Bản án số 07/2026/HC-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 07/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 07/2026/HC-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 07/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Thị X - UBND TAM ĐẢO
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 07/2026/HC-PT Bản án số 07/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 07/2026/HC-PT Bản án số 07/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH PHÚ TH
Bn án s: 07/2026/HC-PT
Ngày 25 tháng 6 năm 2026
"V/v khiếu kin quyết đnh hành
chính"
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành và ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư phiên tòa: Nông Thị Lụa - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông
Vũ Thành Vinh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 05/2025/TLPT-
HCPT về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”.
Do bản án hành chính thẩm số: 01/2025/HC-ST ngày 30/7/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2026/QĐPT-HC
ngày 12 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Người khi kin: Nguyn Th X, sinh năm 1944; địa ch: T dân ph
B, xã T, tnh Phú Th.
Người đại din theo y quyn ca X: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm
1980 Hoàng Hnh V, sinh năm 1982; đa ch: S D, đường N, phường
V, tnh Phú Th, (Có mt khi xét x vng mt khi tuyên án).
- Người b kin: y ban nhân dân xã T, tnh Phú Th.
Địa ch: Thôn T, xã T, tnh Phú Th.
Người đại din theo pháp lut: Ông Trn Anh T Ch tch UBND.
Người đại din theo y quyn: Ông Nguyễn Đức C Phó Ch tch UBND,
(Vng mt).
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H người đại din theo y quyn ca
ngưi khi kin.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện và
tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Gia đình Nguyễn Thị X chủ sử dụng đối với thửa đất số: 81, tờ bản
đồ số: 09, địa chỉ tại: TDP B, thtrấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Thực hiện quyền
của người sử dụng đất, hiện X đang thực hiện thủ tục hành chính cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.
Ngày 07/6/2024 UBND thị trấn T có văn bản số 41/UBND-ĐC về việc trả
lời đơn đề nghị trích đo, nội dung thể hiện: “Tại văn bản số 32/UBND-ĐC ngày
21/4/2023 UBND thị trấn đã tiến hành kiểm tra, xác minh nội dung xin thẩm định
trích đo, xác định phạm vi đất theo kiến nghị của bà Nguyễn Thị Xkhông
căn cứ thực hiện.
Cụ thể, đối chiếu các loại bản đồ lưu trữ tại UBND thị trấn (bản đồ 299,
bản đồ VN B, bản đồ đo đạc năm 2017) không bản đồ nào thể hiện đồ, vị
trí thửa đất quy chủ hộ bà X tại thửa 81, tờ bản đồ 09.
Hiện trạng vị trí X đề nghị thẩm định trích đo hiện nay đất trống,
không công trình, tài sản trên đất. Vị trí đất nằm trong quy hoạch phạm vi
hành lang giao thông (Quy hoạch từ nhng năm 2000, không hồ sơ thu hồi,
đền bù, giải phóng mặt bằng, không có quyết định thu hồi đất)”.
Văn bản số 32/UBND-ĐC của UBND thị trấn T ngày 21/4/2023 về việc trả
lời đơn kiến nghị, nội dung: “Thửa đất thể hiện trên Bản đồ địa chính đo đạc năm
2000 một phần đất hoang tại thửa số 72 tờ bản đồ 09 quy chủ hộ Đinh Thị
M”. Tuy nhiên, ngày 05/7/2023 bà Đinh Thị M có Bản cam kết thể hiện nội dung
bà M chưa từng sử dụng, quản lý thửa đất trên. Và việc UBND thị trấn T quy chủ
thửa đất mang tên bà M là không đúng.
Về nguồn gốc thửa đất: Vợ chồng X khai hoang sử dụng từ những
năm 1970.
Về tình trạng và quá trình sử dụng đất: Năm 1973 chồng bà X là ông Trần
Công B đơn gửi Uban hành chính thị trấn T Ban Q xin đất xây nhà 3
gian để ở. Đến năm 1984 chồng X có đơn gửi UBND thị trấn TTrạm Kiểm
lâm thị trấn T xin xây dựng lại nhà ở do đã cũ nát, hỏng (có Đơn xin đất làm
nhà năm 1973, Đơn xin sửa chữa nhà năm 1984). cùng năm này gia
đình X xây một ngôi nhà cấp 4 để (điều này cũng được Đinh Thị M
xác nhận tại Bản cam kết ngày 05/7/2023). Hàng năm, vợ chồng X vẫn đóng
thuế đất nông nghiệp (có Biên lai thu thuế nông nghiệp năm 1993). Năm 1985, vợ
chồng bà X chuyển về thửa đất khác ở cùng thôn đsinh sống, khoảng năm 2000
bà X đã tặng một phần diện tích đất trên cho con gái và con rể là ông Vũ Hồng P.
Sau này con gái X chết, ông P lấy vợ thứ 2 hai vợ chồng ông P được
UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyển sử dụng đất năm 2005 đối với thửa
đất số: 84, tờ bản đồ số: 09, mang tên bà Lại Kim L (vợ anh P).
Trong quá trình sdụng, một phần diện tích đất chưa được cấp Giấy chứng
nhận quyển sử dụng đất là thửa số 81 tờ bản đồ 09, địa chỉ: TDP B, thị trấn T
thửa bà X đang đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, liền kề với
3
thửa số: 84, tờ bản đồ số: 09 (đã được cấp GCN QSD đất).
Về hiện trạng thửa đất: Nay nền móng nhà cũ (nhà tạm) dựng trên thửa 81
- tờ bản đồ 09 đã bị phá và san phẳng không còn thấy nền móng cũ nữa, hiện trên
đất có trồng cây Su su và các loại cây màu khác do bà X và con gái bà trồng. Thi
thoảng gia đình bà vẫn thường xuyên về làm cỏ và phát quang cho sạch sẽ.
UBND thị trấn T cho rằng: “Vị trí đất nằm trong quy hoạch phạm vi hành
lang giao thông (Quy hoạch từ những năm 2000, không có hồ sơ thu hồi, đền bù,
giải phóng mặt bằng, không có quyết định thu hồi đất)”, do vậy cũng không đưa
ra được bất kể tài liệu nào thể hiện thửa đất thửa số 81 tờ bản đồ 09 là đất nằm
trong phạm vi hành lang giao thông và cũng không cung cấp được tài liệu chứng
minh là đất quy hoạch. Trong khi đó, Luật đất đai 2013 có một chương quy định
vthu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nayĐiều 87
Luật đất đai 2024, quy định về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư, thu
hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - hội lợi ích quốc
gia, công cộng. Do đó, việc UBND thị trấn T cho rằng thửa đất số 81 – tờ bản đồ
09 nằm trong phạm vi hành lang giao thông, quy hoạch từ những năm 2000,
không đúng.
Nhận thấy, việc ban hành văn bản số 41/UBND-ĐC về việc trlời đơn đề
nghị trích đo của Ủy ban nhân dân thị trấn T ngày 07/6/2024, là trái quy định pháp
luật. Vì vậy, bà X đã khởi kiện đến Toà án nhân dân huyện Tam Đảo đề nghị Toà
án:
“1. Đề nghị Toà án huỷ bỏ văn bản số 41/UBND-ĐC về việc trả lời đơn đề
nghị trích đo của Ủy ban nhân dân thị trấn T ngày 07/6/2024;
2. Buộc UBND thị trấn T hoàn thiện hồ đề nghị trích đo địa chính đối
với thửa đất số: 81, tờ bản số: 09, địa chỉ: TDP B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh
Phúc theo quy định pháp luật”.
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 30/6/2025 đại diện theo ủy
quyền của người khởi kiện đơn xin hoãn phiên tòa với do thửa đất bà X đang
khởi kiện có người đang xây dựng trên đất.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện vắng mặt có đơn xin xét xử
vắng mặt.
Trong qtrình giải quyết vụ án đại diện người bị kiện trình bày: Hộ
Nguyễn Thị X đơn đề nghị thẩm định trích đo đối với thửa đất số 81, tờ bản đồ
số 09 tại TDP B, thị trấn T. Qua kiểm tra soát hồ lưu trữ tại UBND thị
trấn (Bản đồ, sổ mục kê 299, bản đsổ mục kê VN2000, bản đồ địa chính đo đạc
năm 2017) kết hợp kiểm tra thực địa. UBND thị trấn đã có văn bản số 32/UBND-
ĐC ngày 21/4/2023, văn bản số 41/UBND ĐC ngày 07/6/2024 khẳng định vị
trí đất hộ bà X đề nghị trích đo là không có căn cứ thực hiện.
Sau khi kiểm tra hồ sơ lưu trữ tại UBND thị trấn, kiểm tra thực địa UBND
thị trấn T khẳng định nội dung văn bản số 41/UBND ĐC ngày 07/6/2024
đúng và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
4
khai chứng cứ tiến hành đối thoại các đương sự không thỏa thuận được với
nhau. Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện,
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc Hủy công văn của UBND thị trấn T số
41/UBND-ĐC về việc trả lời đơn đề nghị trích đo; người bị kiện quan điểm:
Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện về việc Hủy Công văn công văn của UBND
thị trấn T số 41/UBND-ĐC về việc trả lời đơn đề nghị trích đo.
Tòa án tiến hành xác minh đối với nội dung đơn xin hoãn phiên tòa của đại
diện theo ủy quyền của người khởi kiện xác định về thửa đất bà đề nghị cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đang có người xây dựng trên đất.
UBND T ý kiến đối với thửa đất X đnghị cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa đất nằm trong quy hoạch phạm vi hành lang giao thông,
hiện nay thửa đất này vẫn bỏ trống, không có công trình, tài sản gì trên đất, cũng
không có hộ gia đình nào xây dựng trên đất.
Những hình ảnh ông H cung cấp thuộc khuân viên thửa đất số 140, tờ
bản đồ số 17, diện tích 821,9m
2
đã được cấp giấy phép xây dựng cho ông Nguyễn
Thành N và thửa đất số 139, tbản đồ số 17, diện tích 841,6 m
2
đã được cấp giấy
phép xây dựng cho ông Đỗ Thành N1, hoàn toàn không liên quan gì đến thửa đất
mà bà X đang đề nghị.
Với nội dung trên, tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 01/2025/HC-ST ngày
30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết
326 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X vviệc yêu cầu Hủy công
văn 41/UBND-ĐC về việc trả lời đơn đề nghị trích đo của Ủy ban nhân dân thị
trấn T ngày 07/6/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí tuyên quyền
kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01 tháng 8 năm 2025 ông Nguyễn Văn H -
người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện có đơn kháng cáo toàn bộ Bản
án hành chính thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án thẩm
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát
biểu về kháng cáo của người khởi kiện:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hi đồng xét xử Thư Tòa án cấp
phúc thẩm đã tuân thủ, đảm bảo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định từ khi
thụ vụ án đến tại phiên tòa phúc thẩm; những người tham gia tố tụng đã thực
hiện đầy đủ và chấp hành đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều
241 Luật Tố tụng hành chính; không chấp kháng cáo của ông Nguyễn Văn H -
người đại diện theo ủy quyền của Nguyễn Thị X, giữ nguyên Bản án hành
5
chính sơ thẩm số: 01/2025/HC-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
9 Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1. Về hình thức: Đơn kháng cáo ông Nguyễn Văn H - người đại diện theo
ủy quyền của người khởi kiện làm trong hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét
xử chấp nhận xem xét, giải quyết.
1.3. Về thời hiệu khởi kiện thẩm quyền giải quyết vụ án: X khởi kiện
yêu cầu hủy công văn số 41 ngày 07/6/2024 của UBND thtrấn T vẫn còn thời
hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
vậy, Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án hành
chính đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật tố tụng hành
chính. Sau khi xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Văn H là đại diện theo ủy quyền của
người khởi kiện kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết theo
trình tự phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
2. Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn H đại diện theo
ủy quyền của người khởi kiện; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện đề nghị a
án huỷ bỏ văn bản số 41/UBND-ĐC về việc trả lời đơn đề nghị trích đo của Ủy
ban nhân dân thị trấn T ngày 07/6/2024; Buộc UBND thị trấn T hoàn thiện hồ sơ
đề nghị trích đo địa chính đối với thửa đất số: 81, tờ bản số: 09, địa chỉ: TDP B,
thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định pháp luật. Thấy rằng:
Hộ Nguyễn Thị X đơn đề nghị thẩm định trích đo đối với thửa đất số
81, tờ bản đồ số 09 tại TDP B, thị trấn T. Qua kiểm tra hồ quản đất đai tại
Ủy ban nhân dân thị trấn T (Bản đồ, sổ mục kê 299; bản đồ, sổ mục kê VN2000;
bản đồ địa chính đo đạc năm 2017) và kiểm tra thực địa. UBND Thị trấn T đã có
văn bản số 32/UBND-ĐC ngày 21/4/2023 về việc trả lời đơn đề nghị của X.
Không đồng ý, X có đơn đề nghị xem xét lại. Sau khi kiểm tra hồ sơ địa chính
tại UBND thị trấn và thực địa, UBND thị trấn T ban hành văn bản số 41/UBND-
ĐC về việc trả lời đơn đề nghị thẩm định trích đo của bà X, nội dung: Tại văn
bản số 32/UBND-ĐC ngày 21/4/2023 UBND thị trấn đã tiến hành kiểm tra, xác
minh nội dung đơn xin thẩm định trích đo, xác định rõ phạm vi đất theo kiến nghị
của Nguyễn Thị X là không có căn cứ thực hiện. C thể, đối chiếu các loại bản
đồ lưu trữ tại UBND thị trấn (bản đ299, bản đVN B, bản đồ đo đạc năm 2017)
không bản đồ nào thể hiện đồ, vị trí thửa đất quy chủ hộ X tại thửa 81,
tờ bản đồ 09. Hiện trạng vị trí đất bà X đnghị thẩm định trích đo hiện nay là đất
trống, không công trình, tài sản trên đất. Vị trí đất nằm trong quy hoạch
phạm vi hành lang giao thông (Quy hoạch từ những năm 2000, không h
6
thu hồi, đền bù, giải phóng mặt bằng, không có quyết định thu hồi đất)”.
Nhận thấy, việc ban hành văn bản số 41/UBND-ĐC về việc trả lời đơn đề
nghị trích đo của Ủy ban nhân dân thị trấn T ngày 07/6/2024, trái quy định pháp
luật. Vì vậy, X đã khởi kiện đến Toà án nhân dân huyện Tam Đảo (Nay là Tòa
án nhân dân khu vực 9) đề nghị huỷ bỏ văn bản số 41/UBND-ĐC về việc trả lời
đơn đề nghị trích đo của UBND thị trấn T ngày 07/6/2024; Buộc UBND thị trấn
T xác nhận vào bản trích đo địa chính đối với thửa đất số 81, tbản số 09, địa chỉ:
TDP B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc là không có căn cứ, bởi lẽ:
Bà X không phải là chủ sử dụng đất và không ở trên thửa đất số 81, tờ bản
đồ số 09. Vì đối chiếu các loại bản đồ lưu trữ tại UBND thị trấn (bản đồ 299, bản
đồ VN B, bản đồ đo đạc năm 2017) không bản đồ nào thể hiện đồ, vị t
thửa đất quy chủ hộ bà X tại thửa 81, tờ bản đồ 09.
Hiện trạng vị trí X đề nghị thẩm định trích đo hiện nay đất trống,
không công trình, tài sản trên đất. Vị trí đất nằm trong quy hoạch phạm vi
hành lang giao thông.
Qua kiểm tra và rà soát hồ sơ lưu trữ tại UBND thị trấn (Bản đồ, sổ mục kê
299, bản đồ sổ mục kê VN2000, bản đồ địa chính đo đạc năm 2017) kết hợp kiểm
tra thực địa. UBND thị trấn đã có văn bản số 32/UBND-ĐC ngày 21/4/2023, văn
bản số 41/UBND ĐC ngày 07/6/2024 khẳng định vị trí đất hộ X đề nghtrích
đo là không có căn cứ thực hiện.
Cụ thể tại văn bản số 32/UBND-ĐC ngày 21/4/2023 UBND thị trấn T đã
tiến hành kiểm tra, xác minh nội dung xin xác nhận mảnh trích đo xác định
phạm vi mảnh đất theo đề nghị của X không căn cứ. Cụ thể: Tại thời điểm
X khởi kiện thì thẩm quyền thực hiện kiểm tra mảnh trích đo địa chính thửa
đất:
- Căn cứ điểm b, khoản 3, Điều 70, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai
quy định:
“3. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc sau:
b) … kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu
có)”.
- Theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư số 09/2021/TT-BTNMT ngày
30/6/2021 của Bộ T1 sửa đổi bổ sung một số điều của các Thông tư quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành Luật đất đai quy định: “Trường hợp trích đo địa chính
thửa đất do tổ chức chức năng hành nghề đo đạc bản đồ địa chính khác thực
hiện để phục vụ đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận đơn lẻ, thường xuyên hàng
năm thì phải có chữ ký và dấu của tổ chức thực hiện đo đạc; người kiểm tra trực
thuộc Văn phòng đăng đất đai; Giám đốc Văn phòng đăng đất đai duyệt.”
Như vậy, Cơ quan thẩm quyền kiểm tra mảnh trích đo địa chính thửa đất
do người sử dụng đất nộp Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng
Đ, không phải là UBND cấp xã, thị trấn. Cụ thể đối với đơn đề nghị của bà X là
thuộc Văn phòng Đ Chi nhánh T2. UBND thtrấn T quan quản nhà
7
nước địa phương trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin về nguồn gốc,
quá trình sử dụng đất, hồ sơ, sổ sách có liên quan đến thửa đất. Việc U tiếp nhận
trả lời X về vị trí X đề nghị trích đo không căn cứ để thực hiện
không đúng thẩm quyền, nên không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
X. Do vậy không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định
tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Tại cấp phúc thẩm, Tòa án đã gửi công văn s162/2026/CV – THC đề nghị
UBND xã T cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ theo đơn đề nghị của ông Nguyễn
Văn H - người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện; UBND T đã trả
lời: Đơn đề nghị thẩm định, trích đo của bà X UBND xã T không có thẩm quyền
thẩm định trích đo của hộ bà Nguyễn Thị X, do đó UBND xã T không có lưu trữ
hồ sơ liên quan đến đơn đề nghị thẩm định, trích đo của bà Nguyễn Thị X; đồng
thời, UBND xã T cũng cho rằng UBND không thực hiện trích đo, không lưu trữ
bất kì hồ sơ liên quan đến mảnh trích đo địa chính của bà Nguyễn Thị X.
Vì vậy, Công văn số 41/UBND - ĐC ngày 07/6/2024 của UBND thị trấn T
(nay T) được ban hành hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật.
Do vậy yêu cầu hủy công văn số 41/UBND – ĐC ngày 07/6/2024 của UBND th
trấn T (nay là xã T) về đề nghị trích đo là không có căn cứ để chấp nhận.
Từ những phân tích và căn cứ trên, thấy rằng kháng cáo của người đại diện
theo ủy quyền của người khởi kiện không sở để chấp nhận.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là có căn
cứ, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn
H - người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện không được chấp nhận nên
phải chịu án phí phúc thẩm; tuy nhiên X người cao tuổi nên được miễn án
phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người
khởi kiện; giữ nguyên Bản án hành chính thẩm số: 01/2025/HC-ST ngày
30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ .
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí Tòa
án:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị X về việc đề nghị Toà án huỷ
bỏ văn bản số 41/UBND-ĐC về việc trả lời đơn đnghị trích đo của Ủy ban nhân
8
dân thị trấn T ngày 07/6/2024;
2. Bác yêu cầu buộc UBND thị trấn T hoàn thiện hồ sơ đề nghị trích đo địa
chính đối với thửa đất số: 81, tờ bản số: 09, địa chỉ: TDP B, thị trấn T, huyện T,
tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định pháp luật”.
Về án phí: Nguyễn Thị X là người cao tuổi nên được miễn án phí hành
chính sơ thẩm và hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 9 – Phú Thọ;
- VKSND khu vực 9 – Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 9 – Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Thu Hiền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 07/2026/HC-PT Bản án số 07/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 07/2026/HC-PT Bản án số 07/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất