Bản án số 03/2026/HC-ST ngày 29/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2026/HC-ST ngày 29/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 03/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: KHiếu kiện QĐ hành chính, hành vi hành chính
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – LÂM ĐỒNG
Bản án số: 03/2026/HC-ST
Ngày: 29-6-2026
V/v khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Thanh Nữ Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Ngọc Đổi
2. Bà Phạm Thị Bích Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành là Thư Tòa án của Tòa án
nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng tham gia
phiên toà: Lê Thị Khánh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm
Đồng xét xử thẩm công khai
vụ án thụ lý số 05/2025/TLST-HC ngày 13 tháng 10
năm 2025 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2026/QĐXXST-HC
ngày 21 tháng 5 năm 2026 quyết định hoãn phiên tòa số 02/2026/QĐST-HC ngày
12 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Lê M, sinh năm 1963 (có mặt)
Bà Đào Thị L, sinh năm 1964 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn Bình T, xã B, tỉnh Lâm Đồng
Người bị kin:y ban nhân dân xã B.
Địa chỉ: Số 95 Nguyễn Tất H, xã B, tnh Lâm Đồng
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thúc Phước H1 - Chtịch UBND
Bắc Bình
Ủy quyền cho: Ông Nguyễn Anh K - Phó Chủ tịch UBND Bắc Bình (có
đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Nguyễn Th
Yến T1 - Phó Phòng kinh tế Ủy ban nhân dân xã Bắc Bình (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1958 (vắng mặt)
Ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1961 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn U, xã B, tỉnh Lâm Đồng
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện vợ chồng ông
Lê M bà Đào Thị L trình bày:
Gia đình ông là hộ dân canh tác lâu năm tại xã P. Từ năm 1983, gia đình ông
được Hợp tác nông nghiệp U cấp đất nông nghiệp để trồng đào làm dưa đậu
canh tác hàng năm. Đến năm 2001, gia đình ông mua thêm một thửa đất tại khu
vực Động Đỏ, của vợ chồng ông Nguyễn Văn M (trú cùng thôn) thể hiện trên bản
đồ địa chính mới là thửa đất số 90, tờ bản đồ số 34, diện tích 3.550,3m
2
.
Trong quá trình sử dụng, đất không có tranh chấp. Gia đình ông đã nhiều lần
làm hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) nhưng bị kéo dài không
rõ lý do.
Ngày 08/8/2022, UBND P gửi công văn cho gia đình ông, trong đó gia
đình ông mới được biết phần đất trên đã được UBND huyện Bắc Bình cấp sđỏ cho
Nguyễn Thị T2 (trú cùng thôn) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s
V881841, số thửa 144, tờ bản đồ số 2, diện tích 5.479m
2
, cấp ngày 30/7/2003.
Sau đó, gia đình ông đã nhiều lần gửi đơn khiếu nại đến UBND xã P. đã
tổ chức hòa giải vào các ngày 15/3/2023 20/3/2023, nhưng Nguyễn Thị T2
không hợp tác, không đến làm việc.
Ngày 04/4/2025 UBND huyện Bắc Bình chuyển đơn kiến nghị của ông cho
UBND xã Phan Rí Thành cũ đ giải quyết đơn của ông.
Ngày 12/6/225 UBND P trả lời đơn kiến nghị của ông hướng dẫn
ông gửi đơn ra Tòa án nhân dân đgiải quyết theo thẩm quyền.
Ông yêu cầu tòa án giải quyết:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V881841, thửa số 144, tờ bản
đồ số 2, diện tích 5.479m
2
nay là thửa số 43, tờ bản đồ số 01 tọa L tại khu vực Động
Đỏ Phan Thành cũ nay xã Bắc Bình do UBND huyện Bắc Bình cũ cấp ngày
cấp ngày 30/7/2003 đứng tên bà Nguyễn Thị T2;
- Thực hiện công vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình
ông Lê M đối với thửa đất số 90, tờ bản đồ số 34, diện tích 3.550,3m
2
nay là thửa số
170, tờ bản đồ số 90.
Thống nhất với bản vẽ của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực Bắc
Bình.
Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Người bị kiện UBND B đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Anh K trình
bày:
Diện tích 5.479m
2
được UBND huyện Bắc Bình cấp giấy chứng nhận quyền
3
sử dụng đất số V881841, cấp ngày 30/7/2003 cho bà Nguyễn Thị T2 thuộc thửa đất
s144, tờ bản đồ s 2 (nguồn bản đồ giải thửa 299, xã Phan Rí Thành cũ). Nay đối
chiếu theo bản đồ 920 Bắc Bình thửa đất s90, tờ bản đồ số 170, diện tích
3.550,3m
2
và một phần diện tích nằm trong thửa 283, tờ bản đồ số 170.
+ Đối với thửa đất số 90, tbản đồ số 170, diện tích 3.550,3 m
2
nguồn gốc
từ Hợp tác xã nông nghiệp Bình Thủy cấp cho ông Nguyễn Thương vào năm 1983,
sử dụng đến năm 1990 tặng cho lại vợ chồng ông Nguyễn Văn M tiếp tục sử dụng,
đến năm 2001 ông Nguyễn Văn M chuyển nhượng lại cho ông M, ông Lê M tiếp
tục sử dụng đến nay. Tại thời điểm Hợp tác nông nghiệp Bình Thủy giao đất năm
1983, thửa đất giáp ranh với đất ông Phan Cheo, đất bà Nguyễn Thị Son, đất ông Tạ
Xuân Mãi, ông Biều Tấn Linh.
+ Đối với diện tích đất nằm thửa đất số 283, tờ bản đồ số 170 thì tại thời điểm
Hợp tác ng nghiệp Bình Thủy giao đất năm 1983, diện tích này quy chủ tên
ông Biều Tấn Linh.
- Trên thực tế, thửa đất mà bà Nguyễn Thị T2 sử dụng là thửa đất số 43, diện
tích 4013,0m
2
, tờ bản đồ số 01, quy chủ bà Nguyễn Thị T2 (nguồn bản đồ giải thửa
299, xã Phan Rí Thành cũ). Nay đối chiếu theo bản đồ 920 xã Bắc Bình là thửa đất
số 76, diện tích 4.125,4m
2
, tờ bản đồ số 160. Nguồn gốc thửa đất số 76, diện tích
4.125,4m
2
, tờ bản đồ số 160 là do Hợp tác nông nghiệp Bình Thủy cấp cho ông
Nguyễn T3 vào năm 1982, sau này tặng cho lại vợ chồngNguyễn Thị T2.
Tại thời điểm Hợp tác Nông nghiệp Bình Thủy giao đất năm 1982, thửa
đất giáp ranh với đất bà Bùi Thị B1 (Bảy cao), bà Nguyễn Thị T4, ông Nguyễn Cu,
ông Lê Văn T5 (ông Tám ghẻ), bà Lâm Thị X (mẹ bà Nguyễn Thị Lộc).
Tình trạng sử dụng đất: Ông Lê M đang trực tiếp sản xuất trên thửa đất s số
90, tờ bản đồ s 170, diện tích 3.550,3m
2
Nguyễn Thị T2 không trực tiếp sản xuất
tại thửa đất số số 90, tờ bản đồ số 170, diện tích 3.550,3m
2
Từ các cơ sở trên, xác định việc huyện Bắc Bình cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số V881841, ngày 30/7/2003 cho bà Nguyễn Thị T2 là không đúng đối
tượng, chủ sử dụng đất.
UBND B đề nghị Tòa án nhân dân khu vực s13 - Lâm Đồng xét xử, tuyên
hủy giấy chứng nhận số V881841 cấp ngày 30/7/2003 cho Nguyễn Thị T2. Để
có cơ sở UBND xã B thực hiện thu hồi giấy chứng nhận UBND huyện Bắc Bình
đã cấp cho bà Nguyễn Thị T2 theo đúng quy định.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M trình bày: Ông
xác nhận chuyển nhượng đất cho ông M vào năm 2001 nên việc cấp đất cho
Thanh trong đó phần đất của ông chuyển nhượng cho ông M không đúng.
Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
- Người khởi kiện trình bày: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày: Tại
công văn số 991/UBND-NC, ngày 26/6/2026 của UBND Bắc Bình gửi Tòa án
4
nhân dân khu vực 13-Lâm Đồng thì thửa đất số 144, diện tích 5.479m
2
, tờ bản đồ số
2 (nguồn bản đồ 299) mục đích sdụng đất trồng cây lâu năm đã được UBND
huyện Bắc Bình (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất sV881841 ngày
30/7/2003 cho Nguyễn Thị T2, nay được xác đnh thửa đất số 90, diện tích
3.550,3m
2
tờ bản đồ số 170, mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm.
Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan
điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy
định của Luật tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Đề nghHội đồng xét xử áp dng khoản 1 Điều 30, khoản 2
Điều 31, Điều 157, Điều 158, Điều 348, Điều 358 Luật tố tụng hành chính 2025;
Điều 26, Điều 152 Luật Đất đai 2024; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y ban thường vụ Quc hội quy định
mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê M và bà Đào Thị L.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sV881841 do UBND huyện Bắc
nh cấp ngày 30/7/2003 cho bà Nguyễn Thị T2.
Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bkin
phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu nên ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ tại hồ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên
tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị của đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền người bị kiện vắng mặt nhưng
đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2
đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa
án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 158
của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Vợ chồng ông M Đào Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy giy
giấy chứng nhận quyền sdụng đất số V881841, thửa s144, tờ bản đồ số 2, diện
tích 5.479m
2
nay thửa số 90, tờ bản đồ s170 diện tích 3.550,3m
2
tọa L tại khu
vực Động Đỏ Phan Rí Thành nay Bắc Bình do UBND huyện Bắc Bình
cấp ngày cấp ngày 30/7/2003 đứng tên Nguyễn Thị T2 thực hiện công vụ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lê M Đào Thị L với
thửa đất diện tích 3.550,3m
2
thửa số 90, tờ bản đồ số 170.
Căn cứ Điều 30 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 2 của Luật số
85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên,
5
Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, Hội đồng xét xử xác định đây
“Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản đất
đai” thuộc thẩm quyền giải quyết ca Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng.
[3] Về tư cách tham gia tố tụng:
Kể từ ngày 01/7/2025, Ủy ban nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận đã
giải thể. Căn cứ Điều 4, Điều 5 của Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025
của Chính phủ “Quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02
cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai” hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2025; Văn bản số 285/TANDTC-PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối
cao. Trong quá trình thụ lý vụ án Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng xác
định người bị kiện Ủy ban nhân dân Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng chưa đúng
nay xác định lại người bị kiện là Chủ tịch UBND xã Bắc Bình.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày
31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị
quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ
khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật đất đai hiệu lực thi hành từ
ngày 31/01/2026 xác định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm quyền quyết định về
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư,… nhưng căn cLuật Tổ chức chính
quyền địa phương, Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội về xử một số vấn
đề liên quan đến sắp xếp tchức bộ máy nhà ớc tình hình thực tế của địa
phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp, y quyền cho cơ quan,
người thẩm quyền thực hiện đối với các nhiệm vụ quy định tại khoản này cho phù
hợp
Tại khoản 1 Điều 3 của Quyết định số 16/2026/QĐ-UBND ngày 25/3/2026
của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng phân cấp cho quan, người thẩm quyền
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp trong lĩnh vực đất đai trên địa n
tỉnh Lâm Đồng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã phân cấp thẩm quyền cho Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã thực hiện quyết định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định
, công nhận quyền sdụng đất đối với các trường hợp hộ gia đình: Hộ gia đình,
nhân... vậy, Tòa án vẫn xác định Chủ tịch y ban nhân dân Bắc Bình
người bị kiện.
[4] Về thời hiệu khởi kiện:
Theo vchồng ông Lê M trình bày thì từ năm 1983, gia đình ông được Hợp
tác nông nghiệp Bình Thủy cấp đất nông nghiệp đtrồng đào làm dưa đu
canh tác hàng năm. Đến năm 2001, gia đình ông có mua thêm một thửa đất tại khu
vực Động Đỏ, của vchồng ông Nguyễn Văn M thhiện trên bản đồ địa chính mới
là thửa đất số 90, tờ bản đồ số 170, diện tích 3.550,3m
2
.
Trong quá trình sử dụng, đất không có tranh chấp. Gia đình ông đã nhiều lần
làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị kéo dài không rõ lý do.
Ngày 08/8/2022 UBND Phan Thành gửi công văn cho gia đình ông,
trong đó gia đình ông mới được biết phần đất trên đã được UBND huyện Bắc Bình
cấp sổ đ cho Nguyễn Thị T2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
V881841, số thửa 144, tờ bản đồ số 2, diện tích 5.479m
2
, cấp ngày 30/7/2003.
6
Sau đó, gia đình ông đã nhiều lần gửi đơn khiếu nại đến UBND xã P. xã đã tổ
chức hòa giải vào các ngày 15/3/2023 20/3/2023, nhưng Nguyễn Thị T2 không
hợp tác, không đến làm việc.
Ngày 04/4/2025 UBND huyện Bắc Bình chuyển đơn kiến nghị của ông cho
UBND xã P cũ để giải quyết đơn của ông.
Ngày 12/6/225 UBND P trả lời đơn kiến nghị của ông hướng dẫn
ông gửi đơn ra Tòa án nhân dân đgiải quyết theo thẩm quyền. Ngày 23/7/2025 ông
M Đào Thị L làm đơn khởi kiện gửi Tòa án nhân dân khu vực 13-Lâm
Đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông M n thời hiệu khởi kiện theo
điểm a khoản 2, khoản 4 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông M vàĐào Thị L, Hội đồng
xét xử nhận thấy:
Diện tích 5.479m
2
được UBND huyện Bắc Bình cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số V881841, cấp ngày 30/7/2003 cho bà Nguyễn Thị T2 thuộc thửa đất
số 144, tờ bản đsố 2 (nguồn bản đồ giải thửa 299, P cũ). Nay đối chiếu theo bản
đồ 920 xã B thửa đất số 90, tbản đsố 170, diện tích 3.550,3m
2
. Thửa đất số 90,
tờ bản đồ số 170, diện tích 3.550,3m
2
nguồn gốc từ Hợp tác nông nghiệp U
cấp cho ông Nguyễn T3 vào năm 1983, sử dụng đến năm 1990 tặng cho lại vợ chồng
ông Nguyễn Văn M tiếp tục sdụng, đến năm 2001 ông Nguyễn Văn M chuyển
nhượng lại cho ông M ông M đang trực tiếp sản xuất trên thửa đất số 90,
tờ bản đồ số 170, diện tích 3.550,3m
2
. Thực tế hiện nay bà Nguyễn Thị T2 sử dụng
thửa đất số 76, diện tích 4.125,4m
2
, tờ bản đồ số 160 không phải diện tích đất hiện
ông Lê M đang quản lý.
Tại khoản 1 Điều 12 của Nghị định số 64-CP ngày 27-9-1993 của Chính phủ
về việc ban hành bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, nhân
sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp quy định:
“Ở những địa phương đất nông nghiệp đang do hợp tác nông nghiệp
quản lý, thì thực hiện như sau:
Nếu Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có văn bản
quy định và chỉ đạo giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng n định lâu dài, phù
hợp với những quy định của Nhà nước tại thời điểm đó, thì cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho họ”
Điều 24 của Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Ủy ban nhân dân huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân”
Điều 36 của Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Cơ quan có thẩm quyền giao
đất thì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...”
Như vậy, người được cấp giấy người trực tiếp sử dụng đất thực tế không
thống nhất với nhau. Việc UBND huyện Bắc Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số V881841 ngày 30/7/2003 cho bà Nguyễn Thị T2 đối với thửa s144, tờ
bản đồ s 2, diện tích 5.479m2 nay thửa số 90, tờ bản đồ số 170, diện tích
3.550,3m
2
là không đúng đối tượng sử dụng đất.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
7
cho người không trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất được cấp, làm ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền lợi ích hợp pháp của người đang sdụng đất thực tế. Việc
cấp giấy không đúng đối tượng sử dụng đất vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ
tục quản nhà nước về đất đai. Do đó, đủ căn cứ xác định Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số V881841 do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày 30/7/2003 cho
Nguyễn Thị T2 không bảo đảm tính hợp pháp về đối tượng được cấp giấy
thuộc trường hợp phải bị hủy theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND xã Bắc Bình đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xnhận thấy yêu cầu của vợ chồng ông Lê M và bà Đào
Thị L là có căn cứ để chấp nhận.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông M và bà Đào Thị L như đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[7] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được chấp nhận nên
người bị kin phải chịu án phí hành chính thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều
32 Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
[8] Về chi ptố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/02/2026
với số tiền là 5.428.118 đồng, ông Lê M tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định
này nên ghi nhận sự tự nguyện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 30; điểm a khoản 2, khoản 4 Điều 116; Điều 157; Điều 158; điểm b
khoản 2 Điều 193; khoản 1 Điều 206; khoản 1 Điều 359 của Luật Tố tụng hành
chính.
- Điều 22, Điều 36 của Luật Đất đai năm 1993.
- Khoản 3 Điều 2 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính,
Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án.
- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Lê M Đào Thị
L:
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V881841, thửa số 144, tờ bản đồ
số 2, diện tích 5.479m
2
tọa L tại khu vực Động Đỏ Phan Thành nay
8
Bắc Bình do UBND huyện Bắc Bình cấp ngày cấp ngày 30/7/2003 đứng tên
Nguyễn Thị T2.
2. Về án phí:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ
thẩm.
3. Vchi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/02/2026 với
số tiền là 5.428.118 đồng vợ chồng ông M bà Đào Thị L tự nguyện chịu chi phí
xem xét thẩm định này và đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo
bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại
phiên tòa quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án
được giao cho họ hoặc được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T
Thanh Nữ Kiều Oanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất