Bản án số BA/2020/HNGĐ-ST ngày 28/09/2020 của TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án BA/2020/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số BA/2020/HNGĐ-ST ngày 28/09/2020 của TAND huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Mô (TAND tỉnh Ninh Bình)
Số hiệu: BA/2020/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chị H xin ly hôn anh T và đề nghị giải quyết con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 14/2020/ HNGĐ - ST
Ngày 28/9/2020
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - T do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan
Ông Nguyễn Văn Cử
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Yên Mô
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên toà:
Bà Giang Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên
xét xử thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2020/TLST HNGĐ ngày 02
tháng 6 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2020
Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020/QĐST HNGĐ ngày 14/9/2020, giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lã Thị H, sinh năm 1990
Địa chỉ: Phố T, phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- B đơn: Anh Lê Đình T, sinh năm 1985
Địa chỉ: Xóm 2, tn Đ, xã Y, huyn Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Ti phiên tòa có mt chị H, vắng mặt anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khaitại phiên tòa chị H trình y: Chị kết
hôn với anh Lê Đình T hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND
2
n Lâm ngày 15/12/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một
thời gian thì sảy ra mâu thuẫn, Nguyên nhân do anh T thường xuyên chơi
đề cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều. Chị đã phải lo trả nợ nhiều lần. gia đình hai n
có khuyên nhủ nhưng anh T vẫn không thay đổi tính nết, vẫn mải chơi không lo
cho gia đình vợ con. Từ năm 2016 anh T ra quân nhưng vẫn không tu chí làm ăn
nên vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay
chị H xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên đề nghTòa
án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đình T.
- Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là cháu Lê Đức T2, sinh
ngày 23/8/2012 cháu Thị Mai A, sinh ngày 04/7/2015. Khi ly n chị H
đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cả cháu T2 và cháu Mai A yêu cầu
anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu T2 mỗi tháng 1.000.000đ kể từ tháng 10/2020
cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung. công n: ChH không đ nghTòa án gii quyết.
Sau khi thụ vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ và giấy triệu tập
anh Đình T theo địa chỉ anh T đăng nhân khẩu thường trú trú. Gia
đình anh T đã nhận các n bản tố tụng của Tòa án và thông báo cho anh T biết
Tòa án nhân dân huyện n Mô đang giải quyết vụ án xin ly n giữa chị H
anh T. Tòa án đã yêu cầu anh T cung cấp c tài liệu liên quan đến quan hệ hôn
nhân của anh với chH đề nghanh quan điểm về việc chị H xin ly hôn
anh, đề nghị giải quyết về con chung nhưng anh T không đếnTòa án làm việc và
không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của a án.
Tại biên bản làm việc với ông Lê Xuân T3 bố anh Lê Đình T: ông T3
cung cấp: c văn bản tố tụng Tòa án tống đạt cho anh T gia đình ông đã thông
báo lại cho anh T. Do anh T chị H không sống chung cùng gia đình ông nên ông
T3 cũng không biết nguyên nhân mâu thuẫn của anh T chị H. Năm 2016 anh T
ra quân nên nhập khẩu vào hộ khẩu của gia đình ông nhưng hiện nay ông Thiu
cũng không biết hiện tại anh T làm công việc gì và ở đâu, thỉnh thoảng anh T có
về thăm gia đình và gọi điện về cho bố mẹ. Quan điểm của ông Thiều muốn chị
H anh T đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con i n anh T chị H không được
với nhau tông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
3
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ vụ án đến trước thời
điểm HĐXX nghị án, Thẩm phán, Thư phiên tòa thực hiện đúng các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự: xác định đúng cách người tham gia tố
tụng; chuyển hồ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời gian. Nguyên đơn
chấp hành đúng qui định; bị đơn anh Đình T không chấp hành các quy
định về tố tụng dân sự, không mặt tại Tòa án để làm việc trình bày quan
điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H cũng nquan điểm v
nuôi con cấp dưỡng nuôi con chung khi vợ chồng ly hôn gây khó khăn cho
việc giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân huyện Yên đã tống đạt hợp lệ hai
lần nhưng anh Tòa không đến tham gia phiên tòa nên đề nghị HĐXX tiến hành
xét xử vắng mặt anh T phù hợp với Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân
sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Do chị H anh T sống ly thân đã lâu
không còn quan tâm chăm sóc nhau nên xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh
T trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài nên đnghị HĐXX căn cứ
vào Điều 56, 81, 82, 83 116 của Luật Hôn nhân gia đình; Điều 357 Bộ
luật dân sự; Điều 147; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 qui định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lã Thị H; xử cho chị Lã Thị H
được ly hôn anh Lê Đình T.
Về con chung: Giao cháu Đức Thắng, sinh ngày 23/8/2012 và cháu
Thị Mai Anh, sinh ngày 04/7/2015 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm
sóc. Anh T phải trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Thắng cùng chị H mỗi
tháng 1.000.000đ (một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 10/2020
cho đến khi cháu Thắng thành niên.
Về tài sản chung công nợ: Chị H không đề nghị nên không xem xét
giải quyết.
Về án phí: ChH phải nộp án phí ly n, anh T phải nộp án phí cấp
dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được
thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa ý kiến phát biểu của kiểm sát viên,
HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Lã Thị H xin ly hôn anh Lê
Đình T anh T hộ khẩu thường trú tại xóm 2, thôn Đ, Y, huyện Yên
Mô. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Yên thụ giải quyết yêu cầu xin ly
hôn giữa chị H và anh T đúng qui định tại Điều 28 và 35 Bộ luật tố tụng dân
sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đình T đã được Tòa án tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và tống đạt hợp lệ 2 lần giấy triệu tập anh T đến
tham gia phiên tòa nhưng anh T đều không mặt tại phiên tòa.Tòa án nhân
dân huyện Yên tiến hành xét xử vắng mặt anh Đình T là phù hợp với
Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị H anh Đình T kết hôn hoàn
toàn tự nguyn đăng kết n tại UBND Yên Lâm, huyện Yên Mô, đây
hôn nhân hợp pp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị chung
sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh u thuẫn, nguyên nhân dẫn
đến u thuẫn do anh T không quan tâm đến vợ con, thường xuyên chơi
đề, cờ bạc dẫn đến nợ nần, nhiều lần chị H đã phải trả các khoản nợ do anh T
chơi đề, cờ bạc nhưng anh T không lấy đó làm bài học để sửa chữa tiếp
tục chơi đề, cờ bạc. Gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần để vợ chồng
khắc phục u thuẫn cùng nhau nuôi dậy con chung nhưng anh T không khắc
phục tính cách và ch sống của mình mà ngày càng dấn sâu o cờ bạc n nợ
nần ngày một nhiều hơn. Năm 2016 do nợ nần nhiều người n đơn vị giải
quyết cho anh T ra quân. Từ khi anh T ra quân mâu thuẫn vợ chồng lại càng
căng thẳng hơn, anh T nợ nần nhiều nhưng không tu chí làm ăn, không về sống
cùng với vợ con mà luôn điện thoại, nhắn tin chửi bới, xúc phạm đến chị H. Chị
H đã phải chặn số ln lạc của anh T ng từ đó vợ chồng anh chị sống ly
thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Đến nay chị H xác định tình
cảm vợ chồng giữa chanh T không còn nên chị H xin đượcly hôn anh T.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T, do
anh T không mặt nhà n ông Thiều (bố đẻ) anh T đã nhận thông báo
cho anh T biết nhưng anh T vẫn không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến
5
thể hiện quan điểm về việc chH xin ly hôn anh để gửi cho Tòa án; Tòa án yêu
cầu anh T cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến quan hệ hôn nhân giữa anh T
chị H nhưng anh T vẫn không cung cấp nên anh T phải chịu trách nhiệm về
việc không cung cấp chứng cứ. Tại phiên tòa chị H vẫn xác định tình cảm vợ
chồng không còn n chị cương quyết đề nghHội đồng xét xử giải quyết cho
chị được ly hôn anh T. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và
chị H xẩy ra đãu. Từ năm 2016 anh chị đã sống ly thân kng ai quan tâm đến
cuộc sống của nhau, do vậy thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H anh T đã
trầm trọng, đời sống chung không th o dài, mục đích n nn không đạt
được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chH được ly hôn với
anh T p hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung:Chị H và anh T hai con chung cháu Đức T2,
sinh ngày 23/8/2012 và cháu Lê Thị Mai A, sinh ngày 04/7/2015. Từ trước đến
nay các cháu đều sống cùng chị H, một mình chị H chăm sóc con chung, anh T
không quan tâm đến các con. Nay vợ chồng ly hôn chị H đề nghị được trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung yêu cầu anh T phải trách
nhiệm là cấp dưỡng nuôi cháu Thắng cùng chị H. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ
khi chị H sinh cháu Thắng và cháu Mai Anh thì các cháu đều do chị H trực tiếp
chăm sóc nuôi dưỡng, anh T ng tác trong lực lượng trang nên thường
xuyên vắng nhà. Từ năm 2016 anh T ra quân anh T cũng không về cùng chị
H để cùng chăm sóc con chung. Việc nuôi dậy, chăm sóc con chung đều do ch
H đảm nhận hiện tại cả hai cháu đang sinh sống ổn định cùng với chị H tại
thành phố Ninh Bình. Do vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống cho các cháu phát
triển bình thường không bị xáo trộn về tâm sinh lý, trên cơ sở nguyện vọng của
các cháu thấy căn cứ chấp nhận đề nghị của chị H giao cả hai cháu Đức
T2 cháu Thị Mai A cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. T phải
trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Lê Đức T2 cùng chị H mỗi tháng 1.000.00
kể từ tháng 10/2020 cho đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi phù hợp với Điều 81,
82, 83 Luật hôn nhân gia đình.
[4] Về tài sản chung công nợ: Chị H không đề nghị nên Hội đồng xét
xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí, quyền kháng cáo: Chị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn còn
anh T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo qui định. Các đương sự được
quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116 Luật Hôn
nhân gia đình; Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều
147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị H. Xử cho chị Thị H
được ly hôn anh Lê Đình T. Quan hệ hôn nhân của chị H và anh T chấm dứt kể
từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Đức T2, sinh ngày 23/8/2012 cháu
Thị Mai A, sinh ngày 04/7/2015 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Anh
T trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu T2 cùng chị H mỗi tháng 1.000.000đ
(một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 10/2020 cho đến khi cháu
T2 thành niên.
Anh T được quyền thăm nom chăm sóc con chung, chị H không được cản
trở anh T thăm nom chăm sóc con chung.
Kể từ ngày chị H đơn đề nghị thi hành khoản tiền cấp dưỡng, nếu anh
T không thi hành thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo lãi suất chậm trả
tương ứng với thời gian chậm trả theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
3. Án phí:
- Án phí ly hôn: Chị Thị H phải nộp án phí dân ssơ thẩm ly hôn
300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm
ngàn đồng) theo biên lai số AA/2016/ 0002270 ngày 02/6/2020 tại Chi cục thi
hành án dân sự huyện Yên Mô.
- Án phí cấp dưỡng: Anh Đình T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn
đồng) án phí cấp dưỡng theo qui định.
Án xử công khai thẩm, Chị H mặt được quyền kháng cáo bản án
trong thờ hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T vắng mặt quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án
được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
7
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi nh án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Ninh Bình(1)
- VKSND huyện Yên Mô(1)
- VKSND tỉnh Ninh Bình (1)
- Chi cục THADS huyện Yên Mô (1)
- UBND xã Yên Lâm(1)
- Các đương sự (2)
- Lưu HS, VP
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Thị Hoa
8
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Toan Nguyễn Văn Cử Nguyễn Thị Hoa
9
Tải về
Bản án số BA/2020/HNGĐ-ST Bản án số BA/2020/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất