Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 12/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 12/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 04/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, nuôi con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VC 6 THÁI NGUYÊN
Bn án s: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 9 - 2025
V/v Tranh chp ly hôn, nuôi con
chung khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thu Hiền;
2. Ông Triệu Đình Đường;
- Thư phiên tòa: Ông Ma Văn Chung - Thẩm tra viên Tòa án nhân n
khu vực 6 – Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên tham gia phiên
tòa: Bà Đinh Thị Anh - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thái
Nguyên xét xử công khai vụ án thụ lý số: 10/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 7
năm 2025 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Hồng O, sinh năm 2000;
Trú tại: Thôn B, xã T, tỉnh Nghệ An.
2. Bị đơn: Anh Nông Văn T, sinh năm 1997;
Trú tại: Thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt có lý do, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn xin ly hôn ngày 03 tháng 7 năm 2025 và trong quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn Hà Thị Hồng O trình bày:
Về hôn nhân tình trạng hôn nhân: Chị Hà Thị Hồng O kết hôn với anh
Nông Văn T trên sở tự nguyện, đăng kết hôn ngày 28/9/2020 tại Ủy ban
nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, nay T, tỉnh Thái Nguyên tổ
chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương.
Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Đến cuối năm 2021 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hợp tính
tình, quan điểm sống khác nhau, anh T mải chơi, không quan tâm, lo lắng đến gia
đình, vợ con dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng thường xuyên cãi vã,
2
chửi bới nhau. Mâu thuẫn kéo dài, liên tục nên từ năm 2021 chị O đã bỏ về nhà
ngoại sống sinh con tại Nghệ An đồng thời chị O anh T sống ly thân từ đó
cho đến nay, trong quá trình ly thân hai bên không hỏi thăm, quan tâm đến nhau,
mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng khiến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay
chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị O
được ly hôn anh Nông Văn T.
Về con chung: Chị Thị Hồng O anh Nông Văn T 01 con chung là
Nông Hoàng Đ, sinh ngày 17/01/2021. Sau khi ly hôn chị O đề nghị được nuôi
con chung là ng Hoàng Đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
V cp dưỡng nuôi con chung: Ch O không yêu cu anh Nông Văn T cp
dưỡng nuôi con chung. Ch O hoàn toàn đủ kh năng, điu kin nuôi dưỡng con
chung, hơn na hin nay anh Nông Văn T đã đi làm ăn xa, thnh thong mi v
nhà ti xã T nên không có thi gian chăm sóc và kh năng cp dưng nuôi con
chung, vì vy vic ch O không yêu cu cp dưỡng là hoàn toàn t nguyn.
Về tài sản chung, vay nợ chung:
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự trình bày ý kiến của bị đơn Nông Văn T ngày 04/8/2025
trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nông Văn T kết hôn với chị Hà Thị Hồng O trên
sở tự nguyện đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện C, tỉnh
Bắc Kạn, nay T, tỉnh Thái Nguyên ngày 28/9/2020 tổ chức cưới hỏi
theo phong tục tập quán địa phương.
Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Đến cuối năm 2021 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hợp tính
tình, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, chửi bới nhau do
bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Mâu thuẫn kéo dài, liên
tục nên chị O đã bỏ về nhà ngoại sinh con và hai mẹ con sinh sống tại Nghệ An từ
năm 2021 dẫn đến hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, trong quá trình ly
thân anh T, chị O không hỏi thăm, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày
càng trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được
không hàn gắn được tình nghĩa vợ chồng. Vì vậy anh T nhất trí và đề nghị Tòa án
giải quyết cho ly hôn với chị Hà Thị Hồng O.
Về con chung: Hai vợ chồng 01 con chung Nông Hoàng Đ, sinh ngày
17/01/2021, cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường. Sau khi ly hôn anh Nông
Văn T nhất trí giao con chung Nông Hoàng Đ cho chị Thị Hồng O nuôi
dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
V cp dưỡng nuôi con chung: Ch Hà Th Hng O không yêu cu anh
Nông Văn T cp dưỡng nuôi con chung nên không yêu cu Tòa án gii quyết.
3
Về tài sản chung, nợ chung:
- Về tài sản chung: Không có, không cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành thu thập chứng cứ xác
định: Việc mâu thuẫn sống ly thân giữa chị Thị Hồng O anh Nông Văn
T thực tế, đã diễn ra trong thời gian dài từ năm 2021 đến nay khiến hôn nhân
lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được.
4. Tại phiên toà:
* Các đương sự đều vắng mặt nên không có trình bày tại phiên tòa.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên phát biểu quan
điểm:
- Vviệc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Thư đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành
pháp luật của đương sự, kể từ khi thụ vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; Bị đơn mặc đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần
nhưng không đến theo giấy triệu tập đơn đề nghị không tiến hành hòa giải
do đang đi làm ăn xa không thể về tham gia được. Về quan hệ pháp luật
thẩm quyền giải quyết vụ án, đây quan hệ tranh chấp “Tranh chấp ly hôn, nuôi
con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thái
Nguyên theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại
phiên toà nguyên đơn, bị đơn đều đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các
đương sự.
- Vquan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1
Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147,
Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58,
Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật HNGĐ năm 2014; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem
xét, quyết định:
+ Về quan hhôn nhân: Chị Thị Hồng O được ly hôn với anh Nông Văn
T.
+ Về con chung: Giao cháu Nông Hoàng Đ, sinh ngày 17/01/2021 cho chị
Thị Hồng O trực tiếp nuôi dưỡng. Chị O không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho
con. Anh T quyền đi lại thăm nom giáo dục con chung không ai được
cản trở.
+ Vnợ chung tài sản chung: Không giải quyết do đương sự không yêu
cầu.
+ Về án phí: Chị O chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được xem
xét tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về
việc thụ vụ án tống đạt hợp lệ đến bị đơn, đã thông báo về phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đến các đương sự. Tuy nhiên,
phiên công khai tiếp cận chứng cứ bị đơn vắng mặt có đơn đề nghị không tiến
hành hòa giải, vậy Tòa án không tiến hành hòa giải. Tại Bản trình bày ý kiến
ngày 04/8/2025 của anh Nông Văn T xác định: Anh đã nhận được các văn bản tố
tụng của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thái Nguyên nhưng anh T đang đi làm
ăn xa không về giải quyết vụ án được nên anh Nông Văn T xin không tiến hành
hòa giải xin vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp luật. Ngày 12/9/2025, Tòa án đã mở phiên tòa để xét xử vụ án, chị
Thị Hồng O anh Nông Văn T đều xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xHội
đồng xét xcăn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét
xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân tình trạng hôn nhân: Quan hhôn nhân giữa
chị Thị Hồng O anh Nông Văn T quan hệ hôn nhân hợp pháp, sau một
thời gian chung sống, vchồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ
chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt hàng ngày, mâu
thuẫn diễn ra trong một thời gian dài, khiến hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi
vã, chửi bới nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Ngay sau khi kết hôn
một thời gian ngắn thì chThị Hồng O đã về nhà ngoại tại Thôn B, T, tỉnh
Nghệ An sinh sống dẫn đến vchồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời
gian sống ly thân hai bên không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không hỏi
thăm, không liên lạc nên tình cảm vợ chồng không hàn gắn được. Mâu thuẫn vợ
chồng ngày càng trầm trọng khiến hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân tại địa phương: Ông Mai Đức T1 -
Trưởng thôn Bản Còn, T anh Trịnh Ngọc K - thư chi đoàn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh thôn B, T nơi chThị Hồng O anh Nông Văn T
chung sống cùng những người thân của anh Nông Văn T chị Hà Thị Hồng O
Nguyễn Thị Kim L mẹ đẻ của anh T và anh Nông Văn D (anh trai ruột của anh
T), bà (Ngân Thị T2) mẹ đẻ chị O đã cho biết như sau: Tình trạng mâu thuẫn giữa
chị O và anh T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng chung
sống với nhau không hạnh phúc trong một thời gian dài, dẫn đến vợ chồng phải
sống ly thân từ ngay sau khi kết hôn cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, chị
O và anh T không liên lạc, hỏi thăm không gặp mặt nhau để hàn gắn tình cảm
vợ chồng.
5
Như vậy, phi khẳng định rằng quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh T đã có
nhiều mâu thuẫn xảy ra trong thời gian dài, ngày càng trầm trọng, đã ly thân, anh
chị không còn tiếng nói chung, không khả năng hàn gắn. Với tình trạng cuộc
sống hôn nhân như trên vi phạm nghiêm trọng về quyền nghĩa vụ của vợ
chồng, về tình nghĩa vchồng. Chị O anh T không còn thương yêu, tôn trọng,
quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ cuộc sống; Hôn
nhân giữa chị O anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn
nhân không đạt được, nên cần thiết chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O, cho
chị O được ly hôn anh T.
2.2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hà Thị Hồng O và anh
Nông Văn T 01 con chung cháu Nông Hoàng Đ, sinh ngày 17/01/2021. Hội
đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án xác định con chung hiện
đang sống chung với ông ngoại tại thôn B, T, tỉnh Nghệ An, chị Thị
Hồng O đi làm công nhân đến cuối tuần về nhà để chăm sóc, nuôi dưỡng con
chung, trong thời gian sống ly thân chị O là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung
đảm bảo cho con chung được phát triển lành mạnh, ổn định về mọi mặt. Đối
với anh Nông Văn T tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T nhiều lần, nhưng anh T
không mặt theo giấy triệu tập, sau đó anh T bản trình bày ý kiến và đơn xin
xét xử vắng mặt do bận công việc đang đi làm ăn xa nên không đến Tòa
án giải quyết vụ án được, anh T nhất trí giao con chung Nông Hoàng Đ cho chị O
nuôi dưỡng. Vì vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do chị Hà Thị Hồng O cung
cấp, thì việc giao con cho chị O được quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con
chung cho đến năm đủ 18 tuổi, xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật
cũng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Nông Hoàng Đ. Sau khi ly hôn, anh
Nông Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Thị Hồng O không yêu cầu cấp
dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2.3. Về tài sản chung: Chị Thị Hồng O anh Nông Văn T đều xác định
không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2.4. Về vay nợ chung: Chị Thị Hồng O anh Nông Văn T đều xác định
không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Thị Hồng O phải chịu án phí theo quy
định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
[4] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thái
Nguyên về việc giải quyết vụ án là căn cứ, phù hợp với quy định của pháp
luật, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 264; Điều 266 Bộ luật tố tụng dân
sự. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều
83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hà Thị Hồng O.
Chị Hà Thị Hồng O được ly hôn anh Nông Văn T.
2. Về con chung cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung Nông
Hoàng Đ, sinh ngày 17/01/2021 cho chị Thị Hồng O trực tiếp chăm sóc, giáo
dục, nuôi dưỡng con chung cho đến năm đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh Nông Văn
T có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vcấp dưỡng nuôi con chung: Chị Thị Hồng O không yêu cầu
cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về vay nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí: Chị Thị Hồng O phi chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đng) án phí dân sự thẩm, được tr vào s tin tm ng án phí dân s thẩm
do chị Hà Thị Hồng O đã np theo biên lai s 0000262 ngày 17 tháng 7 năm 2025
tại Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên, xác nhận chị Thị Hồng O đã nộp đủ
số tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a
Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự Nguyên đơn Hà Thị Hồng O, bị đơn Nông Văn T đều vắng mặt tại phiên toà có
quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Thái Nguyên (01b);
- VKSND tỉnh Thái Nguyên (01b);
- VKSND khu vực 6 - Thái Nguyên (03b);
- Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên (01b);
- UBND xã Thanh Thịnh (Nơi ĐKKH:01b);
- Các đương sự (02b);
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Lan Anh
7
Tải về
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất