Bản án số 03/2026/HC-ST ngày 05/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2026/HC-ST ngày 05/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai
Số hiệu: 03/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/06/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: BẢN ÁN HÀNH CHÍNH SƠ THẨM GIỮA ÔNG HÀ XUÂN TR VÀ CHỦ TỊCH UBND PHƯỜNG S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - LÀO CAI
Bản án số: 03/2026/HC - ST
Ngày: 05/6/2026
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giàng Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hầu Tuyết Lan
2. Ông Phạm Văn Duyệt
- Thư phiên tòa: Đỗ Thị Hồng - Thư Tòa án nhân dân khu vực
7 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai tham gia phiên tòa:
Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai
xét xcông khai vụ án hành chính thụ s03/2026/TLST-HC ngày 26 tháng 01
năm 2026 vviệc “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính”, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2026/QĐXXST - HC ngày 21/4/2026; Thông
báo mở lại phiên tòa số 02/TB - TA ngày 18/5/2026, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Xuân Tr, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ dân phố
S2, phường S, tỉnh L. Vắng mặt
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S - ông Ngọc L; Địa
chỉ: Số 091 X, phường S, tỉnh L.
Người đại diện theo ủy quyền của người bkiện: Ông Nguyễn Phước T -
Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S (văn bản ủy quyền số 1123
ngày 16/12/2025). Vắng mặt
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị Nh, sinh năm
1981; Địa chỉ: Tổ dân phố S2, phường S, tỉnh L. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện
và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Năm 2007, ông Xuân Tr nhận chuyển nhượng của ông Khương Văn T 01
thửa đất diện tích khoảng 170,0 m
2
tại ngõ 606, đường Đ thị trấn S, huyện S
(nay TDP P 2, phường S), tỉnh L, trên đất có 01 ngôi nhà gdiện tích khoảng
160,0 m
2
. Số tiền nhận chuyển nhượng thửa đất này tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân của ông Tr Phạm Thị Nh, sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình
ông Tr tiếp tục sử dụng đất nhà ổn định, không xảy ra tranh chấp với ai. Đến
2
năm 2010, cột gỗ của căn nhà bị hỏng, ải mục nên ông Tr đã thay cột gỗ bằng
cột sắt để để đảm bảo an toàn cho việc trú. Năm 2013, do vách và mái nhà
xuống cấp hư hỏng trầm trọng, để ổn định cuộc sống, ông Tr đã sửa nhà, thay mái
Fibro xi măng bằng mái tôn, thay tường gỗ bằng tường gạch xây xi măng. Việc cải
tạo, sửa chữa ncủa ông Tr không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay
đổi ng năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình
thuộc trường hợp được miễn giấy phép xây dựng nên ông Tr không xin cấp giấy
phép xây dựng. Quá trình sửa chữa nhà ông Hà Xuân Tr và vợ Phạm Thị Nh không
bị lập biên bản vi phạm hành chính, xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng.
Tháng 10/2025, ông Tr nộp hồ đăng đất đai, đề nghị Chủ tịch UBND
phường S, tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với thửa đất nêu
trên. Ngày 14/12/2025, Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô thị phường S ban hành n
bản số: 580/KTHTĐT - QLĐ vviệc trả lại hồ đề nghị đăng đất đai, tài sản
gắn liền với đất của ông Tr. do trả lại: Tại Văn bản số 93/CV - QLTTĐT ngày
07/10/2025 của Đội quản trật tự đô thphường Sa Pa cho rằng: Chủ sử dụng
đất là ông Xuân Tr Phạm Thị Nh có địa chỉ tại TDP P 2, phường S. Qua
kiểm tra hồ lưu trữ tại Đội quản trật tự đô thị, vị trí trên hồ vi phạm
mang tên ông Đình Gi, công trình vi phạm trật tự xây dựng tại số nhà 30, ngõ
606, đường Điện Biên Phủ, tổ dân phố số 9C, thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa (nay
TDP P 2, phường S, tỉnh L). Đã được Đội Quản đô thị lập biên bản vi phạm
hành chính số: 62/BB - VPHC ngày 21/8/2015, được UBND huyện S () ban hành
quyết định XPHC số 676/QĐ - UBND ngày 27/8/2015. Việc ban hành văn bản trả
lại hồ đăng ký đất đai, từ chối việc đăng ký đất đai cho ông Tr của Chtịch Ủy
ban nhân dân phường S là trái quy định pháp luật. Ông Tr không đồng ý vì:
Thứ nhất, về tính hợp pháp của Biên bản vi phạm hành chính số: 62/BB -
VPHC ngày 21/8/2015 của Đội Quản đô thị Quyết định XPHC s676/QĐ -
UBND ngày 27/8/2015 của UBND huyện S (cũ).
Một là, ông Tr Nh không phải chủ thể bị lập Biên bản vi phạm hành
chính số: 62/BB - VPHC ngày 21/8/2015 b xử vi phạm hành chính theo
Quyết định XPHC số: 676/QĐ - UBND ngày 27/8/2015. Xử lý vi phạm hành chính
phải đúng chủ thể một nguyên tắc cốt lõi, đảm bảo tính công bằng, khách quan,
hiệu lực quản nhà nước theo điểm b, d khoản 1 Điều 3 Luật Xử vi phạm
hành chính năm 2012. Việc xử phạt phải áp dụng đúng đối tượng hành vi vi
phạm mà theo quy định của pháp luật bị xử lý hành chính. Nếu không, việc xử phạt
sẽ bị coi là trái pháp luật, không có giá trị.
Thành phần tham gia trong biên bản vi phạm hành chính gồm có Đại diện Đội
quản trật tự đô thị huyện Sa Pa chủ đầu xây dựng công trình ông
Đình Gi. Quyết định số 676/QĐ - UBND ngày 27/8/2015 xử phạt hành chính ông
Đình Gi chứ không phải ông Xuân Tr Phạm Thị Nh - chủ sử dụng thửa
đất. Do đó, vợ chồng ông Tr, bà Nh không có hành vi vi phạm và không bị lập biên
bản vi phạm hành chính, xử phạt hành chính.
Hai là, việc sửa chữa nhà của ông Tr không phải hành vi vi phạm pháp
luật. Ông Tr thực hiện thay cột gỗ bằng cột sắt, thay mái Fibro xi măng bằng mái
tôn, thay tường gỗ bằng tường gạch xây xi măng vào năm 2010 và năm 2013. Mỗi
lần cải tạo, sửa chữa này đều không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay
3
đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình.
Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 89 Luật Xây dựng m 2014 thì đây
trường hợp công trình được miễn giấy phép xây dựng.
Do đó, hành vi vi phạm được xác định trong Biên bản vi phạm hành chính số:
62/BB - VPHC ngày 21/8/2015 Quyết định xử phạt hành chính số: 676/QĐ -
UBND ngày 27/8/2015 là không đúng. Việc sửa chữa, cải tạo nhà của ông Tr thuộc
trường hợp công trình được miễn giấy phép xây dựng nên không vi phạm pháp luật
về xây dựng. vậy, quan nhà nước thẩm quyền lập biên bản quyết định
xử phạt hành chính về hành vi trên là trái quy định pháp luật.
Ba là, việc Đội Quản đô thị lập Biên bản vi phạm hành chính số: 62/BB -
VPHC ngày 21/8/2015 UBND huyện S (cũ) ban hành Quyết định XPHC số:
676/QĐ - UBND ngày 27/8/2015 quá thời hiệu xử vi phạm hành chính. Việc
ông Tr sửa chữa nhà đã thực hiện từ năm 2010 năm 2013 lần cuối cùng. Đến
tận ngày 21/8/2015 Đội Quản đô thị mới lập biên bản vi phạm hành chính
đến ngày 27/8/2015 UBND huyện S mới ban hành quyết định xử phạt hành
chính đã quá thời hạn 01 năm để từ khi ông Tr kết thúc việc sửa chữa nhà trong
trường hợp việc sửa chữa nhà của ông Tr bị cho là vi phạm pháp luật.
Từ những phân tích trên thể thấy rằng, Biên bản vi phạm hành chính số:
62/BB - VPHC ngày 21/8/2015 của Đội Quản đô thị Quyết định XPHC số
676/QĐ - UBND ngày 27/8/2015 của UBND huyện S (cũ) là trái pháp luật.
Thứ hai, về tính hợp pháp của Văn bản số 580/KTHTĐT - QLĐ ngày
14/12/2025 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường S về việc trả lại hồ sơ đề
nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất ông Hà Xuân Tr.
Như đã phân tích trên, Biên bản vi phạm hành chính số: 62/BB - VPHC
ngày 21/8/2015 của Đội Quản đô thị Quyết định XPHC s676/QĐ - UBND
ngày 27/8/2015 của UBND huyện S vi phạm quy định pháp luật. Hơn nữa, hành vi
“xây dựng công trình vi phạm trật tự” Văn bản số: 580/KTHTĐT QLĐ ngày
14/12/2025 nêu tức việc khởi công xây dựng công trình không có giấy phép xây
dựng do quan nhà nước thẩm quyền cấp vi phạm pháp luật xây dựng
không phải vi phạm pháp luật về đất đai. vậy, Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô
thị phường S ban hành Văn bản số: 580/KTHTĐT - QLĐ ngày 14/12/2025 căn cứ
vào Biên bản vi phạm hành chính số: 62/BB - VPHC ngày 21/8/2015 của Đội
Quản đô thị Quyết định XPHC số 676/QĐ - UBND ngày 27/8/2015 của
UBND huyện S (cũ) để cho rằng thửa đất số 17, tbản đồ số 48, diện tích 163,5
m
2
của ông Xuân Tr đã vi phạm pháp luật về đất đai, do đó không đủ điều kiện
cấp GCNQSD đất theo quy định tại Điều 138 Luật Đất đai năm 2024 trái pháp
luật.
Để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, ông Xuân Tr
đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy Văn bản số: 580/KTHTĐT - QLĐ ngày 14/12/2025 của Phòng
Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường S về việc trả lại hồ đề nghị đăng đất đai,
tài sản gắn liền với đất ông Hà Xuân Tr.
- Buộc Chủ tịch UBND phường S, tỉnh L phải thực hiện nhiệm vụ, ng vụ
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Xuân Tr bà Phạm Thị Nh
theo quy định của pháp luật.
4
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S trình
bày:
Ông Xuân Tr, Phạm Thị Nh đề nghị đăng đất đai, tài sản gắn liền
với đất thửa đất số 17, tờ bản đồ số 48, diện tích 163,5 đất đô thị, địa chỉ tại
TDP P 2, phường S. Nguồn gốc thửa đất nhận chuyển nhượng của ông Khương
Văn T từ năm 2007.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường S đã
Văn bản số 256/KTHTĐT-QLĐ ngày 24/9/2025 về xin ý kiến Đội quản trật tự
đô thị về VPHC đối với thửa đất đề nghị cấp GCNQSD đất. Ngày 07/10/2025 Đội
Quản trật tự đô thị Văn bản số 93/CV-QLTTĐT về việc trả lời văn bản số
256/KTHTĐT-QLĐ của phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô thị. Trong đó nội dung
xác định. “Chủ sử dụng đất ông Xuân Tr Phạm Thị Nh địa chỉ tại
TDP P 2, phường S. Qua kiểm tra hồ lưu trữ tại Đội Quản lý trật tự đô thị vị trí
trên hồ vi phạm mang tên ông Đình Gi, công trình vi phạm trật tự xây
dựng tại số nhà 30, ngõ 606 đường Điện Biên Phủ,tổ dân phố số 9c, thị trấn Sa Pa,
huyện Sa Pa (nay là TDP P 2, phường S, tỉnh L). Đã được Đội quản trật tự đô
thị lập biên bản vi phạm hành chính số 62/BB-VPHC ngày 21/8/2015, được UBND
huyện S (cũ)ban hành Quyết định XPHC số 676/QĐ-UBND ngày 27/8/2015”.
Căn cứ nội dung trên, công trình xây dựng (nkhung sắt kích thước dài
21,7 m, chiều rộng 5,2 m) trên thửa đất số 17, tờ bản đồ số 48, diện tích 163,5
của ông Xuân Tr, Phạm Thị Nh đã bị lập biên bản VPHC số 62/BB-VPHC
ngày 21/8/2015 và đã bị ban hành Quyết định XPHC số 676/QĐ-UBND ngày
27/8/2015 của UBND huyện S với chủ đầu tư xây dựng trên đất là ông Hà Đình Gi
(em trai ông Xuân Tr), do đó không đủ điều kiện cấp GCNQSD đất theo quy
định tại Điều 138 Luật Đất đai năm 2024. Do đó không đủ cơ sở để phòng Kinh tế,
Hạ tầng Đô thị trình Chủ tịch UBND phường đăng đất đai, cấp GCNQSD
đất theo nội dung đơn đề nghị của ông Hà Xuân Tr.
vậy ông Xuân Tr yêu cầu Tòa án tuyên hủy Văn
bản số 580/KTHTĐT - QLĐ ngày 14/12/2025 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô
thị phường S về việc trả lại hồ đnghị đăng đất đai, tài sản gắn liền với đất
của ông Xuân Tr buộc Chủ tịch UBND phường S phải thực hiện nhiệm vụ
công vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Xuân Tr không
cơ sở.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Lào Cai tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử:
Đối với Thẩm phán: Đã chấp hành đúng Luật Tố tụng hành chính từ khi thụ
lý, xác minh thu thập chứng cứ, đối thoại, chuyển hồ cho Viện kiểm sát nghiên
cứu trước thời điểm xét xử vụ án.
Đối với Hội đồng xét xử: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân
dân đã thực hiện xét xử đúng trình tự của Luật Tố tụng hành chính.
Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng hành chính
từ khi thụ lý vụ án đều đúng quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Áp dụng
điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính; điểm b khoản 1
5
Điều 136, Điều 138 Luật đất đai 2024; điểm h khoản 1 Điều 5 Nghị định số
151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm
quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực
đất đai; Điều 31 Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy
định về điều tra bản đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu tài sản gắn liền với đất hệ thống thông tin đất đai; khoản 2 Điều 15 của
Nghị định số 150/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định tổ chức các quan chuyên
môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân
dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; khoản 10
Điều 4 của Thông s19/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ nông nghiệp môi
trường hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của quan chuyên môn về
Nông nghiệp và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh) và Ủy ban nhân dân xã, phường,
đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung UBND
cấp xã) khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí tòa án, giải
quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.
1. Tuyên hủy Văn bản số 580 ngày 14/12/2025 của Phòng Kinh tế hạ tầng và
Đô thị phường S về việc trả lại hồ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất của
ông Hà Xuân Tr.
2. Buộc Chủ tịch UBND phường S, tỉnh L phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Xuân Tr bà Phạm Thị Nh
theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc Chủ tịch UBND phường S phải chịu án phí hành chính sơ
thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được kiểm tra,
xem xét tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên sở xem
xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện thẩm quyền giải quyết:
Ông Xuân Tr khởi kiện yêu cầu hủy văn bản số 580/KTHTĐT - QLĐ ngày
14/12/2025 của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường S về việc trả lại hồ sơ đề
nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất ông Hà Xuân Tr.
- Buộc Chủ tịch UBND phường S, tỉnh L phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Xuân Tr bà Phạm Thị Nh
theo quy định của pháp luật.
Việc thông báo trả hồ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN
QSDĐ) lần đầu của ông Xuân Tr do Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô thị phường
SaPa ban hành nằm trong quy trình cấp GCNQSDĐ cho nhân thuộc thẩm
quyền của Chủ tịch UBND phường S. Hành vi hành chính không cấp GCNQSDĐ
cho ông Xuân Tr của Chủ tịch UBND phường S, tỉnh L hành vi hành chính
trong lĩnh vực quản đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa
án nhân dân quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính còn trong
thời hiệu khởi kiện.
6
Về thẩm quyền giải quyết: Hành vi hành chính bị kiện thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào Cai theo quy định tại khoản 3 Điều 2
Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi Điều 31 Luật Tố tụng hành chính 2015.
[2] Xét tính hợp pháp của văn bản số 580/KTHTĐT - QLĐ ngày 14/12/2025
của Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị phường S
[2.1] Về thẩm quyền ban hành:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định 150/2025/NĐ-CP sửa đổi
tại Nghị định 370/2025/NĐ-CP Phòng Kinh tế ối với xã, đặc khu) hoặc Phòng
Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (đối với phường và đặc khu Phú Quốc) tham mưu, giúp
Ủy ban nhân dân cấp thực hiện chức năng quản nhà nước về các lĩnh vực
sau:…. Lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường, gồm: Đất đai…);
Tại khoản 1 Điều 3; điểm c khoản 10, Điều 4 Thông tư số 19/2025/TT -
BTNMT hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của quan chuyên môn về
Nông nghiệp i trường thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Về chức năng: “Cơ quan chuyên môn về Nông nghiệp Môi trường cấp
(bao gồm Phòng Kinh tế đối với xã, đặc khu hoặc Phòng Kinh tế, Hạ tầng
Đô thị đối với phường và đặc khu Phú Quốc) có chức năng tham mưu, giúp UBND
cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương về: đất đai…”;
Về nhiệm vụ: “b) Tham mưu, giúp Chủ tịch UBND cấp quyết định thu
hồi đất, quyết định phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư, quyết định giá đất cụ
thể, quyết định giá bán nhà tái định , quyết định giao đất, cho thuê đất, cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với nhân, quyết định giao đất đối với
cộng đồng dân theo quy định thuộc thẩm quyền; quyết định trưng dụng đất, gia
hạn trưng dụng đất theo quy định và các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền của Chủ
tịch UBND cấp xã; c) Thẩm định hồ về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
chuyển mục đích sử dụng đất; kiểm tra hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu tham mưu để UBND cấp xã
thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn
liền với đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của UBND cấp ”.
vậy, Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô thị phường S ban hành Văn bản số
580/KTHTĐT - QLĐ ngày 14/12/2025 về việc trả lại hồ đề nghị đăng đất
đai, tài sản gắn liền với đất ông Xuân Tr không đúng thẩm quyền theo quy
định tại điểm h khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của
Chính phủ; Điều 31 Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ;
khoản 2 Điều 15 của Nghị định số 150/NĐ-CP ngày 12/6/2025; khoản 10 Điu 4
ca Thông tư s19/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 ca Bnông nghip môi trưng.
[2.2] Về trình tự, thủ tục ban hành: Văn bản số: 580/KTHTĐT - QLĐ trả lại
hồ sơ xin cấp GCNQSDĐtài sản gắn liền với đất của ông Xuân Tr là không
đúng quy định tại Mục II Mục V nội dung C Phần V Phụ lục I ban hành kèm
theo Nghị định s 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ.
[2.3] Về nội dung:
Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô thị phường S ban hành Văn bản số:
580/KTHTĐT - QLĐ ngày 14/12/2025 căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính
số: 62/BB - VPHC ngày 21/8/2015 của Đội Quản lý đô thị S Quyết định XPHC
7
số 676/QĐ - UBND ngày 27/8/2015 của UBND huyện S (cũ), để trả lại hồ xin
cấp GCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất của ông Xuân Tr không đúng quy
định của pháp luật bởi lẽ:
Thứ nhất: Về nguồn gốc quá trình sử dụng đất tài sản trên đất. Năm
2007, ông Tr nhận chuyển nhượng 01 thửa đất diện tích khoảng 170,0 m
2
tại ngõ
606, đường Đ thị trấn S, huyện S (nay TDP P 2, phường S), tỉnh L của ông
Khương Văn T. Trên đất 01 ngôi nhà gỗ diện tích khoảng 160,0 m
2
. Số tiền
nhận chuyển nhượng thửa đất này tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông
Tr Phạm Thị Nh nên xác định đây tài sản chung hợp pháp trong thời kỳ
hôn nhân của ông Hà Xuân Tr và bà Phạm Thị Nh.
Thứ hai: Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông Tr tiếp tục sử dụng đất
và nhà ổn định, không xảy ra tranh chấp.
Thứ ba: Việc sửa chữa nhà của ông Tr không vi phạm pháp luật. Ông Tr thực
hiện thay cột gỗ bằng cột sắt, thay mái Fibro xi măng bằng mái tôn, thay tường gỗ
bằng tường gạch xây xi măng vào năm 2010 năm 2013. Mỗi lần cải tạo, sửa
chữa này đều không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng
sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình. Theo quy định
tại điểm g khoản 2 Điều 89 Luật Xây dựng năm 2014 thì đây trường hợp công
trình được miễn giấy phép xây dựng.
“Điều 89. Đối tượng và các loại giấy phép xây dựng
1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu phải giấy phép
xây dựng do cơ quan nhà nước thẩm quyền cấp theo quy định của Luật này, trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Công trình được miễn giấy phép xây dựng gồm:
g) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không
làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm
ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình;”.
Thứ tư: Tại giấy xác nhận thông tin ngày 04/5/2026 của ông Đỗ Văn D, sinh
năm 1976; bà Đàm Thị Ng, sinh năm 1979; ông Phạm Đình Q, sinh năm 1967; ông
Nguyễn Thành L, sinh năm 1978; ông Âu Đình Đ, sinh năm 1976; Cùng trú tại: Tổ
dân phố P 2, phường S, tỉnh L đều xác nhận biết về nguồn gốc, quá trình sử
dụng đất và thời điểm hình thành nhà của gia đình ông Hà Xuân Tr;
Về nguồn gốc thửa đất do gia đình ông Xuân Tr nhận chuyển nhượng
nhà đất của ông Khương n T từ năm 2007, sử dụng ổn định, không tranh
chấp với ai. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất đã nhà cấp IV trên đất.
Vào năm 2010, nhà trên đất của ông Tr bị hỏng, không đảm bảo an toàn cho
việc cư trú nên những công dân trên có chứng kiến ông Tr thay cột gỗ bằng cột sắt
sau đó thay mái Fibro xi măng bằng mái tôn, thay tường gỗ bằng tường gạch
xây xi măng. Lần cuối ông Tr sửa chữa năm 2013. Ông Tr Nh người
trực tiếp thực hiện việc sửa chữa và quản lý ngôi nhà trên.
Biên bản xác minh ngày 29/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lào
Cai. Ông Quang H, sinh năm 1958; Tổ trưởng tổ dân phố P 2, phường S cung
cấp thông tin: Ông H m tổ trưởng tổ dân phố từ trước năm 2000 đến nay. Nguồn
gốc diện tích đất ông Xuân Tr Phạm Thị Nh tại: số nhà 30, ngõ 606,
đường Đ thị trấn S, huyện S (nay TDP P 2, phường S), tỉnh L do gia đình ông
8
Xuân Tr nhận chuyển nhượng nhà đất của ông Khương Văn T, thời gian
cụ thể thì Ông H không nhớ. Khi nhận chuyển nhượng trên đất 01 ngôi nhà gỗ,
từ khi nhận chuyển nhượng quá trình sử dụng không xảy ra tranh chấp đối với
diện tích đất trên. Sau khi nhận chuyển nhượng ông Tr thực hiện việc sửa chữa
nhà, ông Tr không báo với tổ dân phố, việc sửa chữa nhà của ông Tr cụ thể như
nào, thành mấy lần thì Ông H không biết. Ông H biết ông Tr thay cột gỗ bằng cột
sắt, thay mái ngói bằng mái tôn, việc sửa nhà vẫn giữ nguyên diện tích như nhà gỗ
ban đầu. Ông Tr đã thực hiện kê khai địa chính đối với diện tích đất trên. Thời gian
đo đạc năm 2016, năm 2018 thì được nghiệm thu.
Như vậy ông Hà Xuân Tr và bà Phạm Thị Nh là người sử dụng nhà và đất tại
thửa số 17, tờ bản đồ số 48, diện tích 163,5 m
2
ông Hà Xuân Tr tại địa chỉ ngõ 606,
đường Điện Biên Phủ, TDP P 2, phường S ổn định từ trước ngày 01/07/2014 nên
ông Xuân Tr và Phạm Thị Nh đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ theo quy
định tại Điều 138 Luật đất đai năm 2024.
Xét Biên bản vi phạm hành chính số: 62/BB - VPHC ngày 21/8/2015 của
Đội Quản lý đô thị S:
Về đối tượng: Đối tượng bị lập Biên bản vi phạm hành chính số: 62/BB -
VPHC ngày 21/8/2015 là ông Đình Gi, sinh năm 1984, số CMTND *********
do Công an tỉnh Y cấp ngày 06/4/2002; địa chỉ thường trú: ngõ 606, đường Đ thị
trấn S, huyện S. Địa điểm xảy ra vi phạm: Ngõ 606, đường Đ t dân phố số 9C,thị
trấn S.
Ông Quang H - Ttrưởng trưởng tổ dân phố cung cấp thông tin: Thời
điểm từ năm 2015 đến nay trên địa bàn tổ dân phố không có công dân họ và tên
Đình Gi, sinh năm 1984, số CMTND 060723xxx do Công an tỉnh Y cấp ngày
06/4/2002 cư trú tại địa chỉ ngõ 606, đường Đ thị trấn S, huyện S (nay TDP P 2,
phường S). Trên địa bàn tổ dân phố chỉ ông Văn Gi, sinh ngày 02/02/1984;
Địa chỉ trú tại: Số nhà 14 Ngõ 606, đường Đ thị trấn S, huyện S (nay TDP P
2, phường S, tỉnh L) em trai của ông Xuân Tr. Năm 2015, ông không được
thông báo tham gia lập biên bản vi phạm hành chính về xây dựng tại ngõ 606,
đường Đ thị trấn S, huyện S nên ông không biết người bị lập biên bản là ai, sự việc
lập biên bản diễn ra như thế nào.
Về nội dung: Biên bản thể hiện ông Đình Gi các hành vi vi phạm
“Chủ đầu tổ chức thi công xây dựng công trình không giấy phép xây dựng
được cấp thẩm quyền cấp. Hiện trạng: Dựng nhà khung sắt, công trình kích
thước chiều dài 21,7 (m), chiều rộng (5,2m - 9,4m) chiều cao đỉnh mái 4,5(m). Chủ
đầu tư xây dựng công trình trên nền nhà cũ). Biên bản không thể hiện công trình vi
phạm được xây dựng trên diện tích đất có địa chỉ, vị trí tại đâu, tứ cận như thế nào.
Biên bản lấy lời khai của của ông Hà Văn Gi (em trai ông Xuân Tr) trình
bày: Khoảng năm 2010 - 2011 Ông Gi mua đất tại số 14, ngõ 606, đường Đ thị
trấn S, huyện S (nay là TDP P 2, phường S), tỉnh L. Năm 2013 Ông Gi đã xây nhà
tường gạch mái tôn và sinh sống ổn định từ đó đến nay, quá trình Ông Gi xây dựng
nhà không bị lập biên bản vi phạm hay xử . Ông Gi chưa bao giờ bị lập biên
bản vi phạm hành chính về hành vi vi phạm gì, Ông Gi cũng không biết việc ông bị
xử phạt tại Quyết định XPHC số: 676/QĐ - UBND ngày 27/8/2015. Qua thông tin
làm việc với Tòa án ông mới biết, tuy nhiên tại biên bản vi phạm số 62/BB -
9
VPHC ngày 21/8/2015 thì tên người vi phạm Đình Gi không đúng tên đệm
của ông, tên của ông là Văn Gi; Năm sinh và số chứng minh nhân dân thì trùng
khớp với năm sinh và số CMND cũ của ông, chữ ký trong biên bản không phải chữ
ký của ông.
Bản ghi ý kiến ngày 12/5/2026 của ông Đỗ Xuân Q, Năm sinh: 1983; Nghề
nghiệp: Chuyên viên Trung tâm dịch vụ tổng hợp phường S (nguyên viên chức
Đội quản trật tự đô thị thuộc - phòng Quản đô thị, thị S) khẳng định việc
ông thực hiện nhiệm vụ lập biên bản vi phạm hành chính số: 62/BB - VPHC ngày
21/8/2015 đối với ông Đình Gi; sinh m 1984; Địa chỉ số 14, ngõ 606, đường
Đ thị trấn S, huyện S (nay TDP P 2, phường S), tỉnh L - chủ đầu xây dựng
công trình là đúng quy định. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong
hồ ván thể hiện việc lập biên bản vi phạm hành chính 62/BB - VPHC ngày
21/8/2015 Đội Quản đô thị S không chính xác về đối tượng vi phạm, vị t
công trình vi phạm, không xác định được ai chủ sử dụng đất hợp pháp nơi
công trình vi phạm, chữ ký của người vi phạm trong hồ sơ không thống nhất.
Do đó đủ căn cứ khẳng định ông Xuân Tr Phạm Thị Nh không
có hành vi vi phạm hành chính, không bị lập biên bản và không bị xử phạt vi phạm
hành chính. Vì vậy việc Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô thị đã ban hành Văn bản số
580/KTHTĐT - QLĐ trả lại hxin cấp GCNQSDĐ tài sản gắn liền với đất
của ông Xuân Tr không đúng quy định, n yêu cầu khởi kiện của ông
Xuân Tr về việc tuyên hủy văn bản số 580/KTHTĐT QLĐ ngày 14/12/2025 của
Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô thị phường S về việc trả lại hồ đề nghị đăng
đất đai, tài sản gắn liền với đất ông Hà Xuân Tr là có căn cứ, cần chấp nhận.
[2.4] Xét sở Chủ tịch UBND phường S xác định ông Xuân Tr,
Phạm Thị Nh không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
quy định tại Điều 138 Luật đất đai năm 2024.
Điều 138 quy định: “Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất đối với trường hợp hộ gia đình, nhân đang sử dụng đất
không giấy tờ về quyền sdụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai,
không thuộc trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền”.
“Điều 11 Luật Đất đai 2024 thì hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đất
đai, bao gồm: Lấn đất, chiếm đất, hủy hoại đất; Vi phạm quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước về đất đai; Vi phạm chính sách về đất đai đối với đồng bào dân
tộc thiểu số; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định của pháp luật về
quản lý đất đai; Không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin đất đai không
chính xác, không đáp ứng yêu cầu về thời hạn theo quy định của pháp luật; Không
ngăn chặn, không xử hành vi vi phạm pháp luật về đất đai; Không thực hiện
đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất; Sử dụng
đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất không đăng với quan
thẩm quyền; Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối
với Nhà nước; Cản trở, gây khó khăn đối với việc sử dụng đất, việc thực hiện
quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Phân biệt đối xử về giới
trong quản lý, sử dụng đất đai”.
Ông Hà Xuân Tr và bà Phạm Thị Nh đã nhận chuyển nhượng và là người có
10
quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 48, diện tích 163,5 m
2
tại TDP P 2, phường S. Ông Xuân Tr Phạm Thị Nh thực hiện đúng quy
định của pháp luật, không xảy ra tranh chấp, không bị chính quyền địa phương xử
phạt vi phạm pháp luật về đất đai.
vậy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường S xác định ông Xuân Tr,
Phạm Thị Nh không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
quy định tại Điều 138 Luật đất đai năm 2024 là không đúng, làm ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hà Xuân Tr và bà Phạm Thị Nh.
[3] Xét yêu cầu: Buộc Chủ tịch UBND phường S, tỉnh L phải thực hiện
nhiệm vụ, ng vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho ông Xuân Tr
và bà Phạm Thị Nh theo quy định của pháp luật.
Tại văn bản số 953/UBND - KTHTĐT ngày 27/3/2026 về việc cung cấp
thông tin trong lĩnh vực đất đai của Uỷ ban nhân dân phường S đã cung cấp: Thửa
đất số 17, tờ bản đồ số 48, diện tích 163,5 m
2
của ông Xuân Tr tại địa chỉ ngõ
606, đường Điện Biên Phủ, TDP P 2, phường S. Thửa đất nằm trong dự án Khu
trung tâm hành chính mới huyện Sa Pa, tuy nhiên quy hoạch đất ở, hiện trạng
(đất dân cư ở), nên không bị thu hồi đất.
Về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030. Theo Quyết định số 1708/QĐ -
UBND ngày 08/7/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc phê duyệt điều chỉnh
điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 thị S, tỉnh L. Thửa đất của ông
Hà Xuân Tr được quy hoạch là đất ở đô thị (ODT).
Từ những căn cứ chứng minh về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của ông
Xuân Tr Phạm Thị Nh được Hội đồng xét xử nhận định trên xác định
trên diện tích đất của ông Tr Nh đã nhà ở, ông Tr, Nh sử dụng ổn định
trước ngày 01/07/2014, không vi phạm, không bị lập biên bản vi phạm hành chính
về đất đai; phù hợp với quy hoạch kế hoạch sử dụng đất nên được công nhận
đất . vậy, đủ căn cứ xác định diện tích đất thông tin theo hồ xin cấp
GCNQSDĐ của ông Hà Xuân Tr đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo quy định tại Điều 138 Luật đất đai năm 2024 nên yêu cầu khởi kiện của
ông Hà Xuân Tr là có căn cứ, cần chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu được Tòa án chấp nhận nên người khởi kiện ông
Xuân Tr không phải chịu tiền án phí hành chính thẩm. Người bị kiện Chủ
tịch Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh L phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 136; Điều 138 Luật đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 31 Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ;
Điểm h, khoản 1, điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP của Chính phủ; Khon 2
Điều 15 Nghđịnh 150/2025/NĐ- CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ sửa
đi ti Nghị đnh 370/2025/-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ; khoản
1 Điều 3; điểm c khoản 10, Điều 4 Thông tư số 19/2025/TT - BTNMT ngày 19/6/2025
của Bộ Nông nghiệp môi trường; điểm b, khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành
chính ược sửa đổi, bsung một số điều theo Luật s85/2025/QH15) ngày 25
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội;
11
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 m 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Xuân Tr.
Hủy Văn bản số 580/KTHTĐT - QLĐ ngày 14/12/2025 của Phòng Kinh tế,
Hạ tầng Đô thị phường S về việc trả lại hồ đề nghị đăng đất đai, tài sản
gắn liền với đất ông Hà Xuân Tr.
Buộc Chủ tịch UBND phường S, tỉnh L phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ s48,
diện tích 163,5 m
2
, tại địa chỉ ngõ 606, đường Điện Biên Phủ, TDP P 2, phường S
cho ông Hà Xuân Tr và bà Phạm Thị Nh theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm:
Người khởi kiện ông Xuân Tr không phải chịu tiền án phí hành chính
thẩm và được hoàn lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng phí, lphí tòa án số 0000323 ngày 26/01/2026
ngày 26/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh L phải chịu 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hành
chính trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm
yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6,7,7a,7b 9 Luật thi hành án
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA tỉnh Lào Cai; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND Khu vực 7 - Lào Cai;
- Các đương sự;
- Phòng THADS KV7 - Lào Cai;
- Lưu TA,VP, HS.
Giàng Thị Thu Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/HC-ST Bản án số 03/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất