Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 05/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 05/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Thái Bá H tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ với ông Lê Văn p và ông Lê Văn Q
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 05/2026/DS - PT
Ngày: 15-01-2026
V/v tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ
và bồi thường thiệt hại.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Phượng
Ông Bùi Văn Biền
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Thu Hường Thư Toà án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh nh tham gia phiên tòa:
Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý s 49/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng
10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ và bồi thường thiệt hại”.
Do Bản án dân sự thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 17-7-2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 106/2025/QĐ-PT ngày
21 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2025/QĐ-PT ngày 16
tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
I. Nguyên đơn: Ông Thái Bá H, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số nhà E đường H,
thôn P, phường H, tỉnh Ninh Bình.
II. Bị đơn: Ông Văn P, sinh năm 1968; ông Văn Q, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Xóm T, thôn K, phường H, tỉnh Ninh Bình.
III. Người m chứng: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn G,
xã P, tỉnh Ninh Bình.
(Tại phiên tòa, ông Thái H mặt. Ông Văn P; ông Văn Q; ông
Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do).
* Người kháng cáo: Ông Thái Bá H - là nguyên đơn kháng cáo.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án,
quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn ông Thái H, trình bày: Ông H
làm nghề xây dựng từ năm 2010, trong quá trình lao động sản xuất, ông nhận thấy
khâu vận chuyển vật liệu xây dựng gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các công trình
không gian hạn chế, chật hẹp, nhà trong ngõ…nên ông đã sáng chế ra thiết
bị nâng vật nặng. Ông H đã tự vẽ thiết kế và chế tạo ra thiết bị đưa vào sdụng
trong cuộc sống từ năm 2015 cho đến khi ông được cấp Bằng sáng chế năm 2023.
Ông đã trực tiếp hợp đồng thi công phục vụ xây dựng nhiều công trình dân
dụng, được xã hội và người dân ghi nhận.
Cụ thể: Ngày 15-01-2019 ông được ủy ban nhân dân N văn bản gửi
Ban t chức hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Ninh Bình. Đến ngày 10-9-2020 ông đã
nộp đơn xin bằng độc quyền sáng chế thiết bị nâng vật nặng. Đến ngày 30-6-2023,
ông được cấp Bằng đc quyền sáng chế số 36573.
Ngày 25-3-2020 anh em ông Lê Văn Pông Văn Q đã sao chép 05 bộ
khung bàn đỡ thuộc hệ thống thiết bị nâng vật nặng của ông. Đến ngày 27-7-2021
ông P và ông Q sao chép thêm 10 bộ khung bàn đỡ Thiết bị nâng vật nặng thuộc
hệ thống thiết bị sáng chế nâng vật nặng của ông.
Anh em ông P ông Q đã thi công phá giá thị trường giảm tới 45% tại
các công trình ông đang thi công, gây thiệt hại về kinh tế cho ông, làm mất uy tín,
mất khách hàng, làm cho ông không thu nhập, phải đi theo kiện tại quan
nhà nước có thẩm quyền.
Quá trình giải quyết, ông đề nghị Toà án xét xử buộc ông Văn P và ông
Văn Q dừng ngay mọi hoạt động chế tạo khung bàn đnhững hệ thống liên
quan đến B độc quyn sáng chế thiết bị nâng vật nặng do Cục sở hữu trí tuệ đã
cấp cho ông. Ngoài ra, buộc ông P và ông Q bồi thường thiệt hại cho ông tổng số
tiền là 3.066.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, ông Thái Bá H vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông P ông Q phải bồi thường thiệt
hại cho ông s tiền là 9.000.000.000đ (chín tỷ đồng).
Quá trình giải quyết vụ án, do ông P không biết chữ nên Toà án lấy lời khai
ông Văn P. Ông Lê Văn P trình bày: Ông làm công việc sửa chữa cơ khí, cách
đây 3-4 năm, ông hàn khung sắt hình chữ nhật cho ông H để làm máy cõng
gạch. Ông chưa từng được ông H đưa bản vẽ để hàn hay làm bất cứ thiết bị nào
ông không biết chữ. Ngoài ra, ông chỉ sửa chữa thuê nên khách hàng yêu cầu
sửa chữa những thiết bthì làm thiết bị đó. Bản thân ông không trực tiếp sản
xuất ra để bán và cũng không phải sao chép ra thiết bị hay bộ phận nào để bán.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Văn Q trình bày: Ông và ông Thái Bá H
là hàng xóm với nhau, ông đóng máy tời lúa từ khoảng 15 năm nay. Đến nay ông
sử dụng vận chuyển các loại mặt hàng cho khách (vận chuyển gạch, cát, đá, hồ,
3
vỡ các loại). Ông H không đưa bản vẽ hay máy móc của ông H cho ông sử dụng.
Ông không chế tạo ra để bán thiết bị cho ai, vì thế ông không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông Thái Bá H.
Người làm chứng là ông Phạm Văn T1 trình bày: Do ông T1 không biết chữ
nên Toà án lấy lời khai của ông T1. Ông biết ông H ông có thời gian làm thuê
cho ông H cách đây 4-5 năm. Ông cũng xác nhận biết ông H chế tạo ra thiết bị
nâng vật nặng để tời các vật liệu lên tầng cao, trước đó ông cũng biết có thiết
bị tời ngang (tời kéo lúa). Khi làm thuê cho ông H ôngbị tai nạn lao động
ông nghi do người tháo hai con c khung số 8 của bàn đỡ bên trên của thiết
bị nâng vật nặng. Tuy nhiên, ông không căn cứ để chứng minh ai đã phá
hoại hay tháo con ốc trong máy tời ra. Hiện nay, sức khoẻ của ông yếu nên ông
đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật để ông H đáp ứng cuộc
sống của ông.
* Từ nội dung trên, Bản án dân sự thẩm s20/2025/DS-ST ngày 17-7-
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình đã quyết định: Căn cứ khoản 4
Điều 26; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 271; Điều 273 ca Bộ luật T tng
dân sự năm 2015; Điều 4; Điều 6; Điều 8; Điều 198; Điều 199; Điều 202 của Luật
Sở hữu trí tuệ năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022); Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thái H đối với yêu cầu:
Buộc ông Văn P ông Văn Q dừng ngay mọi hoạt động chế tạo khung
bàn đỡ những hệ thống liên quan đến B độc quyền sáng chế thiết bị nâng vật
nặng do Cục sở hữu trí tuệ đã cấp cho ông Thái Bá H số 36573 ngày 30-6-2023.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thái H buộc ông Văn P
ông Văn Q bồi thường thiệt hại cho ông Thái H tổng số tiền
9.000.000.00(chín tỷ đồng).
Ngoài ra HĐXX còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ chi phí
giám định cũng như án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
* Sau khi xét xử sơ thẩm. Ngày 28-7-2025 ông Thái Bá H đơn kháng cáo
yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Thái H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
cũng như yêu cầu kháng cáo trình bày: Hành vi của ông Lê Văn P ông
Văn Q đã xâm phạm đến quyền sở hữu ttucủa ông. Ông P ông Q đã sao
chép thành quả nghiên cứu và phá giá thị trường giảm tới 45% tại các công trình
ông đang thi công, gây thiệt hại về kinh tế cho ông, làm mất uy tín, mất khách
hàng, làm cho ông không có thu nhập, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông buộc ông P ông Q ngừng ngay mọi hoạt động chế
tạo khung bàn đỗ, những hệ thống liên quan đến bàng độc quyền sáng chế thiết bị
nâng vật nặng ông đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp; bồi thường thiệt hại cho
ông như đã đề xuất tại cấp sơ thẩm là 9.000.000.000đ (chín tỷ đồng).
4
- Đại diện VKS trình bày quan điểm: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của cấp phúc thẩm
xem xét đơn kháng cáo của ông Thái H. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh
Bình thấy rằng. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực
hiện đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự; Các đương sự đã thực hiện
đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự, giữ nguyên bản án thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 17-7-2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình;
Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định ca pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện
đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng, bảo đảm được quyền và nghĩa v của các đương sự trong vụ án.
[1.1] Xét đơn kháng cáo của ông Thái Bá H làm trong thời hạn luật định phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 BLTTDS
nên được HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Trong đơn
khởi kiện, ông Thái Bá H là người sáng chế ra khung bàn đcủa thiết bị nâng vật
nặng và thiết bị này đã được cấp Bằng sáng chế độc quyền năm 2023 đã bị anh
em ông Lê Văn P và ông Lê Văn Q sao chép 15 bộ khung bàn đỡ thuộc hệ thống
thiết bị nâng vật nặng vào ngày 25-3-2020 và ngày 27-7-2021. Nên là tranh chấp
về quyền sở hữu trí tuệ. Nguyên đơn, bị đơn đều cư trú tại thành phố N (nay là
phường H) nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 35 và Điều 39
BLTTDS để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.
[1.3]. Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn được triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296
BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Thái H được cấp Bằng sáng chế độc quyền
số 36573 đối với Thiết b nâng vật nặng bao gồm: cụm chi tiết truyền động (12)
được lắp cố định trên khung đỡ trên (13); khung đỡ trên (13), ở đầu trước, có bố
trí tay cần chịu lực (11) có chức năng như tay cẩu, đầu tự do của tay cần chịu lực
(11) được lắp puly cáp tải (113) để chuyển hướng cáp tải (10), mặt dưới của khung
đỡ trên (13) được tạo kết cấu sao cho thể quay được quanh trụ chịu lực (143)
của khung đỡ dưới (14) nhờ đó cần chịu lực (11) thể quay từ trái sang phải
hoặc ngược lại; khung đỡ dưới (14) được lắp theo cách thtrượt dọc theo khung
5
(15), theo đó cần chịu lực 11 vừa thực hiện được chuyển động quay trái-phải vừa
thực hiện chuyển động tịnh tiến theo hướng tiến-lùi hoặc sang ngang. Sáng chế
của ông Thái H hiệu lực từ ngày 30-6-2023 đến hết 20 năm tính từ ngày
nộp đơn ( ngày 10-9-2020). Do Cục sở hữu trí tuệ, Bộ K và công nghệ cấp Bằng
số 36573 ngày 30-6-2023.
Sau khi được cấp Bằng sáng chế, ông Thái Bá H khai ông đã sử dụng thiết
bị nâng vật nặng này để vận chuyển các vật liệu cho các công trình xây dựng mà
ông là chủ thầu xây dựng. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng và chế tạo ra Thiết
bị nâng vật nặng này, theo lời trình bày của ông H tông Văn P ông
Văn Q (là hai anh em) ông Q chủ thầu xây dựng ông P người thực hiện
các công việc sửa chữa máy móc. Ông H mang vật liệu sang nhà ông P để thuê
ông P hàn ghép các thanh sắt để thành khung bàn đỡ (là một trong các bộ phận
của Thiết bị nâng vật nặng) và cũng theo ông H thì ông P đã sao chép khung bàn
đỡ của ông để làm ra nhiều khung bàn đỡ khác, sdụng trong việc vận chuyển
vật liệu xây dựnggây thiệt hại về kinh tế cho ông H.
Ông Lê Văn Q quan điểm cho rằng ông đã có thiết bị là máy tời cách thời
điểm ông H có thiết bị nâng vật nặng khoảng 15 năm về trước và ông vẫn còn sử
dụng khung bàn đ(là một bộ phận của máy tời) hiện đang để làm cho các
công trình xây dựng.
Ông Văn P có quan điểm trình bày: ông không biết chữ, khi ông H mang
sang nhà để thuê ông hàn khung thì cũng không bản vẽ, ông cũng không biết
ông H sdụng khung đó vào mục đích gì, ông làm ng việc sửa chữa nên ai thuê
gì thì ông làm nấy, chứ không chế tạo hay sản xuất công cụ gì để bán.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Thái H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Kết luận giám định về sở hữu công nghiệp số SC008-25TC.TP/KLGĐ
ngày 11-6-2015 của Viện sở hữu trí tuệ Quốc gia Bộ K: Đối tượng bị xem xét
được coi Yếu tố xâm phạm quyền đối với sáng chế nếu đáp ứng đầy đủ hai điều
kiện sau đây: Điều kiện thứ nhất: đối tượng bị xem xét/bộ phận (phần) của đối
tượng bị xem xét trùng hoặc tương đương với sản phẩm/bộ phận (phần) sản
phẩm/quy trình thuộc phạm vi bảo hộ của sáng chế ; Điều kiện thứ hai: đối tượng
bị xem xét được sử dụng một cách không hợp pháp, cụ thể là được Người thứ ba
sử dụng nhưng không được chủ sở hữu SC hoặc không được pháp luật cho phép.
Theo Điều 11.1 Thông 11/2015 sửa đổi, Sản phẩm/bộ phận sản phẩm/quy
trình bị xem xét được coi là trùng hoặc tương đương với sản phẩm/bộ phận sản
phẩm/quy trình được bảo hộ theo một điều nào đó (độc lập và phụ thuộc) của yêu
cầu bảo hộ thuộc Bằng độc quyền sáng chế/Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu
tất cả các dấu hiệu (đặc điểm) kỹ thuật cơ bản được nêu trong điểm đó đều mặt
trong sản phẩm/bphận sản phẩm/quy trình bị xem xét dưới dạng trùng hoặc
tương đương”.
6
Mặt khác, tại Văn bản số 1214/SHTT-TTKN ngày 15-4-2025, Cục sở hữu
trí truệ - Bộ K và công nghiệp đã có ý kiến: khung bàn đỡ ca ông Lê Văn Q ch
b coi là yếu t xâm phm quyền đối vi B đc quyn sáng chế nếu đồng thời đáp
ứng hai điều kin:
1. Đặc đim k thut trùng hoặc tương đương với đối tượng thuc phm vi
bo h ca sáng chế;
2. Vic s dng là không hp pháp (không có s cho phép ca ch văn bằng
hoc không thuộc trường hp s dng hp pháp theo luật định).
Qua phân tích, đánh giá hai đối tượng bị đưa ra so sánh thì thấy rằng so vi
đặc điểm k thuật bản của “khung bàn đỡ” của nhà ông Văn Q: Kết cu
hình ch nht, gm hai thanh dài hai thanh ngn; Hai thanh dài rãnh dn
ớng được to giữa. Đánh giá điều kin th nhất: So sánh đặc điểm k thut
cho thấy “khung bàn đỡ” ca ông Q ch tương đồng mt phn v hình dáng (dng
ch nhật, có rãnh), nhưng không th hiện đầy đủ hoặc tương đương v chức năng,
kết cu tng th, kh ng vn hành và s kết ni vi các b phn còn lại như
t trong Bằng độc quyn sáng chế s 36573 ca ông Thái H. Do đó, khung
bàn đỡ” của ông Q không trùng hoặc tương đương với đối tượng được bo h bi
sáng chế. Do điều kin th nht không tha mãn nên không cn thiết đánh giá
điu kin th 2. T đó, Cục sở hữu trí truệ - Bộ K công nghiệp kết luận Căn cứ
khoản 1 Điều 74 Ngh định 65/2023/NĐ-CP thì Khung bàn đỡ” của nhà ông
Văn Q không b coi là yếu t xâm phm vi bằng độc quyn sáng chế (“Thiết b
nâng vt nặng”) của ông Thái H. Không đủ căn cứ pháp lý đ xác định hành
vi sao chép sáng chế hoc xâm phm quyn s hu trí tu trong trường hp này
theo khoản 1 Điều 126 Lut S hu trí tu.
Do không căn cứ chng minh vic ông Văn P, ông Văn Q đã
hành vi sao chép sáng chế hoc xâm phm quyn s hu trí tu đối vi thiết b
nâng vt nng ca ông H vì vậy cũng không có căn cứ chng minh vic ông H b
thit hi do hành vi m phm ca ông P và ông Q.
Ti cp phúc thm, ông Thái Bá H cũng không cung cp thêm tài liu chng
c nào mi v vic chng minh cho yêu cu khi kin và yêu cu kháng cáo ca
mình. Ông H không cung cấp được tài liu chng c chng minh kết lun ca
Cc s hu trí tu là không khách quan hoc không chính xác. Vì vy, không có
cơ sở chp nhn yêu cu kháng cáo ca ông Thái Bá H.
T nhng phân tích trên, Hội đồng xét x thy rng Tòa án cấp thẩm
không chp nhn yêu cu khi kin ca ông Thái Bá H đúng vàcăn c pháp
lut.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông Thái H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông Thái H
người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm nên căn cứ Điều 12
7
Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lphí
Tòa án; miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Thái Bá H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Giữ nguyên
Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Toà án
nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Thái Bá H.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- TAND KV 1;
- Phòng THADS KV 1;
- Hồ sơ vụ án;
- Lưu VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHC THM
THM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đức Cnh
(Đã ký)
Tải về
Bản án số 05/2026/DS-PT Bản án số 05/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2026/DS-PT Bản án số 05/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất