Bản án số 01/2026/HC-ST ngày 29/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2026/HC-ST ngày 29/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 14 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 01/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/05/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bản án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 01/2026/HC-ST Bản án số 01/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2026/HC-ST Bản án số 01/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 – VĨNH LONG
Bản án số: 01/2026/HC-ST
Ngày: 29-5-2026.
“Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất
đai (hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất)”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Sĩ Thạo;
2. Ông Nguyễn Trường Sinh.
- Thư phiên tòa: Liêng Thị Kim Ngân, là Thư Tòa án nhân dân
Khu vực 14 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 14 Vĩnh Long tham gia
phiên tòa: Ông Trương Thanh Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 Vĩnh
Long tiến hành xét xử thẩm công khai vụ án hành chính thụ số:
03/2026/TLST-HC ngày 06 tháng 3 năm 2026 về việc Khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh vực quản nhà nước về đất đai (hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
123/2026/QĐXXST-HC ngày 11 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1948. Địa chỉ: Ấp Đ,
H, tỉnh V; Có mặt.
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A. Địa chỉ: Khóm 1,
phường D, tỉnh V; Vắng mặt có đơn xin vắng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Thái Thị Cúc H, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp Đ, H, tỉnh V;
mặt.
- Trần Thị Ti P, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khóm C, phường D, tỉnh V;
Có mặt.
2
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967. Địa chỉ: Khóm C, phường D, tỉnh
V; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/02/2026 các lời khai trong qtrình giải
quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Văn C trình bày:
Hiện tại ông C đang quản lý, sử dụng thửa đất số 571, tờ bản đồ số 02, tọa
lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V. Nguồn gốc thửa đất nêu trên do ông nhận
chuyển nhượng của ông Lý Hùng B vào năm 2013 và được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa số 109, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
. Sau khi nhận
chuyển nhượng, ông sử dụng đất ổn định, liên tục, công khai trên thực địa cho
đến nay, giáp với đất của ông C đất của bà Trần Thị Ti P, hai bên sử dụng đất
ổn định không có tranh chấp gì. Tuy nhiên, qua kiểm tra hồ sơ địa chính và Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông phát hiện vị trí cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông Trần Thị Ti P không đúng, cụ thể: Thửa đất
vợ chồng ông đang sử dụng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thuộc thửa số 571, tờ bản đồ số 02, do Trần Thị Ti P đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Đối với phần đất Trần Thị Ti P ông Nguyễn
Văn S đang quản lý, sử dụng thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thuộc thửa đất số 109, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
do ông Nguyễn Văn C
Thái Thị Cúc H đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất. Như vậy, có căn cứ xác định rằng
Nhà nước đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng vị trí thửa đất
trên thực địa, cụ thể cấp nhầm giữa thửa đất s571 thửa đất s109, làm
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Vì vậy, ông Nguyễn
Văn C yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn
Văn C Thái Thị Cúc H đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 02, diện tích
1.150m
2
tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho Trần Thị Ti P đối với thửa đất số 571, tờ bản đồ số 02,
diện tích 1.150m
2
, tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V, đông đề nghị
quan có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận cho đúng vị trí.
Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A vắng mặt nên không có
ý kiến trình bày.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Thái Thị Cúc H trình bày:
thống nhất với yêu cầu của ông Nguyễn Văn C yêu cầu hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn C và bà Thái Thị Cúc H
đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
tọa lạc tại Khóm C,
phường D, tỉnh V hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần
Thị Ti P đối với thửa đất số 571, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
, tọa lạc tại
Khóm C, phường D, tỉnh V.
3
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trần Thị Ti P trình bày:
Bà P và ông Nguyễn Văn S đang quản lý sử dụng phần diện tích 1.150m
2
,
tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V được nhà nước cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thuộc thửa 571, tờ bản đồ số 02 do Trần Thị Ti P đứng
tên. Nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng từ ông Dương Văn R. Sau khi
chuyển nhượng cho đến nay, vợ chồng P sử dụng ổn định, không tranh chấp
với ai. Cho đến tháng 10/2025 P được ông Nguyễn Văn C thông báo đất
cấp sai vị trí, tức phần đất mà vợ chồng Bà P đang quản lý sử dụng là thuộc thửa
109 quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn C và bà Thái Thị Cúc H,
còn thửa 571 P được cấp quyền sử dụng thì thực tế do ông C H
đang quản sử dụng. Nếu trường hợp quyền sử dụng đất cấp sai vị trí thì
yêu cầu cấp đổi lại quyền sử dụng đất cho đúng vị trí, còn đối với yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tP không đồng ý. đất này P sử
dụng ổn định, chỉ sai về vị trí cấp đất nên P đnghị cấp đổi lại cho đúng
vị trí.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Văn S trình bày:
Trường hợp đã cấp sai vị trí đất thì ông yêu cầu cơ quan nhà nước cấp đổi
lại quyền sử dụng đất cho đúng vị trí, còn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của thửa 571 và thửa 109 thì ông không đồng ý nếu hủy thì vợ
chồng ông phải làm thủ tục cấp lại quyền sử dụng đất stốn kém chi phí nên
ông không đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa:
Người khởi kiện ông Nguyễn Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn C
Thái Thị Cúc H đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp cho Trần Thị Ti P đối với thửa đất số 571, tờ bản đồ số 02, diện tích
1.150m
2
, tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V.
Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A có đơn xin xét xử vắng
mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị Cúc H, Trần Thị Ti
P và ông Nguyễn Văn S đều thống nhất với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn C Thái Thị Cúc H đối với thửa đất
số 109, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Trần Thị Ti P đối với
thửa đất số 571, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
, tọa lạc tại Khóm C, phường
D, tỉnh V.
Vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa và phát biểu ý kiến:
4
- Về thủ tục tố tụng: Thủ tục thụ hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật,
thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ hòa giải, thành
phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi
khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt cho các đương sự
đầy đủ đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành
đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án xác định Ủy ban nhân
dân phường A người bị kiện chưa đúng. Theo Công văn 285/TANDTC-PC
ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao xác định người bị kiện Chủ tịch
Ủy ban nhân dân phường A. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xác định lại
cách người tham gia tố tụng
- Về giải quyết vụ án:
Nhận thấy, thửa số 109, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khóm C, phường D,
tỉnh V do bà Trần Thị Ti Pông Nguyễn Văn S đang quản lý, nhưng quyền sử
dụng đất do ông Nguyễn Văn C Thái Thị Cúc H đứng tên. Thửa 109 giáp
với thửa 571, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V do ông
Nguyễn Văn C và bà Thái Thị Cúc H quản lý, sử dụng nhưng quyền sử dụng đất
do Trần Thị Ti P đứng tên. Ranh giới sử dụng ổn định, rõ ràng, không xảy ra
tranh chấp với ai. vậy, có căn cứ xác định thửa 109 thửa 571 cấp sai vị trí
sử dụng nên yêu cầu khởi kiện về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa 109 và 571 nêu trên của ông Nguyễn Văn C là có cơ sở chấp nhận.
+ Về án phí, chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Ngày 15/10/2025, ông Nguyễn Văn C được Chi nhánh Văn phòng đăng đt
đai khu vc 16 thông o bằng Văn bn s 560/CNKV16-KT v vic h sơ
không thc hiện được vic cấp đi vi do khi kho sát hin trạng đt ca
ông Nguyễn Văn C sai v trí tha đt kho sát so vi giy chng nhn quyn s
dụng đất đưc cp, hin trng thửa đất ông đang s dng thuc tha 571, t
bản đồ s 2 (nhm tha 11, t bn đ s 121 theo tư liệu đo đạc năm 2025).
Lúc này ông C mi biết được thửa đất trong giy chng nhn quyn s dng
đất ca ông không đúng vi thc tế đang s dng thửa đt trong s ca ông
thc tế do Trn Th Ti P và ông Nguyn Văn S đang s dng, còn thửa đất
trong s ca bà Trn Th Ti P do v chng ông C đang qun , s dng.
vy, ông Nguyễn Văn C khi kin yêu cu a án hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn C Thái Thị Cúc H đối với thửa đất
số 109, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V
hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho Trần Thị Ti P đối với
5
thửa đất số 571, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.150m
2
, tọa lạc tại Khóm C, phường
D, tỉnh V để được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với hiện
trạng đang sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật tố tụng
hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử xác định
quan hệ pháp luật là “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản
nhà nước vđất đai (hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)” vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 Vĩnh Long đúng
pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa
đổi, bổ sung năm 2025 yêu cầu khởi kiện còn trong thời hiệu giải quyết.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện ngày 06/02/2026 ông Nguyễn
Văn C, Thông báo về việc thụ lý vụ án đã xác định người bị kiện là Ủy ban nhân
dân phường A, tỉnh Vĩnh Long (người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn
Văn Lánh Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A). Tuy nhiên, căn cứ vào Công
văn 285/TANDTC-PC ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
về kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong vụ án
dân sự, hành chính liên quan đến yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì kể từ ngày 01/7/2025, Tòa án xác định người kế thừa quyền, nghĩa
vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân cấp huyện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
có thẩm quyền. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định lại người bị kiện trong vụ án là
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A.
Tại phiên tòa, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A đơn
đề nghị xét xử vắng mặt. vậy, căn cứ khoản 1 Điều 158 của Luật tố tụng hành
chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 để tiến hành xét xử theo thủ tục
chung.
[3]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, ý kiến
của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ
đã thu thập, thể hiện:
[3.1]. Qua kết quả xem xét, thẩm định tại chổ về hiện trạng sử dụng đất
thể hiện:
Thửa số 109, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V do bà
Trần Thị Ti P và ông Nguyễn Văn S đang quản lý, sử dụng trên đất nhà cửa,
công trình kiến trúc cây trồng của P ông S, nhưng quyền sử dụng đất
do ông Nguyễn Văn C và bà Thái Thị Cúc H đứng tên, hướng Bắc thửa 109 giáp
với thửa 571, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khóm C, phường D, tỉnh V do ông
Nguyễn Văn C và bà Thái Thị Cúc H quản lý, sử dụng nhưng quyền sử dụng đất
do Trần Thị Ti P đứng tên. Ranh giới sử dụng ổn định, rõ ràng, không xảy ra
tranh chấp với ai. Kết quxem xét, thẩm định tại chổ phù hợp với lời khai của
người khởi kiện, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với các tài liệu, chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án.
6
[3.2] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử đã đủ sở xác
định việc Ủy ban nhân dân huyện Duyên Hải cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn
Văn C Thái Thị Cúc H tại thửa 109, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Khóm C,
phường D, tỉnh V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nay đã đăng
biến động tại trang tư cho Trần Thị Ti P tại thửa 571, tờ bản đồ số 02, tọa lạc
tại Khóm C, phường D, tỉnh V không đúng vị trí sử dụng. Tuy nhiên, các thửa
đất nêu trên đã được chuyển nhượng qua các chủ sdụng khác nhau, nên việc
thu hồi hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy
định tại khoản 4, Điều 152 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024. Do vậy, cần
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về việc hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số
CH003283 do Ủy ban nhân dân huyện Duyên Hải cấp cho ông Nguyễn Văn C
Thái Thị Cúc H ngày 02/12/2013 Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
số AK533684 do Ủy ban nhân dân huyện Duyên Hải cấp cho ông Dương Văn R
ngày 03/12/2007, đăng biến động tại trang cho Trần Thị Ti P ngày
11/3/2015 để cấp lại đúng thực trạng sử dụng.
[4]. Về chi phí tố tụng: Quá trình thu thập chứng cứ, ông Nguyễn Văn C
yêu cầu xem xét, thẩm định tại chổ; ông C đã nộp tạm ứng chi phí số tiền
400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng. Tại phiên tòa, ông C tự nguyện chịu toàn bộ chi
phí này và đã được quyết toán xong.
[5]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông C được chấp nhận nên
người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A phải chịu án phí hành chính
sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 116, khoản 1
Điều 158, Điều 206 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2025; Khoản 4, Điều 152 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2024; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy
định về án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn C về “Khiếu kiện
quyết định hành chính trong lĩnh vực quản nhà nước vđất đai (yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)”.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số CH003283 do Ủy ban nhân dân huyện Duyên Hải (nay
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A) cấp cho ông Nguyễn Văn C Thái
Thị Cúc H ngày 02/12/2013 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
7
AK533684 do Ủy ban nhân dân huyện Duyên Hải (nay Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường A) cấp cho ông Dương Văn R ngày 03/12/2007, đăng ký biến động
tại trang tư cho bà Trần Thị Ti P ngày 11/3/2015.
Sau khi bản án hiệu lực pháp luật ông Nguyễn Văn C Thái Thị
Cúc H, Trần Thị Ti P liên hvới quan Nnước thẩm quyền khai
đăng để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng hiện trạng sử dụng
theo quy định pháp luật về đất đai.
2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tnguyện của ông Nguyễn Văn C tự
nguyện chịu chi phí thẩm định với số tiền 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng đã
quyết toán xong.
3. Về án phí: Buộc người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A phải
chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm;
Ông Nguyễn Văn C không phải chịu án phí được miễn nộp tạm ứng án
phí nên không xử lý về tiền tạm ứng án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Người khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người bị kiện vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 14 – Vĩnh Long;
- PTHADS khu vực 14 – Vĩnh Long;
- Chi nhánh VPĐKĐĐ khu vực 16;
- UBND phường Duyên Hải;
- Đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 01/2026/HC-ST Bản án số 01/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2026/HC-ST Bản án số 01/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất