Bản án số 94/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 94/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 94/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 94/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Phụng tranh chấp hợp đồng vay tài sản Lày Quang Dẩu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 94/2024/DS-PT
Ngày: 09-7-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản, tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Huyền – Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Nguyễn Thị Thu Hà
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 5 năm
2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2024/DS-ST ngày 11/4/2024 Tòa án nhân
dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 191/2024/QĐ-PT ngày
03 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 105/2024/QĐ-PT
ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị P, sinh m 1970; trú tại: số C, đường L, thị
trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền:
2
+ Ông Đinh Văn S, sinh năm 1974; trú tại: số E, đường P, tổ A, thị trấn
D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (Văn bản ủy quyền ngày 30/11/2023).
+ Ông Phạm Quốc V, sinh năm 1987; trú tại: Số E, đường P, tổ A, thị trấn
D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (Văn bản ủy quyền ngày 30/11/2023).
- Bị đơn: Vợ chồng ông y Quang D, Lầu Lý A; trú tại: Số E, thôn F,
xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Ngọc T, sinh năm 1981;
trú tại: số G, đường H, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (Văn bản ủy quyền
ngày 23/02/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đoàn Thị T1, sinh năm 1972;
cư trú tại: số C, đường L, tổ I, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Người kháng cáo: Bà Lê Thị P Nguyên đơn.
(Ông S, ông T mặt; các đương sự còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn,
bà P và người đại diện cho bà P là ông Phạm Quốc V trình bày: Do quen biết từ
trước, ngày 08/4/2022 P cho vợ chồng ông Lày Quang D Lầu A
vay số tiền 400.000.000đ, mục đích vay tiền để đáo hạn ngân hàng, thời gian vay
02 ngày. Khi cho vay để đảm bảo việc thanh toán tvợ chồng ông Lày Quang D
và bà Lầu Lý A có viết giấy vay tiền ghi ngày 10/4/2020. Tuy nhiên sau khi vay
tiền thì vợ chồng ông Lày Quang D Lầu A không được ngân hàng cho
vay lại nữa nên ông bà không có tiền đtrả cho bà P. Vì thế ông Lày Quang D
Lầu A tiếp tục viết tay một giấy sang nhượng đất ghi ngày 11/04/2020
chuyển nhượng lại 02 thửa đất C12 và C13, bản đồ số BĐGH T cho bà P. Vợ
chồng ông Lày Quang D và bà Lầu Lý A giao bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số BA 786016 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 786015
do UBND huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 12/01/2010 cho bà P giữ. Mục đích
phải làm giấy viết tay sang nhượng đất cũng chỉ để làm tin, chứ nhà và đất thì vợ
chồng ông Lày Quang D và bà Lầu Lý A vẫn đang ở và quản lý.
Ngày 22/4/2023, Thị P làm đơn khởi kiện, yêu cầu công nhận hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và vợ chồng ông Lày Quang D,
Lầu Lý A lập ngày 11/4/2020, đối với diện tích đất 160,2m
2
tại thửa C13; bản
đồ BĐGH T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, đất đã được cấp giấy chứng nhận số
AB 786016 và diện tích đất 160,2m
2
tại thửa C12; bản đồ BĐGH xã T, huyện D,
3
tỉnh m Đồng; đất đã được cấp giấy chứng nhận số AB 786015 ngày 12/01/2010.
Yêu cầu vchồng ông Lày Quang D, Lầu A nghĩa vụ giao cho
Thị P giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 786016 ngày 12/01/2010 giấy
chứng nhận số AB 786015 ngày 12/01/2010. Đồng thời giao cho bà P các tài sản
gắn liền với hai diện tích tại thửa C12; bản đồ BĐGH T tại thửa C13; bản
đồ BĐGH xã T.
Đến ngày 31/8/2023, P đơn khởi kiện bổ sung, thay đổi yêu cầu, cụ thể
yêu cầu ông Lày Quang D và Lầu A liên đới trả cho P 400.000.000đ tiền
gốc vay chưa trả tiền lãi theo mức 1,66%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày
10/4/2020 đến ngày 31/8/2023 thành tiền lãi 270.026.000đ, trừ đi số tiền lãi đã trả
24.000.000đ, số tiền lãi còn lại 246.026.000đ. Tổng gốc lãi yêu cầu trả
646.026.000đ. Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
P với ông Lày Quang D và bà Lầu Lý A, lập ngày 11/4/2020 đối với diện tích đất
160,2m
2
tại thửa C13 bản đồ BĐGH xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng và diện tích
đất 160,2m
2
tại thửa C12 bản đồ BĐGH T. P đồng ý trả lại cho ông Lày
Quang D Lầu Lý A bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA
786016 do UBND huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày ngày 12/01/2010 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 786015 do UBND huyện D, tỉnh Lâm Đồng
cấp ngày 12/01/2010. Tài liệu chứng cứ giấy vay mượn tiền ghi ngày 10/4/2020,
giấy sang nhượng đất ghi ngày 11/04/2020.
- Bị đơn ông Lày Quang D trình bày: Ngày 11/4/2020, do cần tiền làm thủ
tục đáo hạn ở Ngân hàng A1 chi nhánh D1, đối với 02 thửa đất C12 và C13, bản
đồ số BĐGH xã T nên có vay của bà Đoàn Thị T1, địa chỉ số C L, tổ I, huyện D,
tỉnh Lâm Đồng và bà Lê Thị P 400.000.000đ, khi vay tiền theo yêu cầu của bà P,
thì ông không làm giấy mượn tiền mà phải ghi giấy sang nhượng đất để đảm bảo
cho khoản tiền 400.000.000đ đã vay. Tuy nhiên, sau khi nộp tiền vào thì ngân
hàng không tiếp tục cho vay nữa. Lúc này P mặt tại ngân hàng giữ
luôn 02 giấy chứng nhận số BA 786015 giấy chứng nhận BA 786016 do UBND
huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 12/01/2010 cho Bùi Thị T2 đã điều chỉnh trang
tư ngày 13/01/2018 cho vợ chồng tôi là Lày Quang D và vợ là Lầu Lý A. Sau đó
P cùng thỏa thuận, ông phải chịu đóng tiền lãi theo mức
3.000đ/1.000.000đ/ngày, trên số tiền gốc 400.000.000đ, từ ngày 11/4/2020, tổng
số tiền lãi tôi đã nộp cho P khoảng 30.000.000đ, khi nộp tiền cho bà P ông đưa
tiền mặt, không chứng từ, biên nhận gì cả. Sau đó thấy không thể tiếp tục đóng
tiền lãi theo mức lãi này thì ông P cũng thống nhất, hạ mức lãi 1%/tháng.
Ông D bắt đầu trả lãi cho P theo mức 1%/tháng từ 01/01/2021 đến ngày
4
30/12/2021, tổng số tiền lãi đã nộp 48.000.000đ, toàn bộ số tiền này ông nộp
qua hình thức chuyển khoản cho P qua số tài khoản của Thị P tài
khoản của Đoàn Thị T1. Ông D xác định vay tiền của bà P T1
400.000.000đ vào ngày 11/4/2020. Phần của bà P T1 bao nhiêu thì ông
không biết. Giấy sang nhượng đất ngày 11/4/2020, chỉ là hình thức đảm bảo cho
khoản tiền vay mà thôi. Bản chất đây là hợp đồng vay. Hiện nay gia đình ông vẫn
đang quản nhà đất từ 2017 cho đến nay. Trên hai thửa đất nay 01 căn nhà
xây cấp 4, gia đình ông 06 người vẫn đang ở. Ông D xác định giữa vợ chồng
ông và bà P không có hợp đồng chuyển nhượng đất nào cả nên không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P. Ông D đề nghị bà P cho nợ đến cuối năm sẽ
trả gốc 400.000.000đ và 50.000.000đ tiền lãi. Đề nghị bà P trả lại 02 giấy chứng
nhận số BA 786015 và BA 786016 do UBND huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày
12/01/2010 cho vợ chồng ông.
- Đồng bị đơn bà Lầu Lý A: Không đến tòa làm việc nên không có lời trình
bày, Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng không ghi được lời khai của
Lầu Lý A.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đoàn Thị T1 trình bày: Vào cuối
năm 2021, P nhờ nhận 12.000.000đ từ ông D, sau đó đã chuyển khoản
số tiền này lại cho bà P. Bà xác nhận số tiền 400.000.000đ mà vợ chồng ông Lày
Quang D và bà Lầu Lý A đã vay tiền của bà Thị P, không phần của bà.
Bà không liên quan đến việc vay tiền giữa vợ chồng ông Lày Quang D và Lầu
Lý A và bà Lê Thị P. Vì thế bà đề nghị không đưa bà vào tham gia tố tụng với tư
cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 11/4/2024, Tòa án nhân
dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P.
1.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy sang
nhượng đất, ghi ngày 11/4/2020 giữa bà Lê Thị P và vchồng ông Lày Quang D,
Lầu A) về việc thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đất 160,2m
2
tại thửa
C13 bản đồ BĐGH T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng diện tích đất 160,2 m
2
tại
thửa C12 bản đồ BĐGH xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là vô hiệu.
1.2. Buộc Thị P phải trả lại cho vợ chồng ông Lày Quang D, Lầu
A bản chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BA 786016 do UBND
5
huyện D cấp ngày 12/01/2010 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA
786015 do UBND huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 12/01/2010.
2. Vợ chồng ông Lày Quang D, bà Lầu Lý A có trách nhiệm liên đới trả cho
Thị P số tiền nợ gốc 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) 70.000.000đ
(bảy mươi triệu đồng) tiền lãi. Tổng chung số tiền phải trả là 470.000.000đ (bốn
trăm bảy mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo trách nhiệm thi
hành án của các bên đương sự.
Ngày 20/4/2024 nguyên đơn bà Thị P có đơn kháng cáo một phần bản án
thẩm đề nghị tính lại tiền lãi buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ lãi
123.360.000đ.
Tại phiên tòa hôm nay: Ông S và ông T đã thống nhất được với nhau về việc
giải quyết vụ án. Theo đó, ông Lày Quang D, bà Lầu Lý A trách nhiệm trcho
Thị P số tiền nợ lãi là 110.000.000đ 400.000.000đ nợ gốc, tổng cộng
510.000.000đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong qtrình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Ttụng dân sự. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm các
đương sự đã thống nhất với nhau vviệc giải quyết vụ án. Đề nghị HĐXX căn cứ
khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án thẩm. Công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự: Ông Lày Quang D, bà Lầu Lý A trả cho bà Thị P số
tiền nợ lãi là 110.000.000đ và 400.000.000đ nợ gốc, tổng cộng 510.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan htranh chấp: Nguyên đơn Thị P khởi kiện yêu cầu vợ
chồng ông Lày Quang D, Lầu A trả cho P 400.000.000đ tiền gốc vay
chưa trả và tiền lãi theo mức 1,66%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 10/4/2020
đến ngày 31/8/2023 thành tiền lãi 270.026.000đ, trừ đi số tiền lãi đã trả
24.000.000đ, số tiền lãi còn lại 246.026.000đ. Tổng gốc lãi yêu cầu trả
646.026.000đ; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P với vợ
chồng ông Lày Quang D, Lầu A lập ngày 11/4/2020 đối với diện tích đất
160,2m
2
tại thửa C13 và diện tích đất 160,2m
2
tại thửa C12 bản đồ BĐGH tọa lạc
tại T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
6
của nguyên đơn nên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ
tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay i sản, tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất” đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thống nhất được với nhau về việc
giải quyết vụ án. Theo đó, ông Lày Quang D, bà Lầu Lý A trách nhiệm trcho
Thị P số tiền nợ lãi 110.000.000đ 400.000.000đ nợ gốc, tổng cộng
510.000.000đ. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên đương sự trên cơ sở hoàn toàn
tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội không làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền và lợi và nghĩa vụ liên
quan trong vụ án nên công nhận.
[2] Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Tnhững phân tích trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên
đơn Lê Thị P, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự.
[4] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên P không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Lê Thị P, sa bản án sơ
thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P.
1.1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy sang
nhượng đất, ghi ngày 11/4/2020 giữa bà Lê Thị P và vchồng ông Lày Quang D,
Lầu A) về việc thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đất 160,2m
2
tại thửa
C13 bản đồ BĐGH, T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng diện tích đất 160,2m
2
tại
thửa C12 bản đồ BĐGH xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là vô hiệu.
1.2. Buộc Thị P phải trả lại cho vợ chồng ông Lày Quang D, Lầu
A bản chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BA 786016 do UBND
7
huyện D cấp ngày 12/01/2010 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA
786015 do UBND huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 12/01/2010.
Trường hợp vợ chồng ông Lày Quang D, Lầu A đơn yêu cầu thi
hành án nhưng Thị P không thực hiện nghĩa vụ trả lại bản chính 02 Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì vợ chồng ông y Quang D, Lầu
Lý A quyền liên hệ vớiquan nhà nước có thẩm quyền đề nghị cấp lại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thay thế cho 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nêu trên theo quy định pháp luật.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
Vợ chồng ông Lày Quang D, Lầu Lý A có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị
P số tiền lãi 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), nợ gốc 400.000.000đ (Bốn
trăm triệu đồng). Tổng cộng, tiền gốc lãi 510.000.000đ (Năm trăm mười
triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
3. Về án phí:
- Vợ chồng ông Lày Quang D, Lầu A phải chịu 24.400.000đ (Hai mươi
mươi bốn triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho bà Lê Thị P số tiền 10.300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu số 0014118 ngày 05/7/2023, 14.920.520đ theo Biên lai thu số
0002558 ngày 30/10/2023, 300.000đ theo Biên lai thu số 0002560 ngày
30/10/2023 300.000đ theo Biên lai thu số 0005813 ngày 10/5/2024 đều của
Chi cục thi hành án Dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự tngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành
Án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
8
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng KT-NV & THA (01);
- TAND huyện Di Linh (01);
- Chi cục THADS huyện Di Linh (01);
- Các đương sự (03);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Nguyệt
Tải về
Bản án số 94/2024/DS-PT Bản án số 94/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 94/2024/DS-PT Bản án số 94/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất