Quyết định số 217/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/07/2018 của TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Quyết định số 217/2018/QĐST-HNGĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Quyết định 217/2018/QĐST-HNGĐ
| Tên Quyết định: | Quyết định số 217/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/07/2018 của TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Biên Hòa (TAND tỉnh Đồng Nai) |
| Số hiệu: | 217/2018/QĐST-HNGĐ |
| Loại văn bản: | Quyết định |
| Ngày ban hành: | 26/07/2018 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ly hôn |
Tóm tắt Quyết định
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ B Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 217/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 26 – 07 - 2018
V/v “Ly hôn giữa bà T và ông Đ”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.
Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân TP. B,
tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP.B: Bà Đặng Hoàng Oanh – Kiểm sát
viên.
Ngày 26/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP.B - tỉnh Đồng Nai xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 386/2018/HNGĐ-ST ngày 26
tháng 02 năm 2018 về việc “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
210/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/6/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số
435/2018/QĐST – HNGĐ ngày 09/7/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989.
HKTT: 432A, tổ 15, KP. 2, phường T, TP. B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: Nhà không số, tổ 15, KP. 5A, phường T, TP. Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Phạm Việt Đ, sinh năm 1984.
HKTT: 432A, tổ 15, KP. 2, phường T, TP. B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông Đ vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Tôi và ông Phạm Việt Đ xây
dựng gia đình với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T,
TP. B, tỉnh Đồng Nai trên cơ sở cả hai tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng
hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do
tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, ông Đ không quan tâm
đến gia đình vợ con, dẫn đến thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn tôn trọng,
tin tưởng lẫn nhau. Mặc dù cả hai đã nhiều lần hàn gắn để vợ chồng cùng nhau
nuôi dạy con cái nhưng cho đến nay mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được cải thiện
mà ngày càng trở lên trầm trọng. Do mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được
2
nên từ tháng 12 năm 2016 đến nay tôi và ông Đ đã sống ly thân với nhau, không ai
còn quan tâm đến ai nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn
nhân không đạt được nên tôi xin được ly hôn với ông Đ để trả tự do cho nhau.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Phạm Nguyễn Thiên B, sinh ngày
19/6/2013. Ly hôn tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu
Bình đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động, tạm thời tôi không yêu cầu
ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Veà taøi saûn chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Việt Đ đã được Tòa án niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý
vụ án, giấy triệu tập làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa
nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu quan
điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm
pháp, Hội đồng xét xử và những tham gia tố tụng: thực hiện đúng theo các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
của bà Nguyễn Thị T; Về con chung: giao cháu Phạm Nguyễn Thiên B, sinh ngày
19/6/2013 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và có
khả năng lao động, tạm thời không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung; Về
tài sản chung và nợ chung: đề nghị tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các
bên có yêu cầu; Về án phí: bà T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo
quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Đ hiện cư trú tại địa bàn TP. B
nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP.B theo điểm a khoản 1
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà T có đơn xin có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Đ
đã được Tòa tống đạt hợp lệ quyết định xét xử và hoãn phiên tòa nhưng ông không
đến tham dự phiên tòa, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt đối với bà T và ông Đ.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Việt Đ có tổ chức
đám cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND
phường T, TP. B, tỉnh Đồng Nai trên cơ sở cả hai tự nguyện nên được công nhận
là hôn nhân hợp pháp, áp dụng luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Quá trình chung sống theo bà T trình bày sau khi kết hôn vợ chồng ông bà
chỉ hạnh phúc được được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân là do tính tình không còn hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, ông Đ không
3
quan tâm đến gia đình vợ con, dẫn đến thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn
tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Mặc dù cả hai đã nhiều lần hàn gắn để vợ chồng
cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng cho đến nay mâu thuẫn vợ chồng vẫn không
được cải thiện mà ngày càng trở lên trầm trọng. Do mâu thuẫn vợ chồng không thể
hàn gắn được nên từ tháng 12 năm 2016 đến nay bà và ông Đ đã sống ly thân với
nhau, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn,
mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Đ để trả tự do
cho nhau.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông Đ theo bà T trình bày là có cơ sở bởi lẽ
vào năm 2017 bà T đã từng làm đơn xin ly hôn ra Tòa án nhưng sau đơn bà rút đơn về
để hàn gắn đoàn tụ nhưng vẫn không cải thiện được mâu thuẫn mà ngày càng trầm
trọng hơn. Cũng như biên bản xác minh tại địa phương ngày 08/5/2018 xác nhận, quá
trình chung sống tại địa phương giữa ông Đ, bà T có phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ông
bà đã ly thân với nhau từ năm 2016 đến nay, chị cùng 01 con chung của ông bà là
Phạm Nguyễn Thiên B chuyển đi nơi khác sinh sống. Qúa trình giải quyết Tòa án đã
nhiều lần tống đạt hợp lệ để ông Đ đến Tòa làm việc, hòa giải đoàn tụ nhưng ông
không đến Tòa làm việc, thể hiện ông bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của vợ chồng,
không có ý muốn hàn gắn đoàn tụ. Do vậy nghĩ nên chấp nhận đơn xin ly hôn của bà
T, giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ là phù hợp.
[4] Về con chung: Ông Đ và bà T có 01 con chung tên là Phạm Nguyễn
Thiên B, sinh ngày 19/6/2013. Ly hôn bà T có nguyện vọng được trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng cháu B đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động, tạm thời
bà không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Kể từ khi bà T và ông Đ sống ly thân với nhau từ năm 2016 cho đến nay
cháu B do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, hiện cháu B mới hơn 05 tuổi, cái tuổi mà
cần sự chăm sóc của người mẹ, hơn nữa bà T cũng có nguyện vọng được tiếp tục
chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B. Thiết nghĩ giao cháu B cho bà T tiếp tục chăm sóc
nuôi dưỡng, tạm thời ông Đ không cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm
sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên
có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Theo bà T trình bày là không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, ông Đ không lên Tòa làm việc nên không có
ý kiến về các vấn đề này. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải
quyết, nếu sau này các bên có yêu cầu sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[6] Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định.
[7] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu
quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 205; Điều 207; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228;
Điều 235; Điều 238 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng các Điều 51, 54, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Phạm Việt Đ.
Về con chung: Giao cháu Phạm Nguyễn Thiên B, sinh ngày 19/6/2013 cho
bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao
động, tạm thời ông Đ không cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì không trực tiếp nuôi con nên ông Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm
sóc, giáo dục con không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con khi cần thiết, các bên có quyền xin thay đổi người trực
tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
giải quyết.
Án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000đ nhưng được trừ vào tiền
tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 006301 ngày 30/01/2018 của Chi cục Thi
hành án dân sự TP. B. Bà T đã nộp xong án phí HNGĐ-ST.
Bà T và ông Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án tỉnh Đồng Nai; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. B;
- THADS TP. B;
- Các đương sự;
- UBND nơi đăng ký kết hôn;
- Lưu VP – HS.
Nguyễn Thị Quyên
5
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
6
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án tỉnh Đồng Nai Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKS TP.B
- Các đương sự
- Thi hành án
- Lưu hồ sơ
- Lưu VP
Nguyễn Thị Quyên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 15/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 14/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 14/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm