Bản án số 07/2021/HS-ST ngày 05/02/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 07/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 07/2021/HS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 07/2021/HS-ST ngày 05/02/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
---|---|
Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai) |
Số hiệu: | 07/2021/HS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 05/02/2021 |
Lĩnh vực: | Hình sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 07 /2021/HS - ST
Ngày 05/02/2021
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giàng Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tuấn;
2. Ông Đỗ Trọng Bằng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Toản – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tham gia phiên toà: Bà Lồ
Kim Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào
Cai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2021/TLST- HS ngày 22 tháng 01 năm
2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 01
năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa đối với các bị cáo:
1. Giàng Thị V; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1971 (không xác định được
ngày, tháng sinh); Tại thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Lao động
tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Giàng A S và bà Trang Thị L (đều đã chết). Bị cáo có chồng là Vàng
A S (đã chết), bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1997. Các
con của bị cáo đều cư trú tại: Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC
- Tiền án: 02 tiền án. Ngày 17/4/2009, bị can Giàng Thị V bị Tòa án nhân dân
huyện Sa Pa xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chưa chấp hành
xong hình phạt bổ sung, chưa được xóa án tích;
Ngày 02/7/2014, bị can Giàng Thị V tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Sa Pa
xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Đến nay, đã thi
hành xong hình phạt tù (ra tù ngày 27/8/2017) và tiền án phí, tiền phạt bổ sung
400.000 đồng, còn 4.600.000 đồng tiền phạt bổ sung chưa thi hành.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo Giàng Thị V bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2020, hiện đang bị tạm
giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa; Có mặt tại phiên tòa.
2. Nông Văn L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 16/3/1972, tại thị xã Sa Pa,
tỉnh Lào Cai;
Nơi cư trú: Thôn T V D2, xã TV, thị xã SP, tỉnh LC.
2
- Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Giáy; Giới
tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nông Văn S. (đã chết năm 2020) và bà Hồ Thị S; Sinh năm 1930; trú
tại Thôn T V D2, xã TV, thị xã SP, tỉnh LC. Bị cáo có vợ là Lìn Thị L(sinh năm
1987) trú tại Thôn T V D2, xã TV, thị xã SP, tỉnh LC. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất
sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2017, cùng trú tại Thôn T V D2, xã TV, thị xã
SP, tỉnh LC.
Bị cáo Nông Văn L bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2020, hiện đang bị
tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Sa Pa ; Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi liên quan:
+ Anh Vàng A D; Địa chỉ: Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC; Có mặt
+ Chị Lìn Thị L (sinh năm 1987) trú tại Thôn T V D2, xã TV, thị xã SP, tỉnh
LC. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 45 ngày 14/12/2020 tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh
LC, tổ công tác của Công an thị xã Sa Pa phát hiện 02 đối tượng là Giàng Thị V và
Nông Văn L đang thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình bắt quả
tang, tổ công tác đã kiểm tra phát hiện và thu giữ của Nông Văn L 01 gói nilon màu
trắng, bên trong chứa chất bột khô màu trắng vón cục, Lộc khai là Heroin, Lộc vừa
mua của Giàng Thị V và thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 24B2-
883.36 mang tên Nông Văn L;
Thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái của Giàng Thị V đang mặc 04 túi
nilon màu hồng được buộc bằng sợi đay khô, bên trong đều chứa chất bột khô màu
trắng vón cục, V khai là Heroin; Thu giữ trong dây vải cuốn chân bên trái của Giàng
Thị V 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột khô màu trắng vón cục, V khai
là Heroin; Thu giữ trên người Giàng Thị V 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, V khai
là tiền do vừa bán ma túy cho Nông Văn L mà có. Khi tiến hành khám xét nơi ở của
Giàng Thị V, thu giữ tại giường ngủ của Giàng Thị V 02 gói nilon, cụ thể: 01 gói
nilon màu trắng bên trong là 01 gói nilon màu xanh được buộc túm bằng sợi dây nâu
có chứa chất bột khô màu trắng vón cục, V khai là Heroin; 01 gói nilon màu hồng
được buộc bằng dây màu nâu, bên trong là chất bột khô màu trắng vón cục, V khai là
Heroin. Thu giữ trong thùng tôn trong nhà Giàng Thị V số tiền 44.450.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số 03/GĐMT ngày 17/12/2020 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:
+ Số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Giàng Thị V “Mẫu M1: 1,79 (một phẩy
bảy mươi chín) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma
túy Heroin (Hêrôin);”
+ Số ma túy thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Giàng Thị V “Mẫu M2:
3,99 (ba phẩy chín mươi chín) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là
loại chất ma túy Heroin (Hêrôin);”
3
+ Số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Nông Văn L “Mẫu M3: 0,28 (không phẩy
hai mươi tám) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng gửi giám định là loại chất ma
túy Heroin (Hêrôin).”
Về nguồn gốc số ma túy nói trên, Giàng Thị V khai nhận mua của một người
đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ vào ngày 13/12/2020 tại khu vực đường tỉnh lộ
152 thuộc Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC với giá 1.000.000 đồng. Giàng
Thị V mua số ma túy nói trên với mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại cho
những người nghiện ma túy khác để kiếm lời. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày
14/12/2020, Nông Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 24B2-
883.36 đi đến nhà của Giàng Thị V tại thôn Vạn Dền Sử 2, xã Mường Hoa để tìm
mua ma túy sử dụng cho bản thân. Lộc gặp V hỏi mua 100.000 đồng Heroin, V đồng
ý bán ma túy cho Nông Văn L. Lộc lấy 100.000 đồng đưa cho Giàng Thị V, V cầm
lấy tiền cho vào túi áo khoác, đồng thời lấy từ trong người ra 01 gói nilon màu trắng
bên trong có chứa Heroin đưa cho Lộc. Nông Văn L nhận lấy gói ma túy cho vào ví
của mình, thì bị tổ công tác của Công an thị xã Sa Pa bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Khi tiến hành khám xét nơi ở của Giàng Thị V, thu giữ tại giường ngủ của Giàng Thị
V 02 gói nilon, cụ thể: 01 gói nilon màu trắng bên trong là 01 gói nilon màu xanh
được buộc túm bằng sợi dây nâu có chứa chất bột khô màu trắng vón cục, 01 gói
nilon màu hồng được buộc bằng dây màu nâu, bên trong là chất bột khô màu trắng
vón cục, V khai nhận các gói trên đều là Heroin. Thu giữ trong thùng tôn tại nhà
Giàng Thị V số tiền 44.450.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Giàng Thị V và Nông Văn L đã khai nhận toàn bộ hành
vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-SP ngày 22/01/2021 của Viện Kiểm sát nhân
dân thị xã Sa Pa truy tố bị cáo Giàng Thị V về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
theo quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nông Văn L về
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ
luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa giữ nguyên quan
điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Giàng Thị V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp
dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị
cáo Giàng Thị V từ 08 năm đến 09 năm tù.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo Giàng
Thị V một khoản tiền để nộp ngân sách Nhà nước.
Tuyên bố bị cáo Nông Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp
dụng điểm điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn L từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy:
4
- 01 bì thư niêm phong in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào
Cai, trên một mặt của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu
giữ khi bắt quả tang và khám xét chỗ ở của Giàng Thị V “Mua bán trái phép chất ma
túy”. Phát hiện bắt giữ ngày 14/12/2020 tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC.
- 01 bì thư niêm phong in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào
Cai, trên một mặt của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu
giữ khi bắt quả tang Nông Văn L “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phát hiện bắt giữ
ngày 14/12/2020 tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC.
Tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 100.000 đồng thu giữ khi
bắt quả tang Giàng Thị V đang bán Hêrôin cho Nông Văn L, xác định là tiền do bán
ma túy mà có.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda
Wave BKS 24B2-88336 Nông Văn L sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy. Trả
lại ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 24B2-88336 cho chị Lìn Thị Lù.
Tạm giữ số tiền 1.795.000 đồng là tiền của Giàng Thị V do lao động mà có để
đảm bảo công tác thi hành án.
Toàn bộ vật chứng trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Sa Pa
chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sa Pa theo biên bản giao nhận vật
chứng ngày 29/01/2021.
Đối với số tiền 42.655.000 đồng thu giữ khi khám xét nơi ở của Giàng Thị V,
quá trình điều tra chứng minh số tiền nói trên là tiền của anh Vàng A D (sinh ngày
18/12/1997, trú tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC), anh Vàng A D cũng
không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Giàng Thị V nên ngày
22/01/2021 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 06, và lập biên bản
trả lại 42.655.000 đồng, cho chủ ở hữu anh Vàng A D là phù hợp.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Giàng Thị V nhất trí với tội danh, Điều
luật Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố đối với bị cáo. Bị cáo Giàng Thị V là
người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết
pháp luật còn nhiều hạn chế, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, do không có
tiền để mua ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua bán chất ma túy để kiếm lời và sử
dụng cho bản thân, khi bị phát hiện bắt quả tang bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, q khoản
2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Giàng Thị V 08
năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn L nhất trí với tội danh, Điều luật Viện kiểm
sát nhân dân thị xã Sa Pa truy tố đối với bị cáo. Bị cáo Nông Văn L là người dân tộc
thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật còn
nhiều hạn chế, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên bị cáo đã có hành vi
Tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, khi bị phát hiện bắt quả tang bị cáo đã thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử
áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nông Văn L 01 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5
Tại phiên tòa bị cáo Giàng Thị V và bị cáo Nông Văn L đồng ý với tội danh và
điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa đã truy tố đối với các bị cáo, các bị
cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá
trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
Đối với người đàn ông theo lời khai của Giàng Thị V là người bán ma túy cho
V, quá trình điều tra không xác minh được danh tính, không có tài liệu nào khác để
chứng minh, do đó không có đủ căn cứ để xử lý.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Giàng
Thị V và bị cáo Nông Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
các bị cáo như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo được
chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Biên bản bắt giữ người phạm tội
quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ và biên bản niêm phong vật chứng,
biên bản thu giữ đồ vật tài liệu, bản kết luận giám định số 03/GĐMT ngày
17/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, lời khai của các bị cáo
cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ
để kết luận:
Ngày 14/12/2020 Bị cáo Giàng Thị V đã có hành vi mua bán trái phép 6,06
gam Hêrôin với mục đích để bán và sử dụng cho bản thân. Hành vi nêu trên của
Giàng Thị V đã đủ yêu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy
định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Bị cáo Nông Văn L đã có hành vi tàng trữ 0,28 gam Hêrôin với mục đích để
sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo Nông Văn
L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm
c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc
quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước là khách thể được pháp luật hình sự bảo
vệ đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Đối với bị cáo Giàng Thị V: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình
sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nhà nước. Bị cáo nhận thức và
biết được hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" là vi phạm pháp luật, chất ma túy
có nhiều tác hại đối với sức khỏe của con người, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn
xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương song bị cáo đã mắc vào tệ nạn nghiện
chất ma túy muốn có tiền để mua ma túy về sử dụng nên nên bị cáo đã thực hiện hành
vi mua bán chất ma túy để kiếm lời và sử dụng cho bản thân.
6
Tại bản án số 05/2009/HSST ngày 17/4/2009 bị cáo Giàng Thị V bị Tòa án
nhân dân huyện Sa Pa xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạt
bổ sung 5.000.000 đồng, 50.000 đồng tiền án phí sơ thẩm, chưa được xóa án tích;
Tại bản án số 11/2014/HSST ngày 02/7/2014, bị cáo Giàng Thị V tiếp tục bị
Tòa án nhân dân huyện Sa Pa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép
chất ma túy với tình tiết tái phạm, phạt bổ sung 5.000.000 đồng, 200.000 đồng tiền án
phí; Đến ngày 27/8/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành
xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền nên chưa được xóa án tích. Đến ngày
14/12/2020 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo là
tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị
cáo là người đã có nhiều tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy, song bị cáo coi
thường pháp luật nên tiếp tục có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy cần
phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật.
Đối với bị cáo Nông Văn L, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình
sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nhà nước. Bị cáo nhận thức được
hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là vi phạm pháp luật, song do bị cáo đã mắc
vào tệ nạn xã hội nghiện chất ma túy, nên ngày 14/12/2020 bị cáo đã thực hiện hành
tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, nên cần phải xử lý bị cáo
nghiêm khắc trước pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình giải
quyết vụ án, bị cáo Giàng Thị V và Nông Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo cần có một mức
hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Xét
tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử
quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để
cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình
và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 quy định: "Người phạm tội còn
có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng".
Bị cáo Giàng Thị V thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời
nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo sung
vào ngân sách Nhà nước để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và răn đe đối
với bị cáo.
Đối với bị cáo Nông Văn L, xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, bị
cáo không có tài sản riêng gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2; Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy:
7
- 01 bì thư niêm phong in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào
Cai, trên một mặt của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu
giữ khi bắt quả tang và khám xét chỗ ở của Giàng Thị V “Mua bán trái phép chất ma
túy”. Phát hiện bắt giữ ngày 14/12/2020 tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC.
- 01 bì thư niêm phong in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào
Cai, trên một mặt của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu
giữ khi bắt quả tang Nông Văn L “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phát hiện bắt giữ
ngày 14/12/2020 tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 100.000 đồng thu giữ khi bắt
quả tang Giàng Thị V đang bán Heroin cho Nông Văn L, xác định là tiền do bán ma
túy mà có.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda
Wave BKS 24B2-88336 Nông Văn L sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy. Trả
lại ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 24B2-88336 cho chị Lìn Thị Lù.
Tạm giữ số tiền 1.795.000 đồng là tiền của Giàng Thị V do lao động mà có để
đảm bảo công tác thi hành án.
Toàn bộ vật chứng trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Sa Pa
chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sa Pa theo biên bản giao nhận vật
chứng ngày 29/01/2021.
Đối với số tiền 42.655.000 đồng thu giữ khi khám xét nơi ở của Giàng Thị V,
quá trình điều tra chứng minh trong số tiền nói trên là tiền của anh Vàng A D (sinh
ngày 18/12/1997, trú tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC) do lao động mà
có, anh Vàng A D cũng không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị
cáo nên ngày 22/01/2021 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 06, và
lập biên bản trả lại 42.655.000 đồng, cho chủ ở hữu anh Vàng A D là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo Giàng Thị V, bị cáo Vũ Xuân Chuyển phải chịu tiền án
phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Thị V phạm tội “ Mua bán trái phép chất
ma túy”; Tuyên bố bị cáo Nông Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm i, q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Giàng Thị V 09 năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/12/2020.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Giàng Thị V 5.000.000
đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1, điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nông Văn L 01(một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ
ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/12/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là
phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về vật chứng vụ án: Về xử lý vật chứng:
8
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2; Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì thư niêm phong in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào
Cai, trên một mặt của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu
giữ khi bắt quả tang và khám xét chỗ ở của Giàng Thị V “ Mua bán trái phép chất ma
túy”. Phát hiện bắt giữ ngày 14/12/2020 tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC.
- 01 bì thư niêm phong in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào
Cai, trên một mặt của bì thư có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu
giữ khi bắt quả tang Nông Văn L “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phát hiện bắt giữ
ngày 14/12/2020 tại Thôn VDS 2, xã MH, thị xã S P, tỉnh LC.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: Số tiền 100.000 đồng thu giữ khi bắt
quả tang Giàng Thị V đang bán Hêrôin cho Nông Văn L, xác định là tiền do bán ma
túy mà có.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda
Wave BKS 24B2-88336 Nông Văn L sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy. Trả
lại ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 24B2-88336 cho chị Lìn Thị Lù.
Tạm giữ số tiền 1.795.000 đồng là tiền của Giàng Thị V do lao động mà có để
đảm bảo công tác thi hành án.
Toàn bộ vật chứng trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Sa Pa
chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sa Pa theo biên bản giao nhận vật
chứng ngày 29/01/2021.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Giàng Thị V, Nông Văn L mỗi người phải chịu
200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh, TX;
- PV 06 Công an tỉnh;
- Công an thị xã Sa Pa (3);
- Sở tư pháp tỉnh;
- Trại tạm giam;
- Cơ quan THA HS;
- Bị cáo;
- Người có QLLQ;
- THADS; THAHS;
- Lưu.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Giàng Thị Thu Trang
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm