Bản án số 04/2023/HS-ST ngày 11-01-2023 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tội tham ô tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 04/2023/HS-ST Lạng Sơn
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 04/2023/HS-ST Lạng Sơn
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2023/HS-ST ngày 11-01-2023 của TAND tỉnh Lạng Sơn về tội tham ô tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 353.Tội tham ô tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Lạng Sơn |
| Số hiệu: | 04/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/01/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Hoàng Sơn C phạm tội Tham ô tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 11-01-2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Đức Trí;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Liên;
Ông Tống Quốc Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử sơ thẩm công khai
vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý số: 78/2021/TLST-HS ngày
01 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
91/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Sơn C, sinh ngày 28/4/1994 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi
đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm B, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình T và bà Lý Thị C;
vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ
luật; bị bắt tạm giam từ ngày 22/6/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Dương Hữu M, Luật sư Văn phòng
Luật sư H, Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị hại: Công ty Cổ phần Tập đoàn H.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc T, chức vụ: Tổng Giám
đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn H; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh D, chức vụ: Giám đốc
Công Cổ phần Tập đoàn H chi nhánh tỉnh Bắc Giang (theo Giấy ủy quyền số
143/UQ/TGĐ/2022 ngày 29/12/2022); có mặt.

2
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Tài H,
Luật sư Văn phòng Luật sư N, Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Đình T, sinh năm
1970; địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Mã Văn T, sinh năm 1982; vắng mặt;
2. Anh Phan Văn H, sinh năm 1987; vắng mặt
3. Anh Dương Văn C, sinh năm 1991; vắng mặt;
4. Anh Phạm Thanh P, sinh năm 1977; vắng mặt;
5. Anh Phương Thành L, sinh năm 1987; vắng mặt;
6. Anh Hà Văn T, sinh năm 1978; có mặt;
7. Anh Đường Văn H, sinh năm 1989; vắng mặt;
8. Anh Bùi Văn K, sinh năm 1989; vắng mặt
9. Chị Đinh Thanh T, sinh năm 1995 có mặt;
10. Chị Đào Thị Hồng V, sinh năm 1995; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2018, Hoàng Sơn C làm việc tại Cửa hàng Tôn H huyện C thuộc
Công ty Cổ phần Tập đoàn H Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn. Từ ngày 01/5/2018 đến
ngày 20/01/2020 Hoàng Sơn C 02 lần được bổ nhiệm làm Cửa hàng trưởng Cửa
hàng Tôn H huyện C. Nhiệm vụ của Cửa hàng trưởng được giao quản lý, chịu
trách nhiệm chung về các mặt công tác của cửa hàng bao gồm: Quản lý nhân sự,
quản lý tài sản của cửa hàng, tìm kiếm chăm sóc khách hàng, kiểm tra, kiểm soát
mọi hoạt động xuất bán hàng hóa và quản lý thu hồi công nợ của các khách
hàng.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đến khoảng giữa năm 2019, Hoàng
Sơn C bắt đầu nảy sinh ý định chiếm đoạt các khoản tiền phát sinh từ việc thu
hồi công nợ của khách hàng để sử dụng cá nhân, cụ thể như sau:
Khách hàng Mã Văn T, địa chỉ: Làng Đ, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn số
tiền 75.669.838 đồng.
Khách hàng Phan Văn H, địa chỉ: Thị trấn V, huyện V, tỉnh Lạng Sơn số
tiền 154.169.037 đồng.
Khách hàng Dương Văn C, địa chỉ: Thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng số
tiền 198.666.799 đồng.

3
Khách hàng là Công ty TNHH SX TM XD V, địa chỉ: Xã Đ, huyện T, tỉnh
Lạng Sơn số tiền 118.995.508 đồng, Công ty V khi thanh toán đã làm tròn số tiền
là 119.000.000 đồng.
Khách hàng Phương Thành L, địa chỉ: Đường T, phường T, thành phố L,
tỉnh Lạng Sơn số tiền 42.280.700 đồng.
Khách hàng Hà Văn T, địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn số
tiền 63.359.774 đồng.
Khách hàng Đường Văn H (Họ tên khác: Nguyễn Quốc H), địa chỉ: Xã G,
huyện C, tỉnh Lạng Sơn số tiền 55.850.632 đồng.
Tổng cộng Hoàng Sơn C đã thu hồi công nợ của các khách hàng trên
nhưng không nộp vào Công ty mà đã chiếm đoạt số tiền là 708.992.288 đồng.
Khoảng đầu tháng 01/2020, Hoàng Sơn C vay 25.000.000 đồng của
Dương Thị M, nhà ở gần Cửa hàng Tôn H huyện Cvà vay 20.000.000 đồng của
một người quen ngoài xã hội tên là Đ không biết họ và địa chỉ với lý do cần tiền
để trả lại cho Cửa hàng Tôn H huyện C. Sau khi thu được tiền công nợ của
khách hàng, Hoàng Sơn C dùng tiền đó trả lại cho Dương Thị M và Đ bằng hình
thức chuyển khoản ngân hàng.
Cũng trong tháng 01/2020, Hoàng Sơn C đi xe mô tô nhãn hiệu Honda
BLADE, BKS 12D1-233.xx đến Công ty TNHH MTV T, địa chỉ: Khu 3, K, thị
trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để thu hồi công nợ và ở lại ăn cơm. Do đã uống
rượu nên Hoàng Sơn C gửi chiếc xe mô tô tại bãi gạch của Công ty, cũng là nơi
gia đình bà Hoàng Thị T, Thủ quỹ của Công ty T sinh sống và hẹn hôm khác sẽ
đến lấy xe nhưng sau đó không đến lấy, cũng không thông báo cho Cửa hàng
Tôn H huyện C biết. Sau đó do không có đủ tiền để trả về Cửa hàng và Công ty
nên Hoàng Sơn C đã bỏ trốn đi nhiều nơi.
Ngày 13/02/2020, ông Nguyễn Ngọc V là Phó Ban Quản lý Hệ thống
phân phối Công ty Cổ phần Tập đoàn H có đơn gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tố giác Hoàng Sơn C về hành vi
chiếm đoạt tiền và 01 xe Honda BLADE mang BKS 12D1-233.xx là tài sản của
Công ty giao cho Cửa hàng Tôn H huyện C quản lý, sử dụng.
Ngày 13/11/2020, Trần Đức H (con trai bà Hoàng Thị T) thấy chiếc xe
mô tô BKS 12D1 - 233.xx để trong bãi gạch của gia đình đã lâu và nghĩ đó là tài
sản của gia đình, nên đã sử dụng chiếc xe này để tham gia giao thông và bị Đội
Cảnh sát giao thông Công an huyện Lộc Bình tạm giữ, xử lý vi phạm hành
chính.
Ngày 28/5/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh
Lạng Sơn ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản xảy ra tại Cửa hàng Tôn H huyện C. Ngày 06/8/2021, Cơ quan điều
tra đã ra Thông báo truy tìm đối tượng và Quyết định truy tìm người do không
xác định được Hoàng Sơn C ở đâu. Ngày 22/6/2022, Hoàng Sơn C đã đến Cơ
4
quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc đầu thú và khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BLADE, BKS 12D1-233.xx:
Quá trình điều tra xác định Hoàng Sơn C không có hành vi chiếm đoạt đối với
chiếc xe mô tô trên và Cửa hàng Tôn H huyện C đã nhận lại tài sản. Căn cứ kết
quả điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc đã ra Quyết
định thay đổi Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Tham ô tài sản và ra Quyết
định khởi tố bị can đối với Hoàng Sơn C về tội Tham ô tài sản, quy định tại
Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Ngày 08/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc bàn
giao hồ sơ vụ án hình sự Tham ô tài sản xảy ra tại Cửa hàng Tôn H Cao Lộc cho
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn để điều tra theo Quyết định
chuyển vụ án hình sự số 05/VKS ngày 05/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Cao Lộc.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Sơn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của bản thân.
Tại Cáo trạng số 116/CT-VKS-P1 ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo về tội Tham ô tài sản theo quy định tại
điểm a khoản 3 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Sơn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
bản thân, đồng ý trả lại số tiền đã chiếm đoạt còn lại theo yêu cầu của bị hại Công
ty cổ phần tập đoàn Tôn H và xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty Cổ phần tập
đoàn Tôn H: Xác nhận ông Hoàng Đình T là bố của bị cáo đã tự nguyện nộp thay
cho bị cáo được số tiền 150.000.000 đồng để khắc phục hậu quả; yêu cầu bị cáo
phải tiếp tục có trách nhiệm bồi thường số tiền còn lại đã chiếm đoạt của Công ty
là 558.992.288 đồng; đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Đình T: Ông
là bố của bị cáo Hoàng Sơn C cho biết số tiền 150.000.000 đồng là do bị cáo nhờ
ông giúp bồi thường khắc phục hậu quả cho Công ty Cổ phần tập đoàn Tôn H.
Ông không yêu cầu bị cáo phải trả lại tiền cho ông, đề nghị Tòa giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Giữ nguyên
quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo
Hoàng Sơn C phạm tội Tham ô tài sản. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 353; điểm
b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
xử phạt bị cáo Hoàng Sơn C mức án từ 15 năm đến 16 năm tù; không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét
xử xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại được 150.000.000 đồng và
công nhận thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện theo ủy quyền của bị hại về việc bị
cáo có trách nhiệm bồi thường cho Công ty Cổ phần tôn H số tiền 558.992.288
5
đồng.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá
ngạch theo quy định. Trả lại cho bị cáo Chứng minh nhân dân do không liên
quan đến hành vi phạm tội.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn về tội danh và điều luật áp dụng, về các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Trong thời gian điều tra bị
cáo đã tác động gia đình bồi thường giúp bị cáo số tiền 150.000.000 đồng tiền để
khắc phục hậu quả; sau khi bị khởi tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo ra đầu thú và có ông nội, bà nội và ông
ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, nên bị cáo được
hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án đầu khung hình phạt cho
bị cáo là thỏa đáng.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Nhất trí với
quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn về tội danh và điều luật áp
dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị
Hội đồng xét xử xác nhận gia đình bị cáo đã trả được cho Công ty Cổ phần tập
đoàn Tôn H số tiền 150.000.000 đồng; công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại
diện bị hại về việc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Công ty Cổ phần
tập đoàn Tôn H số tiền còn lại 558.992.288 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Việc vắng mặt một số người làm chứng tại phiên tòa nhưng đã có lời
khai trong hồ sơ, xét thấy việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử
nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng.
[2] Bị cáo bị khởi tố, truy tố về tội Tham ô tài sản quy định tại điểm a
khoản 3 Điều 353 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 15 năm đến 20
năm nhưng tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra chưa chỉ định người bào chữa
cho bị cáo theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thiếu sót này
đã được khắc phục; Cơ quan điều tra, Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn đã cử Luật sư
tham gia tố tụng để bào chữa cho bị cáo Hoàng Sơn C, ngày 15/11/2022 đã cấp
thông báo về việc đăng ký bào chữa, ngày 16-11-2022 tiến hành hỏi cung bị cáo
có sự tham gia của người bào chữa. Vì vậy, hành vi, quyết định tố tụng của Điều
tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham
gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của

6
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân
như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù
hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những
người làm chứng; phù hợp với các Biên bản; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu
khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác
định: Từ khoảng giữa năm 2019 đến tháng 01/2020, Hoàng Sơn C đã lợi dụng
chức vụ trong việc đi thu hồi tiền công nợ của Công ty Cổ phần tập đoàn Tôn H
và 07 khách hàng, gồm: Mã Văn T, Phan Văn H, Dương Văn C, Công ty TNHH
SXTMXD V, Phương Thành L, Hà Văn T, Đường Văn H với tổng số tiền là
708.992.288 đồng, sau đó chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân. Cáo
trạng số 116/CT-VKS-P1 ngày 31-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Sơn C là có căn cứ, đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Sơn C phạm tội
Tham ô tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều
353 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc
trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản và
hoạt động đúng đắn của doanh nghiệp ngoài nhà nước. Bị cáo là người có thể
chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, đầy đủ năng lực trách
nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được hành vi tham ô tài sản là vi phạm pháp
luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Số tiền bị cáo chiếm đoạt của công ty diễn ra
trong khoảng thời gian từ giữa năm 2019 đến cuối tháng 01 năm 2020 bị cáo
nhiều lần chiếm đoạt số tiền của Công ty Cổ phần tôn H số tiền còn lại
700.992.288 đồng. do đó xác định bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của
Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần
đầu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp số tiền 150.000.000 đồng
để khắc phục hậu quả; bị cáo ra đầu thú; có ông nội là Hoàng Văn B, bà nội là
bà Ma Thị L được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; ông Ngoại
là Lý Đình N được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba; Do vậy, bị
cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[7] Từ phân tích đánh giá trên, cần xử tù có thời hạn đối với bị cáo, cách
ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để giáo dục, cải
tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng.
[8] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015

7
quy định, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến
05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một
phần hoặc toàn bộ tài sản. Bị cáo làm việc trong doanh nghiệp tư nhân; theo biên
bản xác minh thể hiện, bị cáo không còn có tài sản riêng do vậy không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của
bị hại Công ty Cổ phần tôn H xác nhận ông Hoàng Đình T là bố của bị cáo đã bồi
thường thay bị cáo số tiền 150.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần tôn H. Bị cáo
và đại diện theo ủy quyền của bị hại Công ty Cổ phần tôn H thống nhất thỏa thuận,
bị cáo Hoàng Sơn C có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty Cổ phần tôn H số tiền
còn lại 558.992.288 đồng. Xét thấy, việc thỏa thuận này là tự nguyện và không
trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
việc thỏa thuận này.
[10] Về xử lý vật chứng: Gồm 01 chứng minh nhân dân mang tên bị cáo
không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[11] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda BLADE, BKS 12D1-
233.xx: Quá trình điều tra xác định Hoàng Sơn C không có hành vi chiếm đoạt
đối với chiếc xe mô tô trên, do vậy, không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị
cáo Hoàng Sơn C về hành vi này. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho Cửa
hàng Tôn H Cao Lộc là đúng quy định pháp luật.
[12] Đối với các khách hàng có phát sinh giao dịch mua bán hàng hóa với
Cửa hàng Tôn H huyện C (Mã Văn T, Phan Văn H, Dương Văn C, Công ty V,
Phương Thành L, Hà Văn T, Đường Văn H): Những khách hàng này có phát sinh
công nợ nhưng đã thanh toán công nợ đầy đủ cho Hoàng Sơn C. Quá trình làm
việc, đối chiếu tiền công nợ giữa các khách hàng trên với đại diện Công ty Cổ
phần Tập đoàn H Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn, hai bên đã xác nhận số tiền công nợ
mà Công ty chưa thu hồi được chính là số tiền mà các khách hàng này đã thanh
toán cho Hoàng Sơn C với tổng số tiền là 708.992.288 đồng.
[13] Cơ quan điều tra đã xác minh qua số tài khoản tại Ngân hàng BIDV
có người họ tên là Ngô Quý Đ, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn P, xã H, thành phố
L, tỉnh Lạng Sơn; xác minh tại địa chỉ nêu trên không có người nào có họ tên là
Ngô Quý Đ. Đối với các khoản tiền Hoàng Sơn C vay của Dương Thị M và
người tên Đ, đây là quan hệ vay mượn dân sự và hai bên đã thanh toán xong.
Nên không xem xét trách nhiệm của Dương Thị M và Đ.
[14] Đối với Bùi Văn K, được phân công là Nhân viên thị trường Cửa
hàng Tôn H huyện C, với nhiệm vụ trực tiếp liên hệ, tìm kiếm và chăm sóc
khách hàng; do là nhân viên mới nên Bùi Văn K chỉ liên hệ, tìm kiếm, chăm sóc
và bán hàng cho các khách hàng nhỏ lẻ; lần nào mua hàng và giao hàng xong
khách đều thanh toán tiền mặt trực tiếp, Bùi Văn K đều giao nộp đầy đủ cho
Đinh Thanh T - Nhân viên bán hàng kiêm thủ quỹ của Cửa hàng tôn H huyện C.
Ngoài ra, có một vài lần Bùi Văn K được Hoàng Sơn C giao đi thu hồi công nợ
của một số khách hàng không phải do Bùi Văn K quản lý. Các lần này Bùi Văn
8
K chỉ đến thu tiền và báo cáo lại cho Hoàng Sơn C, sau đó nộp tiền cho Đinh
Thanh T đối chiếu với sổ ghi công nợ của các khách hàng để giảm trừ các khoản
nợ cho khách và nhập số liệu và hệ thống quản lý của Công ty; việc giao nhận
tiền đều có ký nhận vào sổ theo dõi do Đinh Thanh T quản lý.
[15] Đối với Đinh Thanh T, là thủ quỹ cửa hàng Tôn H Cao Lộc từ tháng
6/2018 đến đầu năm 2020, được phân công làm nhân viên bán hàng kiêm thủ
quỹ, nhiệm vụ cụ thể là nhập đơn hàng của Cửa hàng trưởng và các nhân viên
thị trường, ghi chép, quản lý sổ theo dõi công nợ của các khách hàng, quản lý
thu chi tại cửa hàng và thực hiện các công việc khác do Cửa hàng trưởng giao
cho thực hiện. Khi Hoàng Sơn C và các nhân viên thị trường đi thu hồi công nợ
của các khách hàng về nộp toàn bộ tiền thu được cho Đinh Thanh T để đối chiếu
với sổ ghi công nợ và giảm trừ các khoản nợ cho khách hàng, nhập số liệu vào
hệ thống quản lý dữ liệu của Công ty. Việc giao nhận tiền giữa Đinh Thanh T
với Cửa hàng trưởng và các nhân viên thị trường của Cửa hàng đều có ký nhận
vào sổ mẫu của Công ty; khách hàng trực tiếp đến thanh toán tiền với Đinh
Thanh T chỉ cần nói tên của khách hàng đang có công nợ tại cửa hàng thì Đinh
Thanh T thu tiền, ghi nhận và đối chiếu giảm trừ công nợ cho khách hàng; bị cáo
Hoàng Sơn C thu hồi công nợ và tự ý chiếm đoạt số tiền 708.499.288 đồng mà
không nộp lại cho Đinh Thanh T, Đinh Thanh T không biết nên không liên quan
đến hành vi phạm tội của bị cáo.
[16] Đối với Đào Thị Hồng V, từ tháng 5/2018 được giao nhiệm vụ là kế
toán, hạch toán thu chi, làm báo cáo thuế và các nhiệm vụ khác khi Công ty yêu
cầu hoặc phân công. Theo quy định của Công ty thì nhân sự tại Cửa hàng gồm
có: Cửa hàng trưởng, nhân viên của hàng hoặc thủ quỹ là Đinh Thanh T sẽ trực
tiếp mang tiền đến ngân hàng nộp về Công ty cổ phần tập đoàn H – Chi nhánh
tỉnh Lạng Sơn; tuy nhiên với vai trò là Kế toán đồng thời là nhân sự thuộc Chi
nhánh tỉnh Lạng Sơn tại Cửa hàng nên Đào Thị Hồng V đã hỗ trợ Đinh Thanh T
về việc nộp tiền vào ngân hàng để nộp về Chi nhánh tỉnh Lạng Sơn, sau đó Đào
Thị Hồng V làm ủy nhiệm chi để nộp tiền về Tổng công ty hoặc thanh toán các
hóa đơn dịch vụ phát sinh. Quá trình làm kế toán, Đào Thị Hồng V không biết
việc Hoàng Sơn C chiếm đoạt tiền của Cửa hàng Tôn H Cao Lộc thông qua việc
đi thu hồi tiền công nợ của khách hàng nhưng không nộp về cửa hàng. Đến khi
đại diện Chi nhánh Công ty Cổ phần tập đoàn H làm đơn tố cáo Hoàng Sơn C,
Đào Thị Hồng V mới tiến hành kiểm tra, rà soát, hạch toán lại tất cả các khoản
tiền công nợ của khách hàng với Cửa hàng tôn H Cao Lộc và đại diện Công ty
đến làm việc với các khách hàng thì mới biết Hoàng Sơn C đã làm thất thoát số
tiền trên 700.000.000 đồng.
[17] Về án phí: Bị cáo Hoàng Sơn C bị kết án và phải thực hiện nghĩa vụ
dân sự, do đó bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và chịu án phí dân sự sơ thẩm
có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
[18] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn và ý kiến
của người bào chữa cho bị cáo, của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho bị hại; ý kiến nào có căn cứ, phù hợp với nhận định, đánh giá của Hội đồng
9
xét xử thì được chấp nhận; ý kiến nào không có căn cứ, không phù hợp với nhận
định, đánh giá của Hội đồng xét xử thì không được chấp nhận.
[19] Bị cáo, bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định
tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 3, khoản 6 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm
2015;
Căn cứ Điều 274, 275, 357, 468, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1
Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Sơn C phạm tội Tham ô tài sản.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Sơn C 15 (mười lăm) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt 22/6/2022.
3. Trách nhiệm dân sự:
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Hoàng Sơn C, ông Hoàng Đình T và
bị hại Công ty Cổ phần tôn H, cụ thể:
Xác nhận ông Hoàng Đình T đã bồi thường giúp bị cáo Hoàng Sơn C cho
Công ty Cổ phần tôn H số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu
đồng).
Bị cáo Hoàng Sơn C phải trả cho Công ty Cổ phần tôn H số tiền còn lại
558.992.288 đồng (năm trăm năm mươi tám triệu, chín trăm chín mươi hai nghìn,
hai trăm tám mươi tám đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Hoàng Sơn C 01 (một) Chứng
minh nhân dân số 091676120 cấp ngày 14/3/2017 mang tên Hoàng Sơn C.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lạng
Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 10 năm 2022).
10
5. Về án phí: Bị cáo Hoàng Sơn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 26.359.689 đồng (hai mươi sáu triệu ba trăm
năm mươi chín nghìn sáu trăm tám mưới chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp
Ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của
bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của
bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
- Phòng PV 06 CA tỉnh Lạng Sơn;
- Cục THADS tỉnh Lạng Sơn;
- Bị cáo;
- Người TGTT khác;
- HCTP, KTNV &THA;
- Lưu: VT, Tòa HS, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vi Đức Trí
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng