Bản án số 03/2020/LĐ-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An về tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 03/2020/LĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 03/2020/LĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 03/2020/LĐ-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An về tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bến Lức (TAND tỉnh Long An) |
| Số hiệu: | 03/2020/LĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/09/2020 |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Hợp đồng lao động |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BN LC
TỈNH L
Bản án số: 03/2020/LĐ-ST
Ngày: 29-9-2020
V/v tranh chấp hợp đồng lao
động, bồi thường thiệt hại do bị
đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BN LC - TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Miên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Anh Thư – Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện B
2. Ông Đào Bá Lộc – Nguyên Phó Phòng Lao động Thương binh và Xã hội
huyện B.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bn Lức, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bn
Lức, tỉnh L mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số:
13/2019/TLST-LĐ ngày 10/12/2019 về việc “tranh chấp hợp đồng lao động”, theo
Quyt định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-LĐ ngày 24 tháng 8 năm
2020, quyt định hoãn phiên tòa số 02/QĐST-LĐ ngày 10/9/2020 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1956;
Địa chỉ: ấp M1, xã M2, thành phố M3, tỉnh T.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền cho ông M: Ông Nguyễn Thành T,
sinh năm 1961 (theo giấy ủy quyền ngày 04/9/2019, có mặt). Địa chỉ: Ấp 8, xã L,
huyện B, tỉnh L.
- Bị đơn: Công ty TNHH Dịch vụ - Bảo vệ Thit bị PCCC TC; (vắng mặt).
Địa chỉ: số 38 ấp 5, xã Ph, huyện B, tỉnh L.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh L, Chức vụ:
Giám đốc.
2
HKTT: ấp X, xã T, huyện C, tỉnh L.
Địa chỉ hiện nay: ấp X, xã T, huyện C, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/9/2019, bản tự khai và trong quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Ngọc M do ông Nguyễn Thành T trình bày:
Ngày 25/01/2019 ông M được công ty TNHH DV-BV và Thit bị PCCC
TC (gọi tắt là công ty TC) nhận vào làm bảo vệ và điều ông đn bảo vệ cho
Phòng khám Đa Khoa D. Trong quá trình làm việc Công ty không ký hợp đồng
lao động với ông M mà chỉ yêu cầu ông M nộp sơ yu lý lịch và đóng th chân
2.200.000 đồng để được phát thẻ và đồng phục. Mức lương thỏa thuận là
4.500.000 đồng/tháng, làm việc 30 đn 31 ngày/tháng, không có ngày nghĩ hàng
tuần, nghĩ lễ tt, không được hưởng tiền tăng ca thêm giờ và không được hưởng
bảo hiểm xã hội thời gian làm việc 12 ting/ngày, ca ngày từ 6 giờ sáng đn 18
giờ chiều, ca đêm từ 18 giờ chiều hôm trước đn 6 giờ sáng ngày hôm sau, luân
phiên làm 1 tuần ngày, 1 tuần đêm.
Ngày 31/5/2019 Công ty cho ông M thôi việc và đưa ra lý do Phòng khám
đa khoa D không ký hợp đồng với Công ty nữa. Tuy nhiên, công ty còn nợ lương
tháng 5/2019 là 4.500.000 đồng và tiền th chân 2.200.000 đồng, đồng thời
không bồi thường quyền lợi hợp đồng cho ông.
Nay ông M yêu cầu Công ty TC phải chi trả các khoản sau:
(1)- 04 Tháng lương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: 4 tháng
x 4.500.000 đồng = 18.000.000 đồng;
(2)- 30 ngày lương vi phạm thời gian thông báo trước: 5.192.307 đồng;
(3)- Truy thu tiền lương ngày nghĩ hàng tuần: 4.500.000 đồng : 26 x 18
tuần = 3.115.384 đồng.
(4)- Truy thu tiền giờ làm thêm ban đêm 30% tính từ 22h đn 02 giờ sáng
hôm sau: 4.500.000 đồng : 26 : 8 x 30% x 4 x 15 đêm/tháng x 4 tháng 3 đêm =
1.635.506 đồng.
(5)- Truy thu tiền lễ, tt 8 ngày 4.500.000 đồng : 26 x 8 x 300% =
4.153.824 đồng.
(6)- Truy thu tiền tăng ca giờ làm thêm ban đêm từ 2 giờ sáng đn 6 giờ
sáng 4.500.000 đồng : 26 : 8 x 200% x 4 x 15 đêm/tháng x 4 tháng 13 ngày =
10.903.845 đồng.
(7)- Truy thu tiền làm tăng ca giờ làm ban ngày: 4.500.000 đồng : 26 : 8
x 1,5 x 4 x 15 ngày/tháng x 4 tháng 3 ngày = 2.725.804 đồng.
(8)- 07 tháng lương những ngày không được làm việc, tạm tính từ tháng
6/2019 đn tháng 12/2019 là 4.500.000 đồng x 7 tháng = 31.500.000 đồng.
3
(9)- Truy thu tiền bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2019 đn tháng 12/2019:
11 tháng + 4 tháng BHXH đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là 15
tháng: 4.500.000 đồng x 22% x 15 tháng = 14.850.000 đồng.
(10)- Truy thu tiền phép năm 4 ngày từ tháng 2 đn tháng 5/2019:
4.500.000 đồng : 26 x 4 = 692.304 đồng.
(11)- Tiền lương tháng 5/2019 là 4.500.000 đồng + tiền th chân
2.200.000 đồng = 6.700.000 đồng.
Tổng cộng tất cả các khoản trên là 99.468.974 đồng.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thành T rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu
Công ty bồi thường 7 tháng tiền lương những ngày không được làm việc và tiền
phép năm 4 ngày theo yêu cầu tại mục (8) và mục (10), vẫn giữ nguyên các yêu
cầu khởi kiện khác.
Bị đơn Công ty TNHH Dịch vụ - Bảo vệ và Thiết bị PCCC TC CLC đã được
Tòa án tống đạt đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đơn khởi kiện, thông báo thụ
lý, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tip cận, công khai chứng cứ và
hòa giải, Quyt định đưa vụ án ra xét xử và quyt định hoãn phiên tòa nhưng vắng
mặt, không cung cấp văn bản trình bày ý kin cũng như ý kin phản đối hay yêu
cầu phản tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh L phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố
tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án
cho đn trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, ông T đại diện theo ủy quyền của ông M xin rút lại một phần
yêu cầu khởi kiện đối với 07 tháng tiền lương những ngày không được làm việc
và truy thu tiền phép năm 04 ngày là hoàn toàn tự nguyện, do đó cần đình chỉ đối
với một phần yêu cầu khởi kiện này.
Giữa ông M với Công ty không ký hợp đồng lao động nhưng ông M cung
cấp được bản tên do Công ty TC cấp, Phòng khám đa khoa D cũng xác nhận ông
Nguyễn Ngọc M làm việc tại phòng khám từ ngày 25/01/2019 với mức lương là
4.500.000đ/tháng. Trong quá trình giải quyt vụ án công ty đã được tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kin phản
đối nên có cơ sở xác định giữa ông M và Công ty có thỏa thuận hợp đồng lao động
bằng lời nói. Lương thỏa thuận là 4.500.000 đồng/tháng không bao gồm các quyền
lợi làm thêm giờ, ngày nghĩ lễ, tt và không được hưởng bảo hiểm xã hội. Do
Công ty không chứng minh được đã thanh toán tiền lương cho ông M nên phải có
trách nhiệm trả lương tháng 5/2019 cho ông M là 4.500.000 đồng.
4
Về tiền th chân: Ông M yêu cầu Công ty hoàn trả tiền th chân 2.200.000
đồng nhưng không cung cấp biên nhận. Tuy nhiên, Tại biên bản làm việc ngày
06/8/2020 đoàn giải quyt lao động giải quyt khiu nại lao động giữa Công ty do
ông Nguyễn Thanh L – Giám đốc công ty làm đại diện với người lao động là ông
Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn Tr không có mặt ông Nguyễn Ngọc M. Trong
biên bản thể hiện thông qua đơn cứu xét hổ trợ giải quyt và đơn tố cáo của ông
Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn Tr, ông Nguyễn Ngọc M và lời trình bày của
ông H, ông Tr thì phía công ty đồng ý trả tiền lương và tiền th chân cho người
lao động. Tuy nhiên trong biên bản chỉ thể hiện người lao động th chân số tiền
2.100.000đ chứ không phải 2.200.000đ như ông M trình bày. Nên chỉ có cơ sở
chấp nhận số tiền ông M th chân tại Công ty là 2.100.000 đồng, hiện nay Công
ty và ông M đã chấm dứt hợp đồng thì Công ty phải có trách nhiệm trả lại số tiền
này cho ông M.
Đối với các yêu cầu khác: Giữa ông M và Công ty không có ký kt hợp
đồng lao động. Theo thỏa thuận giữa ông M và Công ty thì mức lương Công ty là
trả cho ông M là 4.500.000đ/tháng. Thời gian làm việc là 12 giờ/ngày, từ 06 giờ
sáng tới 06 giờ chiều hoặc từ 06 giờ chiều tới 06 sáng, 01 tuần làm ngày, 01 tuần
làm đêm, làm việc 30-31 ngày/tháng, làm luôn cả ngày nghỉ hàng tuần, ngày nghỉ,
lễ, tt. Không được hưởng ngày nghỉ hàng tuần, tiền lễ, tt, không được hưởng
tăng ca làm thêm giờ, không được hưởng quyền lợi BHXH. Đây là sự thỏa thuận
thống nhất giữa hai bên nên không có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của ông M về chi trả tiền nghỉ hàng tuần, tiền lễ tt, tiền tăng ca thêm giờ,
ban đêm, ban ngày, tiền BHXH.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1.1] Ông M khởi kiện yêu cầu Công ty TC bồi thường liên quan đn việc
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, yêu cầu thanh toán tiền
lương và các quyền lợi khác theo hợp đồng lao động. Căn cứ Khoản 1 Điều 32 Bộ
luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp
về hợp đồng lao động và đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật”. Bị đơn
Công ty TC có trụ sở chính tại huyện B, tỉnh L. Căn cứ Khoản 1 Điều 35 và Điểm
a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh L có
thẩm quyền giải quyt vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 31/5/2019 ông M bị công ty chấm dứt
hợp đồng, ngày 06/8/2019 Phòng lao động thương binh và xã hội hòa giải khiu
5
nại tranh chấp lao động, ngày 05/9/2019 ông M khởi kiện đn Tòa án là còn thời
hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Lao động.
[1.3] Về việc vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tin hành tống đạt theo thủ tục tố
tụng dân sự năm 2015 tại địa chỉ trụ sở chính và địa chỉ cư trú của ông Nguyễn
Thanh L – Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của công ty nhưng bị đơn vẫn
không có mặt, không có văn bản trình bày ý kin. Do đó, Tòa án tin hành giải
quyt vụ án vắng mặt bị đơn.
[1.4] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thành T là người đại diện theo ủy quyền
của ông M yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc: yêu cầu Công ty bồi
thường 7 tháng tiền lương những ngày không được làm việc và tiền phép năm.
Việc ông T đại diện theo ủy quyền của ông M rút đơn thuộc phạm vi ủy quyền và
hoàn toàn tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đình chỉ một phần yêu
cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc M đối với các yêu cầu này.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Xét hình thức, nội dung hợp đồng lao động: Giữa Công ty TC với ông
Nguyễn Ngọc M không ký kt hợp đồng lao động, chỉ thỏa thuận miệng và nộp
tiền th chân và được cấp thẻ bảo vệ và đồng phục. Theo thỏa thuận thì ông M
được nhận vào làm công việc Bảo vệ tại Phòng khám đa khoa D, lương thỏa thuận
là 4.500.000 đồng/tháng, làm việc 30 đn 31 ngày/tháng, không có ngày nghĩ hàng
tuần, nghĩ lễ tt, không được hưởng tiền tăng ca thêm giờ và không được hưởng
bảo hiểm xã hội thời gian làm việc 12 ting/ngày, ca ngày từ 6 giờ sáng đn 18
giờ chiều, ca đêm từ 18 giờ chiều hôm trước đn 6 giờ sáng ngày hôm sau, luân
phiên làm 1 tuần ngày, 1 tuần đêm. Ông T thừa nhận khi giao kt hợp đồng hai
bên đều tự nguyện, không bị ai ép buộc, không thỏa thuận về thời hạn hợp đồng,
chỉ thỏa thuận mức lương, giờ giấc và địa điểm làm việc ngoài ra không được
hưởng bất kỳ quyền lợi nào khác, làm tháng nào nhận tiền tháng đó, ông cũng
không bit thỏa thuận giữa Công ty TC và Phòng khám đa khoa D trong thời gian
bao lâu. Phòng Khám đa khoa D để thất lạc hợp đồng giữa Công ty TC với phòng
khám, bị đơn không có văn bản trình bày ý kin phản đối. Do đó, có cơ sở xác
định giữa Công ty TC và ông M có giao kt hợp đồng bằng lời nói theo từng tháng.
Nội dung thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật, không
trái đạo đức xã hội nên thỏa thuận này là căn cứ để xác định quyền, nghĩa vụ các
bên.
[2.2] Về yêu cầu đòi thanh toán tiền lương tháng 5/2019 là 4.500.000 đồng:
Theo lời trình bày của ông M và Phòng khám đa khoa D thì ông M làm việc tại
phòng khám D đn ht ngày 31/5/2019 thì công ty TC chấm dứt hợp đồng nhưng
chưa được trả lương tháng 5/2019. Theo thỏa thuận người lao động làm tháng nào
được hưởng lương tháng đó nhưng công ty không có văn bản trình bày ý kin hay
phản đối nên đây là tình tit, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại
khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi
kiện này của ông M.
6
[2.3] Về yêu cầu trả tiền th chân 2.200.000 đồng: theo ông M trình bày khi
nhận công việc phải th chân 2.200.000 đồng để nhận thẻ và đồng phục. Tại biên
bản thể hiện thông qua đơn cứu xét hổ trợ giải quyt và đơn tố cáo của ông Nguyễn
Văn H, ông Nguyễn Văn Tr, ông Nguyễn Ngọc M và lời trình bày của ông H, ông
Tr thì phía công ty đồng ý trả tiền lương và tiền th chân cho người lao động. Tuy
nhiên trong biên bản chỉ thể hiện người lao động th chân số tiền 2.100.000đ chứ
không phải 2.200.000đ như ông M trình bày. Ông M không có chứng từ chứng
minh ông đã đóng tiền th chân là 2.200.000 đồng. Do đó, chỉ có cơ sở xác định
ông nộp th chân là 2.100.000 đồng. Khi nộp tiền th chân ông M được nhận đồng
phục và bảng tên, hai bên không thỏa thuận hậu quả giải quyt số tiền th chân
này. Bị đơn không có văn bản trình bày ý kin đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Hiện nay ông M đã nghỉ việc tại Công ty nên Công ty phải có trách nhiệm trả lại
số tiền này cho ông M.
[2.4] Bệnh viện D trình bày ông M làm mất xe của bệnh viện nhưng bị đơn
không có ý kin gì trong vụ án này. Nu có căn cứ xác định có sự việc mất xe
hoặc thanh toán tiền đồng phục hay các vấn đề khác thì công ty có thể khởi kiện
bằng vụ án khác.
[2.5] Đối với yêu cầu truy thu tiền làm thêm ban ngày, ban đêm, truy thu
tiền lương ngày nghĩ hàng tuần, ngày nghĩ lễ tt, nghĩ phép năm... Xét thấy, theo
đoạn [2.1] đã nhận định ở trên giữa ông M và công ty TC chỉ thỏa thuận hợp đồng
lao động bằng lời nói, thỏa thuận mức lương 4.500.000 đồng/tháng trọn gói cho
công việc mỗi tháng 30-31 ngày, mỗi ngày 12 ting luân phiên 1 tuần ngày 1 tuần
đêm, không có ngày nghĩ hàng tuần, nghĩ lễ tt, không được hưởng quyền lợi bảo
hiểm xã hội. Việc hai bên giao kt hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, thời điểm
giao kt hợp đồng ông M chấp nhận theo thỏa thuận về mức lương , thời gian làm
việc và quyền lợi trong hợp đồng. Trong thời gian làm việc từ tháng 1/2019 đn
tháng 4/2019 ông M đều nhận lương mỗi tháng 4.500.000 đồng và không có ý
kin phản đối gì. Do đó, các yêu cầu này của ông không được chấp nhận.
[2.6] Đối với yêu cầu bồi thường 30 ngày vi phạm thời gian báo trước, bồi
thường 4 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Xét thấy,
như đã nhận định ở đoạn [2.1] thì Hợp đồng lao động giữa Công ty và ông M là
Hợp đồng thỏa thuận hàng tháng, làm tháng nào nhận lương tháng đó nên không
ràng buộc trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng phải báo trước. Do đó, việc công
ty chấm dứt hợp đồng với ông M thuộc trường hợp ht hạn hợp đồng lao động
theo quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động. Từ ngày 31/5/2019 đn nay Phòng
khám đa khoa D đã nhận ông làm việc với mức lương thỏa thuận giữa ông với
công ty TC tới nay nên ông không bị thiệt hại. Do đó, không có cơ sở chấp nhận
các yêu cầu này của ông.
[2.7] Từ các cơ sở trên có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của ông M về việc yêu cầu Công ty TC thanh toán tiền th chân 2.100.000 đồng
và tiền lương tháng 5/2019 là 4.500.000 đồng. Không chấp nhận các yêu cầu khác
của ông M.
7
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc M được miễn án phí lao động sơ thẩm;
Công ty TC phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị
quyt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
[4] Phát biểu của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
điểm c Khoản 1 Điều 217, Khoản 2 Điều 244, Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều
273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 15, 16. 17, 36, 90, 94, 95, 96, 201, 202 của Bộ luật Lao động
2012;
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyt số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc M về việc: Yêu cầu
yêu cầu Công ty TCbồi thường 7 tháng tiền lương những ngày không được làm
việc và tiền phép năm.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc M về việc
yêu cầu Công ty TNHH Dịch vụ - Bảo vệ Thit bị PCCC TC thanh toán tiền lương
và tiền th chân. Buộc Công ty TNHH Dịch vụ - Bảo vệ Thit bị PCCC TC có
nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Ngọc M 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm
ngàn đồng), bao gồm: 4.500.000 đồng lương tháng 5/2019 và 2.100.000 đồng tiền
th chân.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đn
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc M về yêu cầu bồi
thường đơn phương chấm dứt hợp đồng, 30 ngày lương vi phạm thời gian thông
báo trước, truy thu tiền làm thêm ban ngày và ban đêm, truy thu tiền lương ngày
nghĩ lễ tt, ngày nghĩ hàng tuần, truy thu tiền bảo hiểm xã hội.
4. Về án phí lao động sơ thẩm:
Ông Nguyễn Ngọc M được miễn án phí lao động sơ thẩm;
Công ty TC phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí lao động
sơ thẩm.
8
5. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo đối với bản án: Đương sự có
mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm)
ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15
(mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ theo quy định tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
ch thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
-TAND tỉnh L;
-VKSND huyện Bn Lức;
-CCTHADS huyện Bn Lức;
-Các đương sự;
-Lưu HS-AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
Hồ Thị Miên
9
Thành viên Hội đồng xét xử
Nguyễn Anh Thư – Đào Bá Lộc
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
Hồ Thị Miên
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 04/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 28/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 26/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 21/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 06/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 30/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 19/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 23/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 23/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 23/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 09/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm