Bản án số 02/2022/LĐ-ST ngày 28/07/2022 của TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2022/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2022/LĐ-ST ngày 28/07/2022 của TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bá Thước (TAND tỉnh Thanh Hóa)
Số hiệu: 02/2022/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2022
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: BHXX huyện Bá Thưc[s kiện Lò văn lến
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BÁ THƯỚC Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH THANH HOÁ
Bản án số: 02/2022/-ST
Ngày 28 - 07- 2022
V/v: “Tranh chấp bảo hiểm xã hội”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Trương Thị Quý
2. Ông Trương Cao Quý
Thư phiên tòa: Nguyễn Hải Vân - Thư Tòa án, Tòa án nhân dân
huyện Bá Thước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa:
Ông Hà Văn Quyển - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 07 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện
Thước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động sơ thẩm thụ lý số:
01/2022/TLST - ngày 25/04/2022 về vụ án: “Tranh chấp Bảo hiểm xã hội”,
theo Quyết định đưa v án ra xét x số: 01/QĐXX-ST ngày 24/06/2022
Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2022/QĐST-ngày 12 tháng 07 năm 2022
giữa;
Nguyên đơn: Bảo hiểm xã hội huyện BT, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Số 02, Phố 2, thị trấn CN, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Bá Quý; Chức vụ: Giám đốc (có mặt)
Bị đơn: Ông Lò Văn L , Sinh năm 1957(vắng mặt)
Địa chỉ: , thị trấn CN, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn trình bày:
Bảo hiểm Xã hội huyện BT - Người đại diện theo pháp luật - Ông Q,
chức vụ - Giám đốc trình bày quan điểm:
Thị D hưu trí trú tại thị trn CC, huyện BT. Sau khi chết thì thân
nhân Hà Thị D làm hồ sơ thanh toán tiền mai táng phí, tiền tuất xuất
2
trình 01 giấy chứng tử số 44 cấp ngày 12/8/2012 nội dung ghi Hà Thị D
chết ngày 16/6/2011. Tờ khai của thân nhân chỉ ghi chồng của Thị D
ông Lò Văn L , các con của bà D là Lò Thị H và Lò Thị D đều sinh năm 1984.
Bà D chết ngày 16/6/2011 đã nhận được 19 tháng lương hưu trí.
Thời điểm năm 2011 quan thẩm quyền thanh toán chế độ tử tuất
Bảo hiểm Xã hội tỉnh Thanh Hóa. Nên Bảo hiểm hội huyện BT đã lập hồ
đề nghị Bảo hiểm Xã hội tỉnh Thanh Hóa giải quyết chế độ tuất một lần cho thân
nhân Hà Thị D theo tờ khai D không phải nuôi dưỡng ai trước khi
chết.
Tại Quyết định số: 03/QĐ-BHXH ngày 05/01/2012 của Bảo hiểm Xã hội tỉnh
Thanh Hóa. Về việc hưởng chế độ tuất một lần. Ông Văn L (chồng Hà
Thị D ) thay mặt cho các thân nhân nhận gồm các khoản sau:
1. Tiền tuất thanh toán một lần là 39,5 tháng lương hiện D đang hưởng là
39,5 x 2.658.000đ = 105.014.700đ
2.Tiền trợ cấp mai táng phí bằng 10 tháng lương bản với mốc lương bản
của tháng 06 năm 2011 là 830.000đ.
Tổng tiền mai táng là 10 x 830.000đ = 8.300.000đ
Tổng số tiền được thanh toàn 113.314.700đ (Một trăm mười ba triệu ba trăm
mười bốn nghìn bảy trăm đồng).
Sau đó ngày 13/6/2013 ông Văn P Thị K nhiều lần đơn
yêu cầu giải quyết tiền tuất hàng tháng. Từ năm 2014 Bảo Hiểm Hội tỉnh
Thanh Hóa Bảo hiểm Xã hội huyện BT đã cùng với chính quyền địa phương
xác minh đã xác định được Hà Thị D chết ngày 20/3/2011 nhưng quá trình
khai báo thanh toán tiền tuất nhân thân bà D lại xuất trình 01 giấy báo t Hà
Thị D chết ngày 16/6/2011.
Khi còn sống Thị D trách nhiệm phải nuôi dưỡng gồm bố chồng
Văn Ó sinh năm 1923 (chết ngày 25/3/2012), bố mđẻ của Thị D
ông Hà Văn P sinh năm 1936 mẹ đẻ là Hà Thị K sinh năm 1934.
Bảo hiểm Xã hội tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định số: 18/-BHXH ngày
20 tháng 9 năm 2014 hủy Quyết định s: 03/-BHXX ngày 05/01/2021 của
Giám đốc Bảo hiểm hội tỉnh Thanh Hóa về việc hưởng chế độ tuất một lần
đối ông Lò Văn L , chồng bà Hà Thị D .
Thu hồi gồm: Tiền lương do khai báo muộn từ tháng 4, 5, 6/2011 là 7.655.500đ
-Trợ chấp mai táng phí là 8.300.000đ
-Trợ cấp tuất một lần là 105.014.700đ.
Tổng số tiền thu hồi 120.970.200đ (Một trăm hai mươi triệu chín trăm bảy
mươi nghìn hai trăm đồng).
3
Sau đó Bảo hiểm Xã hội huyện BT Bảo hiểm hội tỉnh Thanh Hóa đã
nhiều văn bản thông báo yêu cầu ông Văn L giao nộp lại toàn bộ số tiền đã
nhận sai chế độ cho Bảo hiểm xã hội huyện BT để làm thủ tục thanh toán lại chế
độ tiền tuất cho các thân nhân theo đúng quy định.
Ông Văn L không nộp lại số tiền 120.970.200đ (Một trăm hai ơi
triệu chín trăm bảy mươi nghìn hai trăm đồng).
Theo Quyết định số 355/QĐ-BHXX ngày 29/6/2020 của Giám đốc Bảo
hiểm hội tỉnh Thanh Hóa. Về việc phân cấp giải quyết chế độ bảo hiểm
hội thì Bảo hiểm hội huyện BT là một trong những đơn vị được quyền giải
quyết chế độ bảo hiểm gồm: Hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Bảo hiểm Xã hội huyện BT có quyền chủ động, tổ chức, thực hiện, xét duyệt các
chế độ bảo hiểm xã hội trên địa bàn quản lý.
Nay Bảo hiểm hội huyện BT nộp đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu
ông Văn L hoàn trả toàn bộ tiền đã nhận sai chế độ để giải quyết lại
120.970.200đ (Một trăm hai mươi triệu chín trăm bảy mươi nghìn hai trăm
đồng). Và xuất trình các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc Bảo hiểm xã hội đã
nhiều lần làm việc và nhiều lần có văn bản yêu cầu ông Văn L hoàn trả toàn
bộ số tiền đã nhận 120.970.200đ để giải quyết lại. Trong đó biên bản làm
việc ngày 22/7/2015 giữa Bảo hiểm hội tỉnh Thanh Hóa, UBND huyện
Thước, UBND thị trấn CN (BL: 11,12,13) ý kiến ông Lò Văn L (ông L đã có ý
kiến đồng ý trả 03 tháng lương do cấp giảm chậm và trả số tiền tuất một lần còn
tiền mai táng phí thì đề nghị không thu hồi).
Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải ngày 23/5/2022 (BL: 47; 56-57)
Ông Lò Văn L trình bày: Bà Hà Thị D là vợ của ông L chết đột xuất, ông
L là người lo mai táng hậu scho bà D nên được hưởng tiền tuất. Bảo hiểm xã
hội huyện BT đơn vị thẩm định hồvà đề nghị nghị Bảo hiểm xã hội chi trả
thì phải trách nhiệm xác minh thẩm định hồ đgiải quyết chế độ tuất một
lần hoặc theo tiền tuất hàng tháng. Ông L chngười nhận tiền theo quyết
định số: 03/QĐ-BHXH ngày 05/01/2012. Việc quan bảo hiểm không xác
minh thẩm định ngày chết và thân nhân của người chết là thiết sót cũng cần phải
chịu trách nhiệm.
Quan điểm của Bảo hiểm xã hội huyện BT yêu cầu ông Lò Văn L hoàn trả
toàn bộ tiền đã nhận gồm 8.300.000đ (Tám triệu ba trăm nghìn đồng) tiền mai
táng, 105.014.700đ (Một trăm linh năm triệu không trăm ời bốn nghìn bảy
trăm đồng) tiền tuất một lần 7.655.000đ (Bảy triệu sáu trăm m mươi m
nghìn đồng) khoản truy thu tiền hưởng sai lương ttháng 4 đến tháng 6 năm
2011.
Tại phiên tòa: Bảo hiểm hội huyện BT giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
buộc ông Lò Văn L hoàn trả 105.014.700đ (Một trăm linh năm triệu không trăm
mười bốn nghìn bảy trăm đồng) tiền tuất một lần và 7.655.000đ (Bảy triệu sáu
4
trăm năm mươi lăm nghìn đồng) khoản truy thu tiền hưởng sai lương từ tháng 4
đến tháng 6 năm 2011.
Đối với khoản tiền mai táng phí thì truy thu khoản tiền hưởng sai là 8.300.000đ-
7.300.000đ =1.000.000đ (Một triệu đồng).
Tổng số tiền yêu cầu ông Văn L phải hoàn trả 105.014.700đ +
7.655.000đ + 1.000.000đ =113.669.700đ (Một trăm mười ba triệu sáu trăm sáu
mươi chìn nghìn bảy trăm đồng).
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng
từ khi thụ đến khi xét xử thẩm phán, thư HĐXX tuân thủ đúng trình tự
thủ tục tố tụng ban hành các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự;
Về nội dung giải quyết vụ án căn cứ các Điều 66, 67 ca Lut bo him xã
hội năm 2019. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn -
Bảo hiểm hội huyện BT buộc bị đơn hoàn trả tiền bảo hiểm hội do hưởng
sau chế độ 113.669.700đ (Một trăm mười ba triệu sáu trăm sáu mươi chín
nghìn bảy trăm đồng). Đề nghị miễn án phí cho bị đơn theo quy định tại điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V t tng: Đây vụ án “Tranh chp bo him xã hi kin yêu cu hoàn
tr tiền do hưởng sai chế độ bo him hi theo quy định ti đim d khon 1
Điu 32 ca BLTTDS và thuc thm quyn gii quyết theo quy định tại điểm c
khon 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 ca BLTTDS. Thm phán, thư
HĐXX đã thc hiện đúng đầy đ theo quy đnh trình t t tng ca B
Lut t tng dân s.
[2] Quan h pháp luật: Đây v án“Tranh chp v Bo him hi - kin yêu
cu hoàn tr tiền do hưởng sai chế độ bo him xã hi.
[3]. Tư cách tham gia tố tng:
Về cách tham gia tố tụng của nguyên đơn: Theo Quyết định số 355/QĐ-
BHXX ngày 29/6/2020 của Giám đốc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Thanh Hóa. Về việc
phân cấp giải quyết chế độ bảo hiểm hội thì Bảo hiểm hội huyện BT
một trong những đơn vị được quyền giải quyết chế độ bảo hiểm chế đgồm:
Hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Bảo hiểm hội huyện BT
quyền chủ động, tổ chức, thực hiện, xét duyệt các chế độ bảo hiểm hi
trên địa bàn quản lý. Như vậy Bảo hiểm hội huyện BT tham gia tố tụng với
tư cách là người khởi kiện –là nguyên đơn.
5
Về cách tham gia tố tụng của bị đơn: Ông Văn L chồng của bà Thị
D (đã chết) người thụ hưởng tiền mai tang phí đã nhận chế độ tiền tuất
một lần. Ông L người bị kiện yêu cầu hoàn trả toàn bộ tiền ng sai chế độ
bo him xã hi nên ông Lò Văn L tham gia t tng với tư cách là b đơn.
[4] V ni dung v án: Căn cứ Điu 66, 67 ca Lut Bo hiểm năm 2019
căn c xác định Bảo hiểm hội huyện BT đã lập hđề nghị thanh toán
chế độ tuất một lần theo tờ khai của nhân thân bà Hà Thị D mà không xác minh
thẩm định tính xác thực của giấy chứng tử và thân nhân của người chết. Dẫn đến
việc giải quyết sai chế độ và không giải quyết tiền tuất tháng cho những nhân
thân của bà Hà Thị D mà khi sống bà D có nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Về căn cứ áp dụng Điều 63, Điều 64 Luật bảo Hiểm Hội năm 2006 quy định
tiền mai táng phí bằng mười tháng lương bản, người nghĩa vụ nuôi dưỡng
khi người chết còn sống cha đẻ, cha chồng trên 60 tuổi, mẹ đẻ, mẹ chồng trên
55 tuổi. Mức hưởng trợ cấp tháng nay được quy định trong Luật BHXH năm
2019 tương ứng các điều 66, điều 67, điều 68 nhưng không thay đổi về
nội dung nên HĐXX áp dụng quy định của Luật BHXH năm 2019.
Tháng 4 năm 2011 lương cơ bản là 730.000đ; Từ tháng 5/2011 đến tháng 4/2012
lương cơ bản là 830.000đ.
Thời điểm Thị D chết, ông Văn L chồng người lo mai
táng phí, hương khói cho Thị Dụ nên ông Văn L là đối tượng được
hưởng tiền mai táng phí.
Như vậy bà Thị D chết tháng 03 năm 2011 mức lương bản
730.000đ/tháng.Tiền mai táng phí bằng mười tháng lương bản là 7.300.000đ
(Bảy triệu ba trăm nghìn đồng). Nhưng hồ thanh toán bảo hiểm với giấy
chứng tử Hà Thị Dụ chết tháng 06 năm 2011 nên ông Lò Văn L đã được hưởng
tiền tuất 8.300.000đ (Tám triệu ba trăm nghìn đồng). Như vậy ông Văn L
đã hưởng sai chế độ mai táng pcủa Thị D 8.300.000đ - 7.300.000đ
=1.000.000đ (Một triệu đồng).
-Đối với yêu cầu hoàn trả tiền lương do hưởng sai chế độ (do báo cắt
giảm chậm) của bà Hà Thị D từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2011 số tiền
7.655.000đ là có căn cứ.
Do Thị D chết thời điểm đó bố mẹ đbố chồng D còn sống
đều trên 60 tuổi thuộc diện được hưởng tiền tuất hằng tháng. Theo quy định
tại Điều 67 Luật bảo hiểm hội năm 2019 được quy định tại Điều 64 Luật
Bảo hiểm xã hội năm 2006.
Việc quan Bảo hiểm hội giải quyết chế độ “tiền tuất một lần” cho
ông Lò Văn L là sai chế độ và không đúng đối tượng được hưởng. Như vậy ông
Lò Văn L đã hưởng sai chế độ tiền tuất một lần là 105.014.700đ. Nay Bảo hiểm
6
hội huyện Thước kiện ông Văn L yêu cầu hoàn trả toàn bộ tiền tuất
một lần đã nhận cho Bảo hiểm xã hội là có căn cứ.
Về án phí: Ông Lò Văn L là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí
theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ áp dng:
- Căn cứ áp dng: Các Điều 66, Điều 67 ca Lut bo him xã Hi năm 2019.
Căn cứ: đim d khon 1 Điu 32; Đim c khoản 1 Điu 35 Đim a khon 1
Điu 39; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 ca B lut t tng dân s;
- Căn cứ : Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Chp nhn yêu cu khi kin ca nguyên đơn v vic yêu cầu ông Văn L
phi hoàn tr toàn b tin tut mt ln 105.014.700đ (Một trăm linh năm triệu
không trăm mười bốn nghìn bảy trăm đồng).
-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Văn L
phải hoàn trả toàn bộ tiền 03 tháng lương (của Thị D ) do khai báo muộn
gồm: Tháng 4,5,6 năm 2011 7.655.000đ (Bảy triệu sáu trăm m mươi lăm
nghìn đồng).
-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ông Lò Văn L phải hoàn
trả khoản tiền mai táng phí do hưởng sai chế độ 8.300.000đ - 7.300.000đ
=1.000.000đ (Một triệu đồng).
3.Buộc Ông Văn L trách nhiệm hoàn trả tiền tuất một lần do hưởng sai
chế độ 105.014.70 (Một trăm linh năm triệu không trăm mười bốn nghìn
bảy trăm đồng). Ông Văn L phải hoàn trả tiền lương do hưởng sai chế độ
của Thị D ) do khai báo muộn gồm: Tháng 4,5,6 năm 2011 số tiền
7.655.000đ (Bảy triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng), ông Văn L phải
hoàn trả tiền đã hưởng sai chế độ mai táng phí của Thị D 8.300.000đ -
7.300.000đ =1.000.000đ (Một triệu đồng). Tổng số tiền ông Văn L phải
hoàn trả cho Bảo hiểm xã hội huyện Bá Thước 113.669.700đ (Một trăm mười
ba triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm đồng).
4. Ông Lò Văn L được miễn toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.
Án thẩm vắng mặt ông Văn L , mặt Bảo hiểm hội huyện
Thước. Bảo hiểm hội huyện BT quyền kháng cáo án thẩm trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Văn L quyền kháng cáo án thẩm
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống dạt án hợp lệ.
7
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Bá Thước;
-Chi cục THADS huyện Bá Thước;
…..
- Lưu hồ sơ vụ án.
T M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Quyên
8
HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Yến Nguyễn Văn Đàn Trần Thị Quyên
Tải về
Bản án số 02/2022/LĐ-ST Bản án số 02/2022/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất