Bản án số 08/2021/HS-ST ngày 19/02/2021 của TAND huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2021/HS-ST ngày 19/02/2021 của TAND huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh về tội đánh bạc
Tội danh: 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Trà Cú (TAND tỉnh Trà Vinh)
Số hiệu: 08/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/02/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ CÚ
TỈNH TRÀ VINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 08/2021/HS-ST
Ngày 19-02-2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thch Tn Thành
Bà Phước Th Kim Huê
- Thư phiên tòa: Kim Thị Hồng Hạnh Thư Tòa án nhân dân
huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia
phiên tòa: Ông Đỗ Thành Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh
Trà Vinh xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 01/2021/TLST-HS ngày
11 tháng 01 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố: 06/2021QĐXXST-
HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Trương Thị T, sinh năm 1954 tại Trà Vinh. Nơi trú ấp LTr, TH,
huyện TrC, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương
Văn D (chết) Trần Thị D (chết); chồng tên Trần Văn B, sinh năm 1940 01
người con; tiền án: không, tiền sự: 01 tiền sự vào ngày 28/5/2020 bị Công an xã TH,
huyện TrC xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
số 11/QĐ-XPHC với số tiền 1.500.000 đồng; nhân thân: xấu; bị khởi tố áp dụng
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú tngày 23/10/2020 cho đến nay,
mặt.
2. Hồ Thị H, sinh năm 1949 tại Trà Vinh. Nơi trú ấp BN, TH, huyện
TrC, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn L (chết)
Đặng Thị N (chết); chồng tên Phan Văn L, sinh năm 1945 và 08 người con;
tiền án: không, tiền sự: 01 tiền sự vào ngày 28/5/2020 bị Công an Tân Hiệp,
huyện Trà Cú xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính số 13/QĐ-XPHC với số tiền 1.000.000 đồng; nhân thân: xấu; bị khởi tố áp
dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú từ ngày 23/10/2020 cho đến nay,
có mặt.
2
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thị H: Bà Trần Thị H Trợ giúp viên pháp lý
của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Người làm chứng:
Ông Phan Văn B, sinh năm 1979. Nơi trú ấp Bến Nố, Tân Hiệp, huyện
Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
Châu Thị L, sinh năm 1964. Nơi trú ấp Bến Nố, xã Tân Hiệp, huyện
Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Cáo trạng số 06/CT-VKS-HS ngày 09 tháng 01 năm 2021
của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Trương
Thị T Hồ Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi các bị cáo bị truy tố như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 15/10/2020, bị cáo Hồ Thị H đi bộ từ nhà của mình
đến quán nước giải khát của con dâu tên Châu Thị L tại ấp BN, TH, huyện TrC,
tỉnh Trà Vinh đhỏi mượn tiền tiêu xài nhân. Sau khi mượn tiền của L được
100.000 đồng, bị cáo H lại quán ngồi chơi khoảng 15 phút sau thì trời bắt đầu
mưa. Lúc này, bị cáo Trương Thị T đang buôn bán hàng rong theo đường ông
Phan Văn B đang cắt cỏ ở gần đi vào quán bà L để trú mưa. Trong thời gian trú mưa
tại quán của L thì bị cáo T, bị cáo H ông B nhìn thấy trên giường của L
01 bộ bài tây 52 đã qua sử dụng nên cả ba người rủ nhau đánh bạc trái phép dưới
hình thức đánh bài ấn độ 06 thắng thua bằng tiền. Sau đó 03 người Ln giường
trong quán nhà L để chơi đánh bạc. Khi bắt đầu chơi đánh bạc, ông B người
trực tiếp làm nhà cái và quy định số tiền cá cược thấp nhất là 5.000 đồng và cao nhất
20.000 đồng, còn bị cáo T bị cáo H làm nhà con. Thời gian tham gia đánh bạc
từ 13 giờ 30 phút đến 14 giờ cùng ngày thì lượng Công an Tân Hiệp, huyện Trà
đến kiểm tra, phát hiện và mời tất cả về cơ quan Công an làm việc.
Tại cơ quan Công an bị cáo T, bị cáo H ông B đã thừa nhận toàn bộ hành vi
đánh bạc của mình. Qua điều tra đã xác định được như sau: Đối với ông Phan Văn B
sử dụng số tiền 300.000 đồng vào mục đích đánh bạc, với vai trò là nhà cái. Đến khi
lực lượng Công an vào kiểm tra thì ông B đã thắng được stiền 50.000 đồng.
Tổng cộng s tiền đánh bạc thu giữ của ông B 350.000 đồng. Đối với bị cáo
Trương Thị T sdụng số tiền 150.000 đồng vào mục đích đánh bạc, với vai trò
nhà con, khi lực lượng Công an vào kiểm tra thì bị cáo T đã thua số tiền 130.000
đồng, thu giữ của bị cáo T là 20.000 đồng. Đối với bị cáo Hồ Thị H sdụng số tiền
100.000 đồng vào mục đích đánh bạc, với vai trò nhà con. Đến khi lực lượng
Công an vào kiểm tra thì bị cáo H đã thắng được 80.000 đồng, thu giữ của bcáo H
là 180.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bị cáo T, bị cáo H ông B dùng để đánh bạc
550.000 đồng. Qua tài liệu trích tiền án, tiền sự thì các bị cáo Hồ Thị H Trương
Thị T đều có tiền sự vnh vi đánh bạc trái pp cụ thể: Ngày 28 tháng 5 năm 2020,
bị cáo H bị Công an xã T H, huyện TrC xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định
3
xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC với số tiền 1.000.000 đồng đã đóng
tiền phạt xong. Bcáo T bị Công an T H, huyện TrC xử phạt vi phạm nh chính
theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XPHC, với số tiền 1.500.000
đồng chưa chấp nh đóng phạt. Đến ngày 15/10/2020, các bị cáo H, T chưa được
xóa tiền sự mà còn tiếp tục hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi bài ấn
độ 06 thắng thua bằng tiền, mặc tổng số tiền dùng để đánh bạc dưới
5.000.000 đồng nhưng đã đ yếu t cấu thành ti “Đánh bạc được quy định tại
khoản 1 Điu 321 B luật nh s.
Ngày 24/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định tạm giữ đồ vật, tài
liệu gồm: Tin Vit Nam 200.000 đồng (trong đó của b o Tơng Thị T 20.000
đng, của bị o Hồ Thị H còn 180.000 đồng) 01 bộ bài tây 52 đã qua sdụng
từ ông Phan Văn B (bộ bài của nhà L).
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị T và Hồ Thị H lời khai thừa nhận vào
khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 15/10/2020 tại nhà Châu Thị L thuộc ấp BN, xã TH,
huyện TrC, tỉnh Trà Vinh bị cáo Trương Thị T Hồ Thị H tham gia đánh bạc
thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài ấn độ 06 với ông Phan Văn B đúng như
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Người làm chứng ông Phan Văn B lời khai vào khoảng 13 giờ 30 phút,
ngày 15/10/2020 tại nhà Châu Thị L, ông tham gia đánh bạc cùng các bị o
Tơng Thị T và Hồ ThH là có thật. Việc tham gia chơi đánh bạc dưới hình thức bài
ấn độ 06 nhưng không ai rủ ai chỉ tình cờ trú mưa gặp nhau cả ba người
cùng chơi, định hết mưa sẽ về nhưng sau đó bị công an kiểm tra phát hiện.
Người làm chứng Châu Thị L khai: ngày 15/10/2020 bị cáo H ợn
tiền 100.000 đồng, chứng kiến việc Công an T H bắt quả tang các bcáo
với ông B đánh bạc tại nhà của bà.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị
Hội đồng xét xử tuyên bố các bcáo Trương Thị T và Hồ Thị H phạm tội đánh bạc.
Về áp dụng pháp luật đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 17,
Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trường
Thị T cải tạo không giam giữ từ 06 tháng đến 12 tháng. Đề nghị áp dụng khoản 1
Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 17, Điều 36; điểm i, s, o, x khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H cải tạo không giam gitừ 06 tháng đến 09
tháng. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân TH, huyện TrC, tỉnh Trà Vinh giám
sát, giáo dục. Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự Điều 106
Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 đã qua sử dụng từ ông
Phan Văn B. Tịch thu số tiền tạm giữ của các bị cáo dùng đánh bạc nộp ngân sách
nhà nước.
Người bào chữa cho bị cáo H Thị H phát biểu: Thống nhất cáo trạng của
Viện kiểm sát đã truy tbị cáo Hồ Thị H về tội đánh bạc đúng. Thống nhất với
quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về việc cho bị cáo H hưởng các tình
tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s
và thống nhất quan điểm đề nghị xử phạt bị cáo H cải tạo không giam giữ.
Bị cáo Hồ Thị H thống nhất lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp mà không
4
ý kiến bổ sung. Bị cáo Trương Thị T không tự bào chữa.
Các bị cáo không nói lời nói sau cùng;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tn snội dung vụ án, n cứ o c tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phn tòa, Hội đồng xét xnhận định như sau:
[1] Về hành vi đánh bạc trái phép: Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26
Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt
hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn hội; phòng, chống tệ nạn
hội, phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình thì hành vi đánh bạc
bằng hình thức bài ấn độ 06 ăn thua bằng tiền với nhau hành vi đánh bạc trái
phép bị nghiêm cấm. Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào
đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị
giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.0000 đồng nhưng
đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc
tội quy định tại điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích còn vi phạm,
thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam
giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo lời khai thống nhất vào khoảng 14 giờ 30
phút ngày 15/10/2020 tại nhà của Châu Thị L thuộc ấp BN, xã T H, huyện Tr C,
tỉnh Trà Vinh, bị cáo Trương Thị T bị cáo Hồ Thị H đã hành vi đánh bạc
thắng thua bằng tiền, dưới hình thức chơi bài ấn độ 06 lá với ông Phan Văn B. Tổng
số tiền bị cáo T, bị cáo H ông Phan Văn B chơi đánh bạc 550.000 đồng. Xét
lời khai nhận tội của bị cáo Trương Thị T và bị cáo Hồ Thị H tại phiên tòa là phù
hợp với nhau, phù hợp với các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy
tố; phù hợp với lời khai của ông Phan Văn B Châu Thị L, phù hợp với vật
chứng thu giữ tại hiện trường.
[3] Mặt số tiền bị cáo Trương Thị T bị cáo Hồ Thị H dùng đánh bạc
ới 5.000.000 đồng nhưng o ngày 28/5/2020 bị cáo Trương Thị T bị cáo Hồ
Thị H đã bị Công an T H, huyện TrC ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
về hành vi đánh bạc trái phép. Đến ngày 15/10/2020 bị cáo T vẫn chưa nộp tiền phạt
theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính, còn bị cáo H tuy đã nộp tiền phạt xong
nhưng cả hai bị o đều chưa hết thời gian 01 năm, kể từ ngày chấp nh xong
quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật xử vi phạm
hành chính năm 2012 mà còn có hành vi đánh bạc bằng hình thức bài ấn độ 06 lá ăn
thua bằng tiền với nhau nên hành vi hành vi đánh bạc trái phép của bị o T bị
cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Đối với ông Phan Văn B hành vi đánh bạc trái phép cùng với các bị
cáo Trương Thị T, Hồ Thị H với tổng số tiền ng đđánh bạc 550.000 đồng. Về
nhân thân, ông B chưa b x phạt vi phạm hành chính, chưa b kết án về nh vi
đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoc gá bạc. vy, nh vi của ông B ch vi phạm
về hành chính. Ny 19/10/2020 Công an Tân Hiệp, huyện Trà Cú đã ra quyết
định xphạt vi phạm nh chính đối với ông Phan Văn B stiền 1.500.000 đồng
5
về nh vi “Đánh bạc trái phép tịch thu số tiền ng đánh bạc của ông B
350.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.
[5] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Các bị cáo
người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo ng thực hiện hành vi phạm tội
với lỗi cố ý trực tiếp; động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo vụ lợi, nhằm
thu lợi bất chính. Hành vi đánh bạc trái phép của các bcáo đã xâm phạm trật tự
công cộng gây ảnh hưởng xấu đến trật t hội tại địa phương, đánh bạc một
trong những tệ nạn hội làm cho nhiều người mất nhà cửa, phát sinh mâu thuẫn
gia đình dẫn đến tan vhạnh phúc gia đình đánh bạc còn được xem một trong
những nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội và tội phạm khác.
[6] Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị
cáo điều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị
cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm
nhẹ cho các bcáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo
Hồ Thị H người thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
được Nhà nước ta tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, khi phạm tội là người đủ
70 tuổi trở Ln nên bị cáo Hồ Thị H được hưởng hai tình tiết giảm nhnày quy định
tại điểm x, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều là người sống ở vùng
điều kiện kinh tế- hội đặc biệt khó khăn, học vấn thấp nên khả năng am hiểu
pháp luật cũng phần hạn chế; bị cáo T người cao tuổi (từ 60 tuổi đến dưới 70
tuổi) là lao động chính; đây là các tình tiết giảm nhẹ cho hai bị cáo quy định khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự. vậy, người bào chữa cho bị cáo H đại diện Viện
kiểm sát đề nghị cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ nói trên có căn
cứ, đúng với các quy định pháp luật n Hội đồng xét xử chấp nhận. các bị cáo
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về quyết định hình phạt: Qua tranh tụng tại phiên tòa, chứng cứ xác
định bcáo T, bị cáo H đều cùng nhau chơi đánh bạc mà không ai ai trước; do
đó, các bị cáo vai trò như nhau trong vụ án. Tuy nhiên, xét số tiền các bị cáo
dùng đánh bạc rất thấp, các bị cáo không chủ động hẹn gặp nhau từ trước để đánh
bạc chỉ gặp tình cờ khi trú mưa; quy số người tham gia ít. Các bị cáo
nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
không tình tiết tăng nặng trách nhiệm nh sự. Xét quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát đề nghị xử phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo; quan điểm của
người bào chữa cho bcáo H đề nghị xử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo
H căn cứ, đúng tính chất, mức độ đúng theo quy định tại Điều 36 Bộ luật
hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét bị cáo Hồ Thị H người già yếu
không có khả năng lao động. Bị cáo T tuy còn khả năng đi bán hàng rong kiếm sống
nhưng thu nhập không thường xuyên, không đủ sống, nếu buộc bị cáo T khấu trừ
thu nhập hàng tháng từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước thì không khả thi. Do
đó, cần buộc bị cáo T thực hiện một số công việc phục vụ lao động công ích theo
khả năng lao động của bị cáo.
[8] Về xử vật chứng: 01 bộ bài tây 52 đã qua sử dụng thu giữ từ ông
Phan Văn B là vật chứng vụ án. Tại phiên tòa, L xác nhận bộ bài của gia đình
và không có yêu cầu nhận lại, đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối
6
với số tiền bị cáo T giao nộp 20.000 đồng, bị cáo H giao nộp 180.000 đồng tiền
dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bcáo không thuộc trường
hợp được miễn nộp án phí, giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp
án phí nên mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
[10] Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố
tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng
các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đúng quy định
pháp luật. vậy, các quyết định của quan tiến hành tố tụng, hành vi của người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị T, bị cáo Hồ Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xphạt bị cáo Trương Thị T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời
hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày quan, tổ chức được giao giám sát, giáo
dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s, o, x khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Thị H 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải
tạo không giam giữ tính từ ngày quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục
người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho các bị cáo Trương Thị T, Hồ Thị H.
Giao bị cáo Trương Thị T bị cáo Hồ Thị H cho Ủy ban nhân dân TH, huyện
TrC, tỉnh Trà Vinh giám sát, giáo dục. Trong trường hợp người cải tạo không giam
giữ đang chấp hành thời hạn cải tạo không giam giữ thay đổi nơi trú thì quan,
tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật
thi hành án hình sự.
Bị cáo Trương Thị T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng
đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào
ngân sách nnước số tiền là vật chứng của vụ án do c bị cáo giao nộp bằng
200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Các bcáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án.
7
Nơi nhận:
- Các bị cáo;
- Người bào chữa
- VKSND huyện Trà Cú;
- VKSND tỉnh Trà Vinh;
- Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh
- Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
- Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
- Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
- UBND xã Tân Hiệp, huyện Trà Cú;
- Lưu HSVA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Truyền
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
Thạch Tấn Thành- Phước Thị Kim Huê
9
10
11
12
Tải về
Bản án số 08/2021/HS-ST Bản án số 08/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất