Bản án số 01/2021/HS-ST ngày 06/01/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2021/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2021/HS-ST ngày 06/01/2021 của TAND TX. Sa Pa, tỉnh Lào Cai về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 140.Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 01/2021/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/01/2021
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 01/2021/HS-ST
Ngày 06 - 01 - 2021
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TH XÃ SA PA - TNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hi thm nhân dân: Ông Đỗ Trng Bằng; Ông Vũ Minh Huấn
- Thư phiên toà: Ông Hoàng Mnh Ton - Thư Tòa án nhân dân th
Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đại din Vin kim sát nhân dân th Sa Pa, tnh Lào Cai tham gia
phiên tòa: Ông Nguyn Vit Xô - Kim sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào
Cai xét xử thm công khai vụ án hình sự thẩm thụ số 28/2020/TLST- HS
ngày 26 tháng 11 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/QĐXXST- HS
ngày 23 tháng 12m 2020 đối với bị o:
Hvà n: Phùng Th Diu H - Sinh ngày 11/7/1982, ti thành ph Nha Trang,
tnh Khánh Hòa
Nơi cư trú: Tổ 1, phưng N, thành ph N, tnh Khánh Hòa
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; n tộc: Kinh; Giới tính: Nữ;
Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Long H
Nguyễn Thị T; Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam ngày 16/7/2020 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công
an thị xã Sa Pa. Có mt.
- Bhại: Công ty c phn K - Đa ch: Huyn Vĩnh ng, tnh Vĩnh Pc
Người đại din theo pháp lut: Ông Khổng Văn K - Tổng giám đốc
Nơi cư trú: Tn L, xã L, huyn V, tỉnh Vĩnh Pc. Vắng mặt.
- Người có quyn lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Lê Anh T, sinh năm 1985 - Nơi cư trú: Th trn B, huyn H, tnh Thanh
Hóa. “Vắng mặt”.
+ Anh Phm Hng T, sinh năm 1982 - Nơi cư trú: T 22 Tâ, V, thành ph N, tnh
Khánh Hòa. Vắng mặt”.
- Những người làm chứng:
2
+ Anh Khổng Văn H - Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyn V, tỉnh Vĩnh Pc.
+ Anh Phạm Duy K - Nơi cư trú: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Nguyễn Lâm Anh K - Nơi cư trú: Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh
Hòa.
+ Anh Hoàng Văn T - Nơi cư trú: Xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Chị Huỳnh P - Nơi cư trú: 47/1/3 L, phưng M, qun M, Thành ph H Chí
Minh.
+ Chị Ngô Thị H - Nơi cư trú: Khu 5, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Anh Vũ Văn B - Nơi cư trú: Ph T, phưng H, thành ph T, tnh Thanh Hóa.
+ Anh Phạm Văn B - Nơi cư trú: Thôn S, xã L, huyn V, tnh Hưng Yên
+ Anh Phạm Văn T - i cư trú: T 8, phưng N, thành ph L, tnh Lào Cai.
+ Anh Khương Văn O - Nơi cư trú: Tổ 1, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai
Đu vng mt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Tháng 01/2019, Phùng Thị Diệu H được Công ty cổ phần K, hợp đồng
tuyển dụng vào làm việc tại Khách sạn K địa chỉ tại tổ 7, phường S, thị S
được phân công nhiệm vụ là Trưởng phòng hành chính nhân sự.
Tháng 10/2019 Phùng Thị Diệu H được ông Khổng Văn K Tổng giám đốc
Công ty cổ phần K giao nhiệm vụ hoàn thiện thủ tục, hồ liên quan đến phòng
cháy chữa cháy tại Khách sạn K, để khách sạn đi vào hoạt động. Trong thời gian
này H nhiều lần mang thủ tục liên quan đến phòng cháy, chữa cháy của khách sạn
K đến làm việc tại Phòng cảnh sát phòng cháy chữa cháy cứu hộ cứu nạn (PC
07) Công an tỉnh Lào Cai, do hồ thiết kế về phòng cháy chữa cháy đã được phê
duyệt (hệ thống điều hòa, thông gió) và bản vhoàn ng không đồng nhất, do đó
không được nghiệm thu phải điều chỉnh lại thiết kế. Tháng 12/2019, H báo cáo
với ông Khổng Văn K về chi phí làm các thủ tục liên quan đến phòng cháy chữa
cháy 370.000.000 đồng đề nghị được ứng số tiền này để chi phí. Ông K đã
trực tiếp đưa số tiền mặt 300.000.000 đồng cho H tại khách sạn K vào giữa tháng
12/2019. Sau đó ông K giao cho anh Phạm Văn B trưởng bộ phận kỹ thuật của
Khách sạn K trao đổi với Phạm Duy K kỹ sư của công ty cổ phần kỹ thuật công
trình Việt Nam (gọi tắt 2T), nhà thầu thi công hệ thống phòng cháy chữa cháy
của Khách sạn K, chuyển lại số tiền 70.000.000 đồng cho H để khắc phục sai sót do
nhà thầu 2T thực hiện liên quan đến hệ thống phòng cháy chữa cháy. Sau đó Phạm
Duy K đã chuyển số tiền 70.000.000 đồng cho H vào tài khoản ngân hàng
Vietcombank số 0061.000.772573, chi nhánh Khánh Hòa. Sau khi nhận được số
tiền 370.000.000 đồng, H đã chuyển cho Anh T(sinh năm 1985, trú tại thị trấn
3
B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) số tiền 45.000.000 đồng, để T vấn hoàn thiện
các thủ tục về phòng cháy, chữa cháy cho ng ty. Số tiền còn lại H đã trả nợ cho
Lâm Nguyễn Anh K (sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh
Hòa) 10.000.000 đồng; Trả nợ cho Hoàng Văn T (sinh năm 1990, trú tại T,
huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) 20.000.000 đồng; Trả nợ cho Huỳnh P (sinh năm
1987, trú tại 47/1/3 L, phường M, quận M, thành phố Hồ Chí Minh) 20.000.000
đồng; Trả nợ cho công ty TNHH MTV Mirae Asset Việt Nam 38.000.000 đồng;
Trả tiền vay tạm ứng của nhân năm 2019 cho Công ty cổ phần K khoảng
70.000.000 đồng. Sử dụng để chữa bệnh 20.000.000 đồng. Đầu tháng 01/2020, lãnh
đạo Công ty cổ phần K liên tục yêu cầu H phải hoàn thiện các thủ tục về phòng
cháy, chữa cháy của Khách sạn K để khách sạn đi vào hoạt động. Do không thực
hiện được việc hoàn thiện hồ phòng cháy, chữa cháy của khách sạn và đã sử
dụng hết số tiền ng ty giao cho, nên Phùng Thị Diệu H nảy sinh ý định làm giả
tài liệu biên bản kiểm tra, nghiệm thu phòng cháy chữa cháy của Công an tỉnh
Lào Cai đối với hệ thống phòng cháy, chữa cháy của Khách sạn K, nhằm lừa dối
lãnh đạo Công ty cổ phần K, đchiếm đoạt số tiền công ty đã giao cho mình, đồng
thời tạo tin nhắn Zalo giả giữa H anh Phạm Văn T (đội trưởng đội tổng hợp của
phòng PC 07- Công an tỉnh Lào Cai), gi cho chị Ngô Thị H là văn thư của công ty
để H báo cáo lại ông Khổng Văn H tạo lòng tin về việc đang tiến hành trao đổi để
hoàn thiện các thủ tục liên quan đến hệ thống phòng cháy, chữa cháy của Khách
sạn K. Thông qua mạng xã hội Zalo, Phùng Thị Diệu H kết bạn với người tên Hùng
tại thành phố Hồ Chí Minh rồi gọi điện, nhắn tin trao đổi thuê Hùng làm giả biên
bản kiểm tra, nghiệm thu hệ thống phòng cháy, chữa cháy của Khách sạn K với giá
3.000.000 đồng. H cung cấp tên các thành phần tham gia biên bản, đồng thời chụp
con dấu của phòng PC 07 Công an tỉnh Lào Cai và chữ ký của anh Phạm Văn T gửi
cho Hùng. Đến ngày 19/01/2020 H nhận được 02 biên bản kiểm tra, nghiệm thu h
thống phòng cháy, chữa cháy đã thuê Hùng làm gitrước đó qua người giao hàng
thanh toán số tiền 3.000.000 đồng cho người này. H gửi 02 biên bản được làm
giả trên cho các thành viên tên trong biên bản để hoàn thiện biên bản, rồi gửi
lại 01 biên bản về trụ sCông ty cổ phần K tại huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, đồng thời
thu dọn đồ đạc, tài liệu liên quan đến nhân thân để tại Khách sạn K và mang theo
số tiền chưa sử dụng hết trở về nhà tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
tiêu xài nhân hết số tiền này. Sau khi nhận được biên bản kiểm tra, nghiệm thu
hệ thống phòng cháy, chữa cháy của Khách sạn K, ông Khổng Văn H phó tổng
giám đốc của Công ty cổ phần K mang thủ tục hồ đến phòng cảnh sát phòng
cháy, chữa cháy cứu hộ, cứu nạn (PC 07) Công an tỉnh Lào Cai để nộp. Qua
kiểm tra, phát hiện nhiều điểm bất thường trong biên bản kiểm tra, nghiệm thu hệ
thống phòng cháy, chữa cháy của Khách sạn K, nên phòng PC 07 Công an tỉnh Lào
Cai đã báo cáo lãnh đạo Công an tỉnh o Cai chuyển hồ dấu hiệu tội
phạm trên đến quan Cảnh sát điều tra Công an thị Sa Pa để giải quyết theo
thẩm quyền. Hành vi phạm tội của Phùng Thị Diệu H được điều tra làm rõ.
Tại kết luận giám định số 12/GĐTL ngày 30/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình
sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Hình dấu tròn có nội dung PHÒNG CẢNH
4
SÁT P.C.C.C CỨU NẠN CỨU HỘ CÔNG AN TỈNH LÀO CAI” đóng giáp
lai bên mép phải của 03 tờ giấy A4 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A (thiếu một
phần nội dung “cứu nạn, cứu hộ Công an tỉnh Lào Cai” trên hình dấu) với hình
dấu tròn nội dung “PHÒNG CẢNH SÁT P.C.C.C CỨU NẠN CỨU HỘ
CÔNG AN TỈNH LÀO CAI” trên tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một con
dấu đóng ra.
Ti phiên a Png Thị Diệu H khai nhận toàn bhành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 25/CT-VKS-SP ngày 24/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị
Sa Pa truy tố bị cáo Phùng Thị Diệu H về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản” theo khoản 3 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th Sa Pa giữ quyền công tố tại phiên toà
giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản o trạng đã truy tố. Sau
khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị o đề nghị Hội
đồng t xử áp dụng khoản 3 điều 175; Điểm b, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình
sự tuyên bố bị cáo Phùng Thị Diệu H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản”, xử phạt bị cáo với mức án từ 7 năm đến 8 năm . Không phạt bổ sung đối
với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1
điều 48 B luật Hình sự ; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật dân sự: Buộc bị o
Png Thị Diệu H phải bồi thường cho Công ty cổ phần K số tiền 155.000.000 đồng
(Một trăm năm mươi lăm triệu đồng)
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụngnh sự; Điều 47 Bộ luật
nh s: Tạm giữ của Phùng Thị Diệu H 01 điện thoại di động hiệu Vsmart, màn
hình màu đen, mặt lưng màu tím than đã qua sử dụng, bên trong có gắn 02 sim của
nhà mạng Mobifone để đảm bảo thi hành án
Tuyên án p quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ o các i liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phn a, Hội đồngt xử nhận định như sau:
[1] Vnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra ng an th Sa Pa,
Điều tra viên, Vin kiểmt nhân dân thị xã Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật t
tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên a bị o không ý kiến hoặc khiếu
nại về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiếnnh
tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Thị Diệu H: Tại phiên tòa bị cáo khai
nhận tháng 01/2019, H được Công ty cổ phần K, hợp đồng tuyển dụng vào làm
việc tại Khách sạn K và được phân công nhiệm vụ là Trưởng phòng hành chính nhân
sự. Tháng 10/2019 H được giao nhiệm vụ hoàn thiện các thủ tục về phòng cháy,
5
chữa cháy của Khách sạn K. Sau khi nhận được số tiền 370.000.000 đồng của ng
ty cổ phần K để hoàn thiện các thủ tục về phòng cháy, chữa cháy. H đã chuyển cho
anh Anh Tsố tiền 45.000.000 đồng, để T vấn hoàn thiện các thtục về
phòng cháy, chữa cháy cho công ty. Số tiền còn lại Phùng Thị Diệu H đã dùng để trả
nợ và chi tiêu cá nhân. Đầu tháng 01/2020, lãnh đạo Công ty cổ phần K liên tục yêu
cầu H phải hoàn thiện c thủ tục về phòng cháy, chữa cháy của khách sạn K nhưng
do không thực hiện được việc hoàn thiện hồ sơ phòng cháy, chữa cháy của khách sạn
và đã sử dụng gần hết số tiền ng ty giao cho, nên đã nảy sinh ý định và thuê người
làm giả tài liệu là biên bản kiểm tra, nghiệm thu phòng cháy chữa cháy của Công an
tỉnh Lào Cai đối với hệ thống phòng cháy, chữa cháy của Khách sạn K, nhằm lừa dối
lãnh đạo ng ty cổ phần K, chiếm đoạt số tiền công ty đã giao cho mình. Sau khi
làm giả tài liệu H đã giao cho Công ty đồng thời thu dọn đồ đạc, tài liệu liên quan
đến nhân thân để tại Khách sạn K mang theo số tiền chưa sử dụng hết về nhà tại
thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tiêu xài nhân hết số tiền này, lãnh đạo
Công ty cổ phần K đã yêu cầu H ra để làm việc nhưng H đã cố tình trốn tránh.
N vậy, với hành vi lợi dụng tín nhiệm của lãnh đạo Công ty cổ phần K khi
giao số tiền 370.000.000 đồng cho bị cáo đhoàn thiện hồ phòng cháy, chữa
cháy của Khách sạn K. Bị cáo đã chi số tiền 45.000.000 đồng để làm thủ tục, nhưng
không kết quả. Số tiền còn lại 325.000.000 đồng của Công ty cổ phần K, bị cáo
đã dùng thủ đoạn gian dối, sau đó bỏ trốn nhằm chiếm đoạt số tiền trên, sử dụng
vào mục đích cá nhân, như vậy có đủ cơ sđể kết luận bo phạm tội “Lạm dụngn
nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 điều 175 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị
o nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến i sản của người khác, gây ảnh hưởng
sấu đến trật tự tran tại địa phương, vậy cần phải t xử một mức án nghiêm khắc
ơng xứng với nh chất, mức độ nh vi phạm tội của bị cáo mới c dụng giáo
dục, cải to phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmnh sự: Ti cơ quan điu tra ti phiên tòa
bị cáo thành khẩn khai o, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động gia đình bồi tng, gia
đình bị o đã bồi thưng thiệt hại cho bị hại số tiền 170.000.000 đồng, vậy cần cho
b o được ng c nh tiết giảm nhtheo quy đinh tại điểm b, s khoản 1 điều 51
của Bộ luật Hình sự.
[4] V nh tiết tăng nặng tch nhiệm hình sự: Kng có
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật
hình sự quy đinh “Người phạm tội thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến
100.000.000 đồng”, do đó bị cáo thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt
tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị
cáo không có tài sản, thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử định không áp dụng hình
phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: ng ty cổ phần K đã nhận được 170.000.000 đồng
tiền bồi thường, yêu cầu bị cáo Phùng Thị Diệu H phải bồi thường tiếp số tiền
6
160.000.000 đồng. Tại phiên tòa bịo nhất t bồi tờng vì vậy ghi nhận việc bị cáo
nhất trí bồi tờng tiếp cho ng ty cổ phần K stiền 160.000.000 đồng.
[7] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động hiệu
Vsmart, màn hình màu đen, mặt lưng màu tím than đã qua sử dụng, bên trong
gắn 02 sim của nhà mạng Mobifone. Đây chiếc điện thoại và thẻ sim bị cáo
không sử dụng vào việc phạm tội, cần tạm giđể đảm bảo thi hành án.
[8] V án p: Bị cáo phải chịu án phí nh sự, dân sự theo quy định của pháp lut.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
n cứ khoản 3 điều 175; Điểm b, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên
bố bo Phùng Thị Diệu H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt i sản”. Xử
phạt bị cáo Phùng Thị Diệu H 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày 16/7/2020
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1
Điều 48 Bộ luật Hình s; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân
ghi nhận việc bị cáo Phùng Thị Diệu H nhất trí bồi thường cho Công ty cổ phần K số
tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bn án có hiu lc pháp lut, bị hại đơn yêu cầu thi hành án cho
đến khi thi hành án xong khon tin bồi thường, hàng tháng b cáo phi chu khon
tin lãi ca s tin chậm thi hành án tương ng vi thi gian chm thi hành án theo
quy định tại Điều 357, Điều 468 ca B lut dân s
3. Về vật chứng vụ án:
n cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự: Tạm giữ của
Phùng Thị Diệu H 01 điện thoại di động hiệu Vsmart, màn hình màu đen, mặt lưng
màu tím than đã qua sử dụng, bên trong gắn 02 sim của nhà mạng Mobifone để
đảm bảo thi hành án
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Phùng Thị Diệu H phải chịu 200.000 đồng tiền án
phí hình sự sơ thẩm và 8.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày ktừ
ngày tuyên án; Bị hại, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
7
sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành
án dân sự
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh, TX;
- Cơ quan ĐT Công an TX;
- Cơ quan THA HS;
- Sở tư pháp;
- Bị cáo; Bị hại, NLQ
- T.H.A DS;
- Lưu
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Tải về
Bản án số 01/2021/HS-ST Bản án số 01/2021/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất