Bộ luật Hình sđúng
người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy:
Quá trình điu tra và tại phiên tòa thm, phúc thẩm, b cáo đều thành khẩn
khai báo, tỏ thái độ ăn năn hi cải; đã tự nguyện khắc phục hậu quả; bị cáo
hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến,
bản thân bị cáo bị suy giảm khả năng lao động 31% do tai nạn lao động, đang được
hưởng trợ cấp hàng tháng; cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định
tại đim b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình s đối với bị cáo là có căn
cứ. Tuy nhiên xét thấy quá trình xét xử phúc thm b hại là Công ty Cổ phần L tiếp
tục đơn xin gim nhhình phạt cho bcáo, gia đình bcáo xuất trình n cứ b
bị cáo được tặng tng Huân chương chiếnng hạng ba đây là tình tiết gim nhẹ
mi quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ lut hình sự. Xét bị cáo phạm tội lần đầu, sau
khi phạm tội đã khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội của mình y ra,
thhiện rõ thái độ thành khn, ăn n hối cải, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét
xử căn cáp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt đối với bị cáo để động viên bcáo cải tạo tốt sm được
trở về cùng gia đình, hội, thhiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đơn
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt ca bị cáo được cấp phúc thẩm chấp nhn.
[4] Về án p hình sphúc thẩm: Kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b
cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phình sự phúc
thm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
hiệu lc pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn c điểm b khoản 1 Điều 355; đim c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng
nh sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Văn K. Sửa
mt phần bản án thẩm số 104/2021/HS-ST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân
dân huyn Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 38, Điu 47, Điều 54 Bộ luật Hình s; Điu 106 va
̀
Điu 136 Bộ luật Ttụng
hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gim, thu, nộp, quản s
dụng án p và lệ p Tòa án.
Xử phạt b cáo Hoàng Văn K 05 (năm) m tù, thời hạn tính từ ngày tạm
giữ là 01/7/2021, về tội “Tham ô i sản”.
2. Án phình sự pc thẩm: Bị cáo Hoàngn K kng phải nộp.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
hiệu lc pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh.
Bản án phúc thmhiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnhNam;
- TAND huyện Thanh Liêm;
- Chi cục THA huyện Thanh Liêm;
- VKSND huyện Thanh Liêm;
- Công an huyện Thanh Liêm;
- Phòng NVHS Công an tỉnh Hà Nam;
- Trại Giam Công an tỉnh Hà Nam;
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Hà Nam;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
( Đã ký)
Trần Văn San
Tải về
Bản án 08/2022/HS-PT Hà Nam Bản án 08/2022/HS-PT Hà Nam

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 08/2022/HS-PT Hà Nam Bản án 08/2022/HS-PT Hà Nam

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất